Hồi ký trong văn học việt nam giai đoạn từ 1975 đến nay nhìn từ đặc trưng thể loại - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________

TRẦN THỊ HỒNG HOA

HỒI KÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY NHÌN TỪ
ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________

TRẦN THỊ HỒNG HOA

HỒI KÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY NHÌN TỪ
ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số:

62 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC


Trần Thị Hồng Hoa


MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 4
5. Đóng góp mới của luận án ....................................................................... 5
6. Cấu trúc luận án ....................................................................................... 6
Chƣơng 1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................. 7
1.1. Một số vấn đề lí luận về ký ................................................................ 7
1.1.1. Nguồn gốc của ký ............................................................................ 7
1.1.2. Đặc trưng của ký ............................................................................. 8
1.1.3. Phân loại ký .................................................................................. 12
1.2. Quan niệm về hồi ký ........................................................................ 14
1.2.1. Khái niệm về hồi ký ....................................................................... 14
1.2.2. Đặc trưng của hồi ký ..................................................................... 16
1.2.3. Phân loại hồi ký ............................................................................ 21
1.3. Lịch sử nghiên cứu hồi ký tại Việt Nam .......................................... 27
1.3.1. Tình hình nghiên cứu hồi ký trước năm 1975 ............................... 27
1.3.2. Tình hình nghiên cứu hồi ký sau năm 1975 .................................. 30
Chƣơng 2.QUÁ TRÌNH PHỤC HIỆN KÝ ỨC TRONG HỒI KÝ SAU
1975 ............................................................................................................ 37
2.1. Vai trò của ký ức trong hồi ký ............................................................ 37
2.1.1. Ký ức là khởi nguồn, chất liệu của văn học nói chung ................... 38
2.1.2. Ký ức sàng lọc và tạo ra những giới hạn của việc tái hiện sự thật . 40

Chƣơng 4. SỰ GIAO THOA THỂ LOẠI CỦA HỒI KÝ SAU 1975 ....... 122
4.1. Chất trữ tình trong hồi ký ................................................................. 122
4.1.1. Sự trỗi dậy của cái tôi nội cảm giữa cấu trúc hồi ức .................... 123
4.1.2. Sự xuất hiện của thiên nhiên giữa dòng chảy sự kiện ................... 126
4.2. Chất tiểu thuyết trong hồi ký ............................................................ 128
4.2.1. Kết cấu hiện đại ............................................................................. 130
4.2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật có độ dư ........................................ 134
4.2.3. Kỹ thuật tự sự tạo tính đa thanh .................................................... 137
4.3. Một số biến thể của hồi ký................................................................ 140
4.3.1. Hồi ký-tự truyện ............................................................................. 141
4.3.2. Hồi ký- bút ký ................................................................................. 143


4.3.3. Hồi ký ẩn danh tiểu thuyết ............................................................. 144
KẾT LUẬN………………………………………………………………148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............................................................................ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 151

PHỤ LỤC ............................................................................................... 168


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hồi ký xuất hiện tại phương Tây từ thời cổ đại Hy Lạp, ban đầu
mang dáng dấp tiểu sử văn học, ghi lại những sự kiện đáng nhớ của
những nhân vật có sức ảnh hưởng lớn với cộng đồng. Cùng với sự phát
triển của lịch sử, sự thay đổi của các giá trị văn hóa, xã hội, hồi ký ngày
càng trở thành một thể loại hữu dụng để trình bày ký ức, tâm tư của bản
thân, những đánh giá, nhìn nhận của các tầng lớp khác nhau về mọi sự

