MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
1.1.Đặt vấn đề
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đặc biệt vùng cửa sông, ven biển nhiệt
đới, đóng vai trò quan trọng đối với đời sống con người và các loài thủy sinh vật.
Rừng ngập mặn từ lâu đã được coi là tấm lá chắn bảo vệ hệ thông đê điều, hạn chế xói
lở, cố định bãi bồi, chống sóng gió, là nguồn dự trữ sinh quyển và là nơi trú ngụ của
nhiều loài chim di cư, các loài động và thực vật quý hiếm…giữ cân bằng sinh thái ở
vùng ven biển. Đây cũng là môi trường thích hợp cho các hoạt động nuôi trồng thủy
sản, đánh bắt tôm, cá, các thủy hải đặc sản có giá trị khác. Các sản phẩm có giá trị của
thực vật gỗ, tanin, than, giấy, đường rượu, dược liệu cũng được khai thác từ rừng ngập
mặn. Có thể thấy rừng ngập mặn cung cấp rất nhiều nguồn lợi cho con người cả về
thực vật lẫn động vật, đặc biệt là nguồn lợi về thủy sản. Tuy nhiên, các vùng đất ngập
nước ở Việt Nam đang dần bị thu hẹp và biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Vấn đề bảo vệ các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến cuộc
sống tương lai của con người. Một trong những yêu cầu quan trọng để loài người
chúng ta có thể đạt được điều này chính là phải nhận thức được mối liên hệ giữa đất
ngập nước với môi trường và cuộc sống, đồng thời có những hành động tích cực để
sử dụng hợp lý và bảo vệ chúng cho tương lai.
Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ được thành lập năm 2003 trên cơ sở Khu Bảo tồn
Thiên nhiên Xuân Thuỷ và Khu Ramsar Xuân Thuỷ. Đây là khu vực có hệ sinh thái
đất ngập nước điển hình của miền Bắc Việt Nam, là khu Ramsar đầu tiên của đông
Nam Á và cũng là duy nhất của Việt Nam cho đến năm 2005. Ngoài sự đa dạng và
phong phú về các loài thực vật và động vật hoang dã, nơi đây còn là điểm trú chân của
rất nhiều loài chim nước di cư, trong số đó có loài cò mỏ thìa mặt đen là loài chim đã
được ghi vào Sách đỏ của IUCN về các loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hệ sinh
- Tìm hiểu diện tích, hiện trạng, chất lượng rừng ngập mặn tại vườn quốc gia
Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản đến diện
tích, chất lượng rừng ngập mặn, môi trường khu vực vườn quốc gia Xuân Thủy, huyện
Giao Thủy, tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng
ngập mặn
1.4. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực VQG Xuân Thủy
- Hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản khu vực VQG Xuân Thủy
- Diện tích, hiện trạng, chất lượng rừng ngập mặn tại vườn quốc gia Xuân Thủy,
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Các tác động của hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản đến rừng ngập
mặn khu vực vườn quốc gia và nguyên nhân gây ra tác động
- Công tác quản lý rừng ngập mặn tại vườn quốc gia và hiệu quả quản lý .
4
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
Tiến hành kế thừa các tài liệu đã công bố có độ tin cậy cao từ các nguồn trên
internet, từ các cơ quan liên quan. Sau đó chọn lọc và tổng hợp thông tin phục vụ cho
kết quả nghiên cứu. Cụ thể như sau:
• Tham khảo Các dự án về VQG Xuân Thủy do đơn vị Phòng Biển và Hải đảo phối hợp
chủ trì
• Kết quả phân tích hiện trạng môi trường điểm khu vực VQG tại TT Quan trắc thuộc
sở.
• Các văn bản về quản lý, quy chế phối hợp đối với VQG Xuân Thủy.
• Cơ chế quản lý hoạt động thủy sản.
