1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tất cả những gì đang diễn ra ở Trung Quốc được cả thế giới theo dõi
chặt chẽ khiến không ai khỏi ngạc nhiên. Trong 30 năm từ năm 1979, GDP
của Trung Quốc đã tăng 15 lần, sản xuất công nghiệp tăng hơn 20 lần; kim
ngạch thương mại tăng hơn 100 lần; hoàn thành công nghiệp hóa và tạo ra
một cơ sở vững chắc để giải quyết các nhiệm vụ do Đại hội lần thứ XVII
Đảng Cộng sản Trung Quốc (2007) đề ra, biến Trung Quốc từ một “công
xưởng của thế giới” thành một “nhà máy của tri thức”.
Vậy con đường phát triển của Trung Quốc là gì? Để trả lời câu hỏi này,
chúng ta phải làm rõ các yếu tố trong hiện tượng thành công của Trung Quốc.
Thứ nhất, đó là chiến lược phát triển đất nước trong khoảng thời gian 50 - 100
năm. Thứ hai, đó là mô hình cải cách kinh tế - xã hội. Và thứ ba, là chủ đề của
cải cách. Và tất cả những chiến lược này đều nằm dưới sự cầm quyền, lãnh
đạo duy nhất – Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mặc dù đã từng mắc phải nhiều
sai lầm nhưng kể từ khi đẩy mạnh các cuộc cải cách, Đảng Cộng sản Trung
Quốc thay đổi dần ban lãnh đạo, nhiều chủ trưởng đường lối mới ra đời ảnh
hưởng mạnh mẽ tới quá trình cải cách, tạo ra cho đất nước Trung Quốc một
sức mạnh nội lực thần kỳ.
Tháng 9 năm 1997, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XV Đảng Cộng sản
Trung Quốc họp. Không còn sự có mặt và chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, nhưng
Đại hội này đã họp với chủ đề "Giương cao ngọn cờ vĩ đại của lý luận Đặng
Tiểu Bình, thúc đẩy toàn diện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu
sắc Trung Quốc tiến vào thế kỉ XXI. Đại hội XV được gọi là Đại hội "xuyên
thế kỷ, tiếp nối bước trước, mở đường tương lai, đảm bảo cho toàn Đảng kế
thừa ý chí của đồng chí Đặng Tiểu Bình, kiên định tiến bước thăng lợi theo
đường lối đúng đắn từ hội nghị TW khóa 3 khóa XI (tháng 12 năm 1978)".
Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI” do PGS.TS Lương Việt Hải (chủ
biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008. Nội dung của cuốn sách đề cập
3
đến những vấn đề lý luận quan trọng trong xây dựng CNXH ở Trung Quốc và
Việt Nam, đó là vấn đề sở hữu và vấn đề phát triển bền vững, trong đó nhiều
vấn đề của CNXH mang đặc sắc Trung Quốc đã được đề cập đến, như lý luận
về kinh tế thị trường XHCN, vấn đề xây dựng xã hội hài hòa, quan điểm phát
triển khoa học
- Cuốn “Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn - những bài học kinh
nghiệm chủ yếu” - Lê Hữu Tầng (chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2003. Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ hơn lý
luận về CNXH, về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, cũng như những
vấn đề lý luận đang đặt ra trong thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện
nay. Đặc biệt, cuốn sách đã dành toàn bộ phần thứ hai
- “Thực tiễn hiện thực hóa lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội” để trình bày sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin ở Liên Xô, ở các nước Đông
Âu và Trung Quốc trong khoảng thời gian gần một thế kỷ.
- Gần đây nhất, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, thuộc Viện Khoa học xã
hội Việt Nam đã cho xuất bản cuốn “Vấn đề xây dựng xã hội hài hòa xã hội
chủ nghĩa của Trung Quốc” do TS. Hoàng Thế Anh (chủ biên), NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2009. Cuốn sách đã đề cập một cách khá toàn diện về
các nội dung của xã hội hài hòa của Trung Quốc. Trên cơ sở nghiên cứu các
quan điểm đồng thuận và không đồng thuận của các học giả Việt Nam và thế
giới đối với xã hội hài hòa, cuốn sách cũng đưa ra những đánh giá ban đầu về
việc xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc, về những khó khăn và thuận lợi
của Trung Quốc khi tiến hành xây dựng xã hội hài hòa.
Các công trình nghiên cứu trên là kết quả của tinh thần nghiên cứu khoa
học nghiêm túc và thực sự cầu thị của các học giả trong và ngoài nước đây
được coi là nguồn tài liệu phong phú cho tác giả trong quá trình nghiên cứu.
Đề tài cũng cấp tư liệu tham khảo cho người nghiên cứu chính trị nói
chung và cho những sinh viên chuyên ngành Chính trị học nói riêng.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Tiểu luận sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử,
đồng thời sử dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng
Cộng sản Trung Quốc về đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền.
5
- Phươg pháp nghiên cứu chung: Vì giới hạn nghiên cứu là những sự
kiện, quá trình diễn ra trong quá khứ - hiện tại – tương lại nên tác giả sử dụng
phương pháp nghiên cứu như: phương pháp logic - lịch sử. Trong quá trình
triển khai tác giả cũng coi trọng sử dụng một cách hợp lý các phương pháp;
phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa…
- Phương pháp cụ thể: Sử dụng phương pháp thu thập, nghiên cứu và
phân tích tài liệu, sắp xếp và tóm tắt tài liệu…Ngoài ra, tác giả còn tiến hành
trao đổi, thảo luận với các thầy cô và các học viên cùng lớp để củng cố, bổ
sung thêm những trí thức quý báu cho việc hoàn thiện tiểu luận của mình.
7. Kết cấu nội dung tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, tiểu luận có kết cấu gồm 3 chương 8 tiết
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đảng cầm quyền
1.1. Khái niệm đảng cầm quyền
1.2. Khái quát chung về quá trình cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung
Quốc
Chương 2: Bối cảnh ra đời và nội dung đường lối cải cách, mở cửa của
Đảng cộng sản Trung Quốc qua Đại hội XV
2.1. Bối cảnh ra đời đường lối cải cách mở cửa
2.2. Nội dung đường lối cải cách thể chế kinh tế và thể chế chính trị
đạo Libya, Muammar al-Gaddafi đả kích cái khả năng của đảng cầm quyền,
lấy đó làm cái cớ căn bản cho việc ông chống đối nền chính trị đảng phái.
7
Đảng cầm quyền bao giờ cũng giữ vai trò lãnh đạo, chi phối toàn bộ hệ
thống chính trị, đặc biệt và trực tiếp nhất là nhà nước; bằng nhà nước và thông
qua nhà nước để thực hiện mục tiêu, chiến lược của mình. Giành, giữ và thực
thi quyền lực nhà nước là một hoạt động cơ bản của các đảng chính trị. Tùy
theo điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của từng nước cũng như mục
tiêu theo đuổi mà mỗi đảng cầm quyền có những phương thức tổ chức và hoạt
động khác nhau, song đều nhằm tới một hướng đích là giành, thực thi và chi
phối quyền lực nhà nước, từ đó chi phối và thực thi quyền lực của đảng mình
đối với các đảng khác và với toàn xã hội.
Các đảng chính trị khi đã cầm quyền đều tuân theo những nguyên tắc
chung là lãnh đạo, chi phối, sử dụng quyền lực nhà nước, sử dụng sức mạnh,
các phương tiện vật chất đã được thiết chế hóa của nhà nước để thực hiện mục
tiêu của đảng mình, của giai cấp mình. Song, mỗi