ngoài, 559 cuốn hồi ký của Việt Nam). Đỉnh cao là năm 2005 có đến 77
cuốn hồi ký được xuất bản. Cho đến thời điểm này, tuy chưa có khảo sát
đầy đủ cho số lượng hồi ký ra mắt độc giả nhưng chúng tôi có thể khẳng
định rằng đã có hàng nghìn đầu sách được công bố trên cả nước nhằm
đáp ứng nhu cầu to lớn của cả người viết và người đọc (chưa kể các tác
phẩm hồi ký được đăng tải trên mạng xã hội và đến với độc giả thế hệ @
theo phương thức đặc thù). Số lượng tác phẩm đồ sộ và có chất lượng
xuất hiện trong thời gian qua đủ để hồi ký tạo nên một cuộc tranh đua hấp
dẫn với các thể loại tự sự truyền thống như tiểu thuyết hay truyện ngắn.
Tuy nhiên, trong khi các thể loại khác nhận được sự quan tâm sâu sắc của
đông đảo nhà phê bình hay các nghiên cứu sinh chuyên ngành văn học thì
hồi ký chưa xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu lớn mang
tính bao quát. Sự xuất hiện rải rác các bài báo về hồi ký qua các giai đoạn
đã cung cấp bức tranh chung về mặt lý luận và thực tiễn sáng tác nhưng
chưa giải quyết được thấu đáo mọi vấn đề của thể loại. Sự chú ý của một
vài luận văn hay luận án dành cho hồi ký bước đầu mang đến cái nhìn hệ
thống, khái quát về sự phát triển của hồi ký nhưng lại chưa làm nổi bật
được những yếu tố cốt lõi của hồi ký. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề,
chúng tôi cho rằng, vẫn còn nhiều khoảng trống cần phải bổ sung để nhận
diện một cách xác đáng những đặc trưng cơ bản của thể loại này.
1.3. Hệ thống thể loại cùng sự vận động và biến đổi của nó là một
phương diện quan trọng bộc lộ quan niệm văn học và đặc điểm tư duy
2


nghệ thuật của mỗi thời đại. “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp
âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to
lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây
trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật
hạng nhì và hạng ba” [10, 28]. Soi vào quan điểm trên, ta nhận thấy việc

- Nhận diện và phân tích các yếu tố làm nên sự khác biệt của một
tác phẩm hồi ký được viết sau năm 1975 so với hồi ký trước năm 1975 và
một số kiểu loại gần gũi như tự truyện, bút ký hay nhật ký...
- Xác lập các đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thể
loại hồi ký sau năm 1975 nhằm tìm ra những điểm ưu trội của thể loại đó
so với các thể loại khác.
- Phân tích một số dạng thức giao thoa thể loại và khuynh hướng
biến thể của hồi ký sau năm 1975.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đặc trưng thể loại của hồi ký trong văn học Việt Nam sau năm
1975 thể hiện qua những tác phẩm tiêu biểu nhất.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tuy hồi ký đã xuất hiện từ những năm 30, 40 của thế kỷ XX nhưng
chúng tôi cho rằng chỉ từ sau năm 1975, hồi ký mới đặc biệt nở rộ cả về
số lượng và chất lượng, trong đó có những hiện tượng sáng tác hết sức lý
thú, mang tính dự báo cho khuynh hướng vận động của thể loại. Vì lý do
này, luận án lựa chọn phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm hồi ký xuất
hiện ở Việt Nam từ sau năm 1975 cho đến nay.
Vì số lượng tác phẩm quá lớn, chúng tôi chỉ tập trung vào những
tác phẩm đã được giới nghiên cứu cũng như độc giả công nhận và đánh
giá cao. Trong số này, luận án ưu tiên phần nhiều cho hồi ký của các nhà
văn vì đây là những sáng tác có sự dung hòa tốt nhất giữa tính nghệ thuật
và tính lịch sử. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng hướng đến những hồi ký tiêu
biểu do các tướng lĩnh cách mạng, các cựu chiến binh, chính trị gia và
4


nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội tham gia sáng tác (hoặc được hỗ
trợ chấp bút).