• Hiện trạng khai thác và NTTS khu vực VQG Xuân Thủy
Tổng số người được hỏi: 15 người (mỗi xã vùng đệm 3 người).
-
Phương pháp quan sát thực địa: Quan sát thực địa về hiện trạng rừng, đời sống và tập
tính sinh hoạt của người dân. Hình thức, đối tượng NTTS tại khu
vực nghiên cứu.
1.5.3. Phương pháp xử lý và trình bày thông tin.
-
Phương pháp đánh giá diễn biễn diện tích rừng
-
Số liệu thu thập từ nhiều nguồn được thống kê bằng phần mềm Microsoft Office
Excel.
-
Kết quả được trình bày bằng bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG
1. Điều kiện tự nhiên
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Xuân Thuỷ nằm ở phía đông – Nam huyện Giao Thuỷ,
4 khu là: Bãi Trong, Cồn Ngạn, Cồn Lu và Cồn Xanh.
Bãi Trong: Chạy dài từ cửa Ba Lạt đến hết xã Giao Xuân với chiều dài khoảng
12 km, chiều rộng bình quân khoảng 1.500m. Phía Bắc khu Bãi Trong là đê quốc gia
Ngự Hàn và phía Nam bị sông Vọp giới hạn. Hầu hết diện tích khu Bãi Trong được
chia ngăn thành ô thửa, hình thành các đầm nuôi tôm cua và khai thác hải sản. Diện
tích Bãi Trong khoảng 2.500 ha, trong đó có khoảng 800 ha đất bãi bồi được trồng
rừng ngập mặn.
Cồn Ngạn: Cồn Ngạn nằm giữa sông Vọp và sông Trà với chiều dài khoảng
10km và chiều rộng bình quân khoảng 2.000m. Phần diện tích Cồn Ngạn nằm trong
vùng đệm đã được ngăn thành ô thửa để nuôi trồng thuỷ sản. Phần còn lại thuộc vùng
lõi của Vườn quốc gia Xuân Thuỷ là vùng bị đê Vành Lược và sông Trà giới hạn thì
vẫn còn rừng ngập mặn cùng với một phần đầm tồm (ở giáp cửa sông Ba Lạt). Ngoài
ra, một phần bãi cát pha ở cuối Cồn Ngạn đang được cộng đồng dân địa phương sử
dụng nuôi ngao quảng canh. Tổng diện tích tự nhiên của Cồn Ngạn xấp xỉ 2.000 ha.
Cồn Lu: Nằm gần song song với Cồn Ngạn, có chiều dài khoảng 12.000m và
chiều rộng bình quân khoảng 2.000m. Ở phía đông và đông Nam Cồn Lu còn có cồn
cát cao (1,2m – 2,5m) không bị ngập triều. địa hình của Cồn Lu thấp dần về phía sông
Trà. Từ các cồn cát, diện tích còn lại Cồn Lu là phần đất có nước thuỷ triều lên xuống
tự do với rừng ngập mặn phát triển. Tổng diện tích Cồn Lu xấp xỉ 2.500ha.
Cồn Mờ (Cồn Xanh): Là bãi bồi tiếp giáp với Cồn Lu có độ cao khoảng 0,5 0,9m, diện tích bãi khi triều kiệt khoảng trên 200ha.
Tóm lại địa hình bãi triều VQG phân hoá thành 3 kiểu chính:
- Địa hình dương không ngập triều.
- Địa hình ngập nước thường xuyên.
8
- Địa hình đất ngập nước theo chu kỳ.
1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Đặc điểm khí hậu:
Vùng ven biển Giao Thuỷ nằm trong miền nhiệt đới gió mùa, khí hậu phân
khoảng 10 km và là ranh giới ngăn cách giữa Cồn Ngạn và Cồn Lu.
9
Hạ lưu sông Trà đã được phù sa lấp đầy thành bãi bồi và sông chỉ còn là lạch
khi nước triều xuống thấp. Sông Vọp bắt nguồn từ cửa Ba Lạt chảy ra biển. Tại hạ lưu
sông Vọp kéo dài ra biển là ranh giới phân chia giữa VQG với bên ngoài theo hướng
Bắc và Tây bắc.