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: học hỏi từ lý thuyết về thi
pháp của phương Tây, hướng nghiên cứu thi pháp học đã được sử dụng ở
hầu hết các thể loại văn học. Tương tự như vậy, khi nghiên cứu về hồi ký,
luận án cũng vận dụng phương pháp này để nhận diện, phân tích “hệ
thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng
hình tượng nghệ thuật” [51, 304].
- Phương pháp phê bình tiểu sử: chú trọng vào tiểu sử của người
viết để tìm ra cơ sở lý giải cho những quan điểm sáng tác, những hình
tượng nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm. Phương pháp này có nhiều
điểm phù hợp để tìm hiểu một thể tài “đậm tính chủ quan” và mang dấu
ấn cá nhân như hồi ký.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu về hồi ký ở các
mảng đề tài khác nhau, bao gồm cả tác phẩm của những tác giả không
chuyên nhưng đã được giới phê bình và độc giả ghi nhận. Hồi ký được
xem xét như một đối tượng của lý luận văn học với các đặc trưng thể loại
nổi bật, không trộn lẫn với bất kỳ thể ký nào khác cũng như hoàn toàn
phân biệt với những thể loại cũng viết về cái tôi cá nhân. Kết quả luận án
sẽ giúp bổ sung lý luận phê bình về thể loại, cung cấp nguồn tư liệu hữu
ích cho việc giảng dạy các môn Lí luận văn học và Văn học Việt Nam tại
các trường đại học, cao đẳng hiện nay.
6. Cấu trúc luận án
Luận án gồm 5 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận,
các công trình nghiên cứu của tác giả và thư mục tham khảo. Nội dung
chính của luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Quá trình phục hiện ký ức trong hồi ký sau năm 1975
Chương 3: Diễn ngôn về sự thật trong hồi ký sau năm 1975
Chương 4: Sự giao thoa thể loại của hồi ký sau năm 1975
6

7


Pari- Mecsie, Tự thuật- Rousseau, Hồi ức từ bên kia nấm mồChateaubriand… Các nhà văn Nga cũng có nhiều tác phẩm ký xuất sắc
như Hành trình từ Petecbua đến Moskva của Radisev, Những xó xỉnh
Pêtecbua của Nhecrasov, Những người Côdắc vùng Uran của Dan… Tại
Việt Nam, nguồn cội xa xưa của ký là các tác phẩm bi ký, minh ký, tạp
ký, tục biên, liệt truyệt, thực lục… trong văn học trung đại như Công dư
tiệp ký (Vũ Phương Đề), Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Vũ trung tùy
bút (Phạm Đình Hổ)… Tuy lúc đó chưa có ý thức về ký như một thể loại
văn học song trong các lời bạt, tự hay trong các công trình mang tính chất
khảo cứu của thời đại, người ta vẫn có thể tìm thấy quan niệm về ký khá
nhất quán.
1.1.2. Đặc trưng của ký
Trước hết, xét về mặt từ nguyên, các thể ký, lục, chí đều có nghĩa là
“ghi chép”. Chính vì thế, các học giả thời trung đại đều nhấn mạnh đến
chức năng ghi chép như là một nhiệm vụ quan trọng nhất của thể loại
này. Tựa Trung Hưng thực lục, Hồ Sĩ Dương viết: “Sách thực lục được
biên soạn nhằm chép việc, nêu công lao, tỏ rõ chính thống và ghi rõ dòng
dõi vua hiền” [142, 60]. Trong Thượng kinh ký sự, Lê Hữu Trác cũng bày
tỏ: “Nhân việc khi nhàn rỗi, uống rượu, gảy đàn, chép lại đầu đuôi việc
cũ để nhớ lại khiến con cháu ở đời biết tùy duyên, thủ phận, biết tri túc tri
chỉ…” [171, 175]. Mặt khác, các học giả cũng khẳng định, những việc
được ghi chép trong ký, lục, chí là sự thực mắt thấy tai nghe. Trong lời
tựa của Lam Sơn thực lục và Trung Hưng thực lục, Hồ Sĩ Dương nhấn
mạnh hai trước tác của ông “không nói chuyện hoang đường như Lĩnh
Nam chích quái, không chép những điều quái loạn như Việt điện u linh,
chỉ thêm vào bớt đi cho đúng sự thực để rõ chính thống và làm sáng tỏ đế
nghiệp mà thôi” [142, 62]. Tựa Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề viết:
“Phủ bình nhật thích nói chuyện nên khi việc quan rảnh rỗi thường ghi

văn xuôi về những sự kiện và con người có thật trong đời sống với
nguyên tắc tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng
miêu tả” [41,45].
9


Nhìn chung, các tranh luận trong giai đoạn 1945-1986 đều xoay
quanh vấn đề: ký được phép hay không được phép hư cấu? Đây cũng là
giai đoạn xác lập hệ thống lý thuyết về ký. Lần đầu tiên, các thể tài có
chức năng và hình thức ghi chép sự thật như ký sự, phóng sự, bút ký…
được tập hợp trong một thể loại văn học có tên là ký.
Sau năm 1986, sự ra đời của các bộ giáo trình lí luận văn học gắn
với các cơ sở đào tạo sinh viên Ngữ Văn, Báo chí đã tiếp tục xác lập hệ
thống lý thuyết về ký. Lí luận văn học do Trần Đình Sử, La Khắc Hòa,
Phùng Ngọc Kiếm biên soạn đã cho rằng ký là một loại hình văn học
trung gian với những đặc trưng như: ký là sự can dự trực tiếp của nghệ
thuật vào đời sống xã hội, ký có cách xử lý riêng về khoảng cách giữa
thời gian sự kiện và thời gian trần thuật, ký kết hợp linh hoạt các phương
thức tự sự, trữ tình, nghị luận với những thao tác tư duy khoa học, đặc
trưng của ký là trần thuật người thật việc thật nên người trần thuật trong
ký thường xưng tôi, hiện diện với tư cách là nhân chứng, ký có thể hư cấu
trong phạm vi nhất định... Từ điển thuật ngữ văn học nhận định: “Nhưng
khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có quan điểm
thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu. Nhà
văn viết ký luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống
được phản ánh trong tác phẩm. Sự việc và con người trong ký phải xác
thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi” [52, 163].
Tiếp tục giải quyết những tranh luận về vấn đề hư cấu trong ký, tác
giả Hoàng Minh Lường trong Giáo trình lý luận văn học (dành cho sinh
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã có những kiến giải khá thú vị

cũng nhận xét: “Thể truyện đòi hỏi sáng tạo trên cơ sở tổng hợp thực tế.
Thể ký cần tổng hợp thực tế rồi sáng tạo thông qua những điều mắt thấy
tai nghe. Những đặc điểm có tính chất quy định thể loại ấy không hạn chế
sự sáng tạo. Hạn chế hay không chỉ do tư tưởng, vốn sống và sở trường,
tài năng mọi mặt của người viết mà thôi” [63, 22]. Ký, trong bản chất thể
loại, đã luôn dung nạp những sự sáng tạo, hư cấu của chủ thể trần thuật ở
một giới hạn nhất định.
11