Lượng phù sa tại cửa Ba Lạt đạt bình quân khoảng 1,8 gam/lít. đây là lượng
phù sa chính để tiếp tục bồi lắng lãnh thổ VQG. Ngoài sông Trà, sông Vọp, còn có
một lạch triều ngắn chia Cồn Lu và Cồn Xanh. Lạch triều này cũng chảy từ cửa Ba Lạt
ra biển.
1.1.4. Địa chất, thổ nhưỡng
Đất đai toàn vùng cửa sông Hồng nói chung được thành tạo từ nguồn sa bồi
(phù sa bồi lắng) của toàn bộ hệ thống sông Hồng. Vật chất bồi lắng bao gồm 2 loại
hình chủ yếu: bùn phù sa và cát lắng đọng với những loại hình:
- Đất nhẹ, cát pha và thịt nhẹ, phần nhỏ cát thuần.
- Đất trung bình, thịt trung bình.
- Đất nặng từ thịt nặng đến đất sét (sét cố kết).
Bảng 1.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 khu vực VQG Xuân Thủy
Nguồn: Phòng TNMT huyện Giao Thủy
10
Lượng phù sa ở cửa Ba Lạt là cơ sở hình thành những cồn đất bồi lắng kéo dài
theo hướng Tây nam (lưỡi đất cửa sông). Độ pH của lớp đất khá ổn định (thịt - thịt
nặng từ 7,2 - 7,6) và mức độ nhiễm mặn với mật độ NH biến động từ 17,2-20 miligam
trong 100 gram đất khô lấy mẫu.
%
Số lượng
%
5
8,3
6
4,1
8
4,1
55
91,6
139
95,9
184
95,8
100
192
100
Nguồn: Phan Nguyên Hồng và cộng sự
Lớp Hai lá mầm có số loài, chi và họ nhiều nhất, 135 loài (chiếm 70,3% tổng số
loài) thuộc 47 họ. Ngành Dương xỉ có số loài chiếm tỷ lệ ít nhất, 8 loài (4,1%) thuộc 6
chi của 5 họ. Các loài thuộc lớp Một lá mầm mặc dù chỉ có 49 loài (chiếm 25%) thuộc
8 họ. Tuy nhiên, chúng là những loài có số lượng cá thể lớn trong các bãi cỏ.
Ở những nơi đất đã bồi cao nhưng vẫn ngập triều trung bình có bùn sâu thì Trang
(Kandelia obovata) vẫn chiếm tỷ lệ cao, sau đó là Sú (Aegiceras corniculatum) mọc xen,
có chiều cao bằng trang. Lác đác có một ít đâng (Rhizophora stylosa) và Vẹt (Bruguiera
gymnorrhiza) có tán dày và màu thẫm hơn. Xen lẫn với các loài trên là Mắm biển
(Avicennia marina) có lá nhỏ màu lục nhạt, thân không thẳng nhưng vươn cao hơn các
loài khác. Tuy nhiên số lượng không lớn và thường tập trung thành những khóm nhỏ.
Bốn loài sau đều là những loài tái sinh tự nhiên sau khi rừng Trang được bảo vệ.
Cũng tại Vườn Quốc gia, do phù sa cửa sông Ba Lạt bồi đắp hàng ngày nên
Bần chua (Sonneratia caseolaris) tái sinh nhanh và chiếm lĩnh các mép sông tạo ra
những viền có mật độ khác nhau. Dưới tán Bần là Ô rô (Acanthus illicifolius) mọc
thành khóm đôi khi lẫn vài cây Ô rô trắng (A.ebracteatus). Qua khảo sát thì thấy ở
Vườn Quốc gia dây Cốc kèn (Darris trifoliate) phát triển mạnh hơn các nơi khác,
chúng bao phủ từng đám trên tán các loài cây gỗ khác.
Một số loài mọc trong Vườn Quốc gia Xuân Thủy và vùng đệm đến từ miền
Nam Việt Nam và Myanmar như Dừa nước (Nypa fruticans), Cóc (Lumnitzera
littorea), Vẹt tách (Bruguiera parviflora), Vẹt đen (B. sexangula), Bần trắng
sách ðỏ Việt Nam
sách ðỏ thế giới
9
5
4
1
10
Chim
215
41
13
5
11
Bò sát
18
-
ðộng vật đáy
138
39
4
-
-
Tổng
497
141
36
11
11
Ghi chú: SđVN: Sách đỏ Việt Nam. SđTG: Sách đỏ thế giới
Nguồn: Kế hoạch quản lý VQG Xuân Thủy, năm 2008.
- Khu hệ thú
Thành phần nghèo, chủ yếu là loài gặm nhấm. đã thống kê được 9 loài và 2
EN
NT
3
Eurynorhynchus pygmeus
Choắt mỏ thìa
VU
4
Vanellus cinereus
Te vàng
NT
5
Larussaundersi
Mòng bể mỏ ngắn
VU
6
Egretta eulophotes
R
10
Mycteria leucocephala
Cò lạo ấn độ
NT
R
11
Terpsiphone atrocaudata
Thiên đường đuôi đen
NT
R
R
Nguồn: Kế hoạch quản lý VQG Xuân Thủy, năm 2008.
Trong 215 loài đã ghi nhận có 11 loài chim đang ở trong tình trạng bị đe doạ và
sắp bị đe doạ (theo phân loại của IUCN) bao gồm Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer),
Choắt chân màng lớn (Limnodromus semipalmatus), Choắt mỏ thìa
(Eurynorhynchuspygmeus), Mòng bể mỏ ngắn (Laus saundersi), Cò trắng Trung Quốc
Nguồn thu nhập của người dân trong khu vực vẫn dựa vào 6 ngành nghề chủ
yếu: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản (đánh bắt, thu hoạch và nuôi trồng), công nghiệp
(sản xuất muối), dịch vụ và du lịch. Nhưng nông-lâm-ngư nghiệp là những hoạt động
sản xuất chính, chiếm từ 53-54% trong tổng giá trị sản xuất, trong đó thủy sản chiếm
tỷ trọng từ 21-29%.
Dễ nhận thấy rằng, các hoạt động kinh tế có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng
đất. Đê quốc gia ở vùng này đã trở thành yếu tố quan trọng, phân chia đất của các xã
vùng đệm ra làm hai vùng chính: phía trong và phía ngoài đê.
Đất trong đê chịu tác động mạnh của con người như việc xây dựng các công
trình thủy lợi và phương thức sản xuất. Sản xuất nông nghiệp ở khu vực này đóng vai
trò chính trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng và đây là cơ sở duy trì
các cộng đồng dân cư qua nhiều thế hệ.
Đất bãi bồi ngoài đê còn mang nhiều nét hoang sơ, là nơi phát triển của thảm
thực vật ngập mặn. Chức năng chính của vùng này là phòng hộ và hỗ trợ cho đời sống
người dân địa phương thông qua khai thác và nuôi trồng thủy sản. Đây cũng là địa bàn
mở rộng quỹ đất nhờ bồi đắp hàng năm của các dòng sông. Hiện nay, trong chuyển
dịch kinh tế, hoạt động liên quan đến kinh tế biển của khu vực này được coi là một
trong những mũi nhọn tạo nên bước đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa
phương.
Chính quyền địa phương đã đầu tư và cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức như
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD) đang giúp cộng
đồng địa phương tạo ra sinh kế phù hợp cho người dân vùng đệm, qua đó làm giảm áp
lực lên Vườn Quốc gia. Du lịch sinh thái là một trong những hoạt động kinh tế mới
được hình thành ở khu vực Vườn Quốc gia và có nhiều tiềm năng phát triển.
1.2.2.
Xã hội
gíao dục cộng đồng, đây là một hoạt động hỗ trợ rất tốt cho việc nâng cao nhận thức
của dân chúng.
Y tế : Trong vùng đệm mỗi xã đều có một trạm y tế và có từ 3-7 cán bộ y tế.
Nhìn chung cơ sở vật chất, trang thiết bị khám và chữa bệnh của các trạm xá còn nhiều
khó khăn.
Thuỷ lợi: Các xã vùng đệm đều đã xây dựng một số công trình thuỷ lợi như hệ
thống cống I và II nhằm đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, chủ yếu là cho diện tích lúa nước
trên địa bàn. Các công trình thủy lợi được xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước
hoặc vốn hỗ trợ quốc tế thông qua các dự án phát triển nông thôn như: định canh định
cư, vốn của tỉnh, huyện và đóng góp của bà con bằng ngày công lao động để đào - đắp,
nạo vét kênh mương.
Giao thông vận tải: Giao thông ở vùng đệm của VQG Xuân Thủy khá thuận
tiện. Ở tất cả các xã đều có đường nhựa liên xã với tổng chiều dài hơn 170km, đặc biệt
như xã Giao Xuân, Giao An. Hệ thống liên thôn ở các xã đang được bê tông hóa.
1.3. Hiện trạng khai thác và NTTS huyện Giao Thủy
1.3.1. Hiện trạng khai thác thủy sản huyện Giao Thủy
Khai thác ven bờ: Đây vẫn là một biện pháp thiết yếu của huyện trong việc phát
triển ngành khai thác thủy sản, với các ngư trường ổn định, tổ chức gọn nhẹ theo nhóm
hộ gia đình. Các nghề lưới tôm, cá, rê, câu truyền thống, vẫn đạt hiệu quả cao. Tuy vậy
khai thác ven bờ mật độ cao, tuy sản lượng hải thản thu khá, song các phương tiện
đánh bắt đều sử dụng điện, mắt lưới đầy sẽ làm cạn kiệt và hủy diệt nguồn lợi thủy sản
ven bờ, đe dọa sản xuất nuôi trồng các bãi triều.
Khai thác thủ công: Tập trung chủ yếu ở các cùng bãi triều. Hải sản khai thác
khá đa dạng, tận dụng được nguồn tài nguyên thủy sản cùng triều như nhuyễn thể hai
mảnh vỏ, các loại cua, cá, phục vụ đời sống nhân dân địa phương, cung cấp giống cho
các chủ đầm, chủ vây nuôi trồng thủy sản. nghề khai thác thủ công tuy không hủy diệt
moi trường song cũng là đối tượng khai thác cạn kiệt nguồn lợi thủy sản vì lực lượng
khai thác rất nhiều người, khai thác liên tục, sản phẩm của họ rất đa dạng, không kể
đến to nhỏ thậm chí còn có các hải sản mới sinh
6 tháng đầu năm 2014, sản lượng khai thác thủy, hải sản của toàn tỉnh ước đạt
tiết, khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa, các đầm nuôi trồng thủy sản vùng ven biển của
huyện nhiều năm bị tổn thất lớn do bão, gió. Mùa mưa, nước trong đầm bị ngọt hoá,
nắng nóng, rét lạnh cũng ảnh hưởng tới kết quả nuôi trồng thuỷ sản.
- Diện tích và cơ cấu diện tích nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi trồng thủy sản
vùng ven biển tăng nhanh từ 2.945 ha năm 2008 lên 3.132 ha năm 2010, bình quân
tăng 3,1%/năm. Trong diện tích NTTS thì diện tích nuôi tôm chiếm tỷ trọng cao nhưng
đang có xu hướng giảm (từ 81,2% năm 2006 xuống còn 76,3% năm 2010), nguyên
nhân là do nuôi tôm những năm gần đây môi trường nguồn nước, chất lượng con
giống không tốt lên hiệu quả thấp, rủi ro lớn, nhiều hộ nuôi trồng bị thua lỗ, chuyển
sang nuôi các đối tượng khác, trong đó vùng hạ triều nhân dân thường nuôi ghép tôm
sú, cua và rong câu với hình thức nuôi quảng canh và QCCT.
Bảng 1.5. Diện tích và cơ cấu diện tích thuỷ sản nuôi trồng
vùng ven biển huyện Giao Thuỷ giai đoạn 2008 - 2010
Chỉ tiêu
ĐVT
2008
2007
2010
1. Tổng diện tích
ha
2.945
2.395
2.390
100,1
99,8
100,0
315
362
435
114,9
120,2
117,5
ha
238
278
307
10,7
11,9
13,9
- Nuôi khác
%
8,1
9,2
9,8
Nguồn: Phòng TNMT huyện Giao Thủy
Diện tích nuôi cá có xu hướng tăng dần, năm 2008 là 315 ha, đến năm 2010
tăng lên là 435 ha tốc độ tăng BQ 17,5%/năm, tỷ trọng nuôi cá từ 10,7% năm 2008 lên
13,9% năm 2010. Diện tích nuôi các đối tượng khác cũng có xu hướng tăng năm 2008
là 238 ha, đến năm 2010 là 307 ha tốc độ tăng 13,6%/năm, tỷ trọng nuôi tăng từ 8,1%
năm 2008 lên 9,8% năm 2010.
- Sản lượng và cơ cấu sản lượng
Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2008 là 2.153 tấn, năm 2010 đạt 2.470 tấn,
tốc độ tăng bình quân là 7,1%/năm. Năm 2010, trong tổng số các sản phẩm nuôi trồng,
sản lượng cá chiếm 43,7%, tôm 32,2% và nuôi các đối tượng khác 24,1%, ta có thể
thấy cơ cấu đối tượng con nuôi đã có sự thay đổi nhỏ trong những năm vừa qua, năm
2008 tỷ trọng nuôi tôm là 33,0% thì năm 2010 là 32,2%, tỷ trọng nuôi cá tương ứng là
42,9% và 43,7%.
tấn
710
754
795
106,2 105,4 105,8
- Nuôi cá
tấn
923
1.025
1.080
111,1 105,4 108,2
- Nuôi khác
tấn
520
552
44,0
43,7
- Nuôi khác
%
24,2
23,7
24,1
09/08 10/09
BQ
Nguôn: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Giao Thuỷ
Diện tích và sản lượng tôm nuôi có xu hướng tăng nhẹ, diện tích và sản lượng
cá nuôi tăng nhanh. Do những năm trước đây nghề nuôi tôm đem lại lợi nhuận lớn cho
người nuôi, người dân đã khai thác các diện tích có thể nuôi trồng đưa vào sử dụng.
Nhưng những năm gần đây do phát triển nuôi tôm tràn lan không kiểm soát được chất
lượng con giống, môi trường vùng nuôi ô nhiễm, dịch bệnh sảy ra nhiều, nên những
vùng đất mới chuyển đổi
người dân thường chọn đối tượng nuôi chính là các loại cua, cá bớp, cá song, cá
hồng Mỹ,... để hạn chế dịch bệnh, rủi ro cho người sản xuất.
Bảng 1.7. Giá trị, cơ cấu giá trị sản xuất thuỷ sản nuôi trồng
cấu
(tỷ
cấu
(tỷ
cấu
đồng)
(%)
đồng)
(%)
đồng)
(%)
1. GTSX (giá
94)
- Nuôi tôm
72,4
100
10,3
12,6
- Nuôi khác
14,1
19,5
15,1
19,5
16,2
19,8 107,1 107,3 107,2
2. GTSX (giá
HH)tôm
- Nuôi
94,5
100
133,4
100
- Nuôi khác
15,8
16,7
32,0
24
50,6
27,7
106,8 106,0 106,4
110,2 106,2 108,2
Nguồn: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Giao Thuỷ
Giá trị sản xuất năm 2008 là 74,5 tỷ đồng, năm 2010 là 183,0 tỷ đồng tốc độ
tăng BQ 6,4%/năm. Trong đó tôm vẫn là đối tượng có giá trị sản xuất lớn nhất, chiếm
tỷ trọng chủ yếu so với các loài thuỷ sản nuôi khác nhưng đang có xu hướng tăng
chậm, cá đang là đối tượng được nhiều hộ nuôi trồng quan tâm do cá nuôi ít bị dịch
bệnh, tuy giá trị sản xuất không cao như nuôi tôm nhưng an toàn hơn, giá trị sản xuất
cá nuôi năm 2008 là 12,5 tỷ đồng, năm 2010 tăng lên là 32,9 tỷ đồng, tốc độ tăng bình
quân là 8,2%/năm, chiếm tỷ trọng 18%, còn lại là các đối tượng nuôi khác như cua,
rong câu và một số đối tượng khác. Cơ cấu các đối tượng nuôi: Tôm nuôi có xu hướng
giảm từ 70,1% năm 2008 đến năm 2010 là 54,4 % (trong đó cơ cấu sản lượng tôm
nuôi là 32,2%), nuôi cá và các đối tượng khác xu hướng tăng (năm 2008 nuôi cá chiếm
như không còn phát triển, chỉ còn một số công ty sản xuất giống thuỷ sản do tư nhân
đứng nên thành lập. Mô hình doanh nghiệp nhà nước sản xuất như Nông trường quốc
doanh Bạch Long hiện nay cũng cho các hộ dân đấu thầu đất để nuôi trồng theo hình
thức tổ chức hộ sản xuất. Năm 2004 có Công ty Đại Dương thuê đất để đầu tư NTTS
công nghiệp với quy trình công nghệ cao nhưng do nguồn nước không đảm bảo tôm
nuôi dịch bệnh chết dẫn tới thua lỗ công ty đã giải tán và cho các hộ dân thuê lại để
sản xuất với hình thức nuôi BTC.
Hộ nuôi trồng thuỷ sản vùng ven biển của huyện trong những năm qua không
có sự biến động lớn là do hoạt động nuôi trồng của vùng ven biển đã đi vào ổn định.
Tuy nhiên khi nghiên cứu mô hình nuôi trồng hộ gia đình còn cho thấy nhiều hạn chế
như: Hộ gia đình là những chủ thể NTTS chủ yếu vùng ven biển và thường nuôi vói
mức độ thâm canh thấp như nuôi quảng canh, QCCT và BTC. Đối với vùng hạ triều
do thiếu vốn đầu tư nên các hộ không có điều kiện cải tạo hệ thống thủy lợi, cải tạo ao
đầm nên các hộ nuôi chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng bãi bồi để mở rộng
và phát triển sản xuất với hình thức nuôi trồng quảng canh và QCCT. Việc khai thác
bãi bồi một cách nhanh chóng, ồ ạt không theo quy hoạch đã nảy sinh ra những bất cập
như làm cản trở dòng chảy, gây ô nhiễm môi trường vùng nuôi.
Bảng 1.8. Tình hình nuôi trồng thuỷ sản của các hộ vùng ven biển huyện Giao
Thuỷ giai đoạn 2008 – 2010
Nguồn: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Giao Thuỷ
So sánh (%)
Chỉ tiêu
ĐVT
2008
95,5
107,98 103,80 105,89
2. Vốn kinh doanh tr. đồng
09/08
10/09
BQ
3. Diện tích
ha
1,37
1,35
1,48
98,54 109,63 104,08
4. Năng suất (tôm)
tấn/ha
0,85
* Số hộ nuôi có lãi
hộ
1518,0 1416,0 1355,0 93,28
* Số hộ nuôi bị lỗ
hộ
135,0
243,0
95,69
94,49
321,0 180,00 132,10 156,05
Quy mô NTTS của hộ gia đình còn nhỏ bé, lượng vốn đầu tư ít, việc nuôi trồng
vẫn dựa vào việc khai thác nguồn lợi tự nhiên là chính. Mặt khác, phát triển NTTS
theo mô hình hộ gia đình còn nhiều rủi ro do sản xuất phân tán, nhỏ lẻ, ý thức họp tác
trong sản xuất thấp, dễ gây lây lan dịch bệnh, trình độ nuôi trồng thấp, thiếu kiến thức,
thiếu khoa học kỹ thuật gây ra tình trạng sản xuất kém hiệu quả dẫn tới thua lỗ, nợ nần
gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển bền vững của vùng nuôi.
Trang trại NTTS những năm trước đây phát triển nhanh và là mô hình phát triển
phù họp với tình hình thực tế của địa phương, được hình thành và phát triển chủ yếu
theo mô hình trang trại gia đình.
triệu đồng
525,6 562,2 585,2 106,96 104,09 105,53
- Vốn cố định
triệu đồng
320,2 351,4 369,8 109,74 105,24 107,49
- Vốn lưu động
triệu đồng
205,4 210,8 215,4 102,63 102,18 102,41
Tr.đó: Vay ngân hàng
triệu đồng 121,5 138,5 146,9 113,99 106,06 110,03
3. Diện tích
ha
3,5
3,75
3,25 107,14 86,67
8. Lợi nhuận
triệu đồng
26,0
4. Năng suất (tôm)
9. Tỷ suất lợi nhuận
%
41,2
96,90
118,01 134,21 126,11
58,3 160,94 141,50 151,22
16,43 21,14 21,93
Nguồn: Phòng NN & PTNT huyện Giao Thủy
Năm 2008 toàn huyện có 262 trang trại, trong đó vùng ven biển là 202 trang
trại, năm 2009, 2010 số lượng trang trại tăng không lớn do nuôi trồng thủy sản đã đi
vào ổn định. Trang trại được hình thành chủ yếu ở những vùng có điều kiện phát triển
thành vùng nuôi chuyên canh. Mô hình này đã tạo nên sự thay đổi căn bản tập quán
canh tác nuôi trồng, đồng thời góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa
phương. Các trang trại tuy có quy mô chưa lớn,
nhỏ lẻ phân tán và chưa trở thành hình thức phổ biến.
Hình thức nuôi luân canh gối vụ được phát triển mạnh trong những năm trước
đây. Tuy nhiên, quy mô diện tích nuôi ở mức độ vừa phải, mức đầu tư và lợi nhuận
không cao nên không được khuyến khích phát triển trên diện rộng.
Hình thức nuôi chuyên canh được nuôi chủ yếu hiện nay và đối tượng nuôi
chuyên canh chủ yếu là tôm sú. Nuôi chuyên canh với các hình thức nuôi và trình độ
khác nhau đã có sự chuyển biến nhanh chóng từ các hình thức nuôi đơn giản như nuôi
quảng canh và quảng canh cải tiến có xu hướng giảm dần và tốc độ tăng chậm lại và
tăng dần tỷ trọng diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh. Đây là hướng chuyển
dịch tích cực nhằm sử dụng có hiệu quả, bền vững các nguồn lực, góp phần thúc đẩy
sản xuất hàng hoá thuỷ sản tập trung với các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đồng thòi
sử dụng hiệu quả các nguồn lực của vùng như đất đai, lao động, vốn đầu tư,...
Tuy nhiên, để phát triển bền vững ngành nuôi hồng thủy sản, bảo vệ hệ sinh thái
môi trường rất nhạy cảm của vùng ven biển, bảo vệ rừng ngập mặn của Vườn Quốc