Tóm lại, chúng tôi cho rằng ký là một thể loại văn học nằm trong
loại hình văn xuôi tự sự mang những đặc trưng nổi bật như sau:
- Tính chất nổi trội của ký là tính tự sự nhưng bên cạnh đó, tùy
thuộc vào đặc trưng của các tiểu loại/ thể tài, ký hoàn toàn có thể dung
nạp tính chất trữ tình, chính luận. Những yếu tố này chính là những suy
nghĩ, cảm xúc thật của người viết xuất phát từ quá trình tiếp xúc, cảm thụ
những sự kiện có thật nên trong ký luôn có sự kết hợp giữa tính khách
quan và tính chủ quan.
- Khác với nhân vật trong các tác phẩm truyện hay tiểu thuyết
thường là một nhân vật được làm mới hoàn toàn thì nhân vật của ký là do
nhà văn tái tạo theo nguyên hình một con người có thật. Trong ký, sự
trung thực đến mức tối đa với người thật việc thật là một tính tất yếu, một
nguyên tắc. Tuy nhiên, giữa những tư liệu bề bộn của đời sống, người
viết ký luôn phải biết chọn lọc các chi tiết sinh động và tiêu biểu nhất để
tái tạo thành các hình tượng nghệ thuật điển hình. Nhà văn không đưa hết
mọi chi tiết vào tác phẩm nhưng chi tiết nào đã được chọn đưa vào tác
phẩm thì phải đảm bảo độ chính xác cao.
- Phương pháp sáng tạo nghệ thuật và khái quát hiện thực của ký
không phải là “ghép những hiện tượng thuộc nhiều người, nhiều việc vào
một nhân vật, một hoàn cảnh, mà là phương pháp đúc những hiện tượng

sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi”, có màu sắc chính luận; bút ký thể
hiện trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, do đó mang màu sắc
trữ tình, ký sự ghi chép hoàn chỉnh một sự kiện, phong trào, giai đoạn; hồi
ký có đặc trưng là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại
những sự việc trong quá khứ. Tác giả Hà Minh Đức trong công trình Ký
viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đề nghị phân
chia ký thành 3 nhóm cơ bản dựa vào phương thức phản ánh đặc thù, đó
là: ký tự sự, ký trữ tình và ký chính luận. Ký tự sự bao gồm phóng sự, ký
sự, du ký, hồi ký… với đặc tính nổi bật nhất là “tính chất mẫn cảm và
năng động trong việc phản ánh người thật việc thật, phản ánh sự kiện
đang trên dòng vận động” [41, 64]. Ký trữ tình bao gồm hệ thống thể loại
13


tiêu biểu như nhật ký, bút ký, tùy bút…,“tuy vận dụng nhiều yếu tố trữ
tình nhưng cơ sở của những cảm xúc suy nghĩ này vẫn phải dựa vào
người thật việc thật trong đời sống” [41, 65]. Ký chính luận gồm các thể
loại như bút ký chính luận, tạp văn, tiểu phẩm… “kết hợp tư duy hình
tượng và tư duy của hoạt động báo chí chính luận” [41, 65].
Những cách phân loại trên khá hợp lý và tất nhiên mọi sự phân chia
đều chỉ là tương đối. Tuy có sự khác biệt đôi chút về cơ sở, tiêu chí phân
loại nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất về tên gọi và
đặc trưng của các thể loại thuộc ký. Trên cơ sở những lý thuyết khái quát
này, chúng ta có thể vận dụng để phân tích và thẩm định những tác phẩm
hồi ký theo đúng định hướng thể loại.
1.2. Quan niệm về hồi ký
1.2.1. Khái niệm hồi ký
Hồi ký là một trong những thể ký tự sự điển hình, vừa mang đầy đủ
những đặc trưng cơ bản của thể loại, vừa có những nét khu biệt riêng,
không trộn lẫn. Trong tiếng Anh, thể loại này có tên gọi là “memoir”

phản ánh hiện thực. Các nhà nghiên cứu sau này đã đưa ra những định
nghĩa phù hợp hơn, trả lại cho hồi ký vị trí xứng đáng trong hệ thống thể
loại của ký. Theo nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Hồi ký là những trang
ghi chép dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã lùi vào quá khứ. Viết
hồi ký là nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại bằng câu chuyện kể
lại về người thật việc thật ngày hôm qua, do chính người kể chứng kiến
hoặc tham gia vào sự việc. Viết hồi ký không riêng là công việc của hoạt
động văn học. Hồi ký phát triển trên nhiều lĩnh vực của đời sống nhằm kể
lại những hoạt động xã hội thu hút được sự quan tâm của người đọc mà
mọi người chưa có dịp biết đến” [41, 78]. Sách Từ điển văn học định
nghĩa: “Hồi ký còn được gọi là hồi ức (…). Lời văn của hồi ký cốt xác
đáng, trung thực, giàu suy nghĩ và cảm tưởng cá nhân” [60, 319]. Từ điển
thuật ngữ văn học cũng nêu: “hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể
lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự
hoặc chứng kiến” [52, 152].
15


Tóm lại, chúng tôi cho rằng hồi ký là một thể loại dùng góc nhìn
chủ quan của người viết để phản ánh những sự thật khách quan đã xảy ra
trong quá khứ có liên hệ mật thiết đến hiện tại- những sự thật đã được
sàng lọc qua cơ chế lựa chọn của hồi ức. Như vậy, ngay trong sự chọn
lọc, sắp xếp, tái hiện các dữ kiện trong quá khứ, hồi ký đã thể hiện rõ tính
“truyện” trong “ký” một cách linh hoạt và đầy sức hút. Về phạm vi phản
ánh, hồi ký thường viết về những sự kiện đã qua của bản thân tác giả
nhưng cũng có thể tái hiện những biên độ sự thật rộng hơn về bạn bè, thời
đại mà tác giả là người trực tiếp tham gia hoặc tận mắt chứng kiến. Nói
như Đặng Thai Mai “Cuối cùng, hồi ký là gì? Là nhân chứng, là một
chuỗi trí nhớ, là ấn tượng, là tâm sự, là tôi nhưng vẫn là anh, là ngày xưa
nhưng cũng là ngày nay, ngày mai” [107, 17].

kính chủ quan của người viết, hồi ký không chỉ nêu lên sự thực của một
cá nhân mà thông qua những câu chuyện đời muôn hình muôn vẻ, chân
dung những con người khác, chân dung thời đại, chân dung của cả một xã
hội có thể được khắc họa sống động, vừa khách quan lại vừa chân thực,
gần gũi. “Viết hồi ký là một cách tự đánh giá. Đây không phải là một dịp
để người viết tự giới thiệu và đề cao mình trước người đọc” [41, 79]. Rõ
ràng “ai cũng có quyền viết hồi ký. Song, những người sống bên lề xã
hội, ít tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ đấu tranh xã hội, nghèo nàn về vốn
sống và tâm hồn, thường không có đủ tư cách và điều kiện để viết hồi ký”
[41, 78]. Hồi ký không kén người viết nhưng để có những trang hồi ký có
ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng, tác giả của hồi ký ngoài tài năng viết
lách và tâm huyết trải lòng, cần một sự trải nghiệm cũng như lập trường
sống vững vàng và bản lĩnh thép để chịu trách nhiệm trước những sự thật
được công khai và phản ứng đáp trả của dư luận xã hội.
Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhấn mạnh vai trò trung tâm
của cái tôi tác giả trong hồi ký là một hướng nghiên cứu đúng nhưng chưa
đủ. Bởi lẽ, không riêng gì hồi ký, những thể loại như nhật ký, bút ký, ký
sự, tản văn, tùy bút hay tự truyện cũng đều tiếp cận và khám phá hiện
thực từ điểm nhìn của một cái tôi chủ quan và luôn khát khao muốn thể
17


hiện bản thể của mình. Vì thế, muốn làm nổi bật đặc trưng thể loại của
hồi ký, việc phân tích hình tượng cái tôi tác giả cần phải gắn chặt với đặc
điểm của quá trình phục hiện ký ức và sự thể hiện của những diễn ngôn
về sự thật. Bên cạnh đó, trong rất nhiều hồi ký, đặc biệt là dòng hồi ký
cách mạng, nhân vật trung tâm của hồi ký hoàn toàn không trùng khít với
người ghi chép, người kể lại câu chuyện (xuất hiện hiện tượng tác giả
“kép”) nên việc nghiên cứu về “cái tôi tác giả” có lẽ phải chuyển sang đối
tượng là “chủ thể trần thuật” mới bao quát được hết phạm vi tác phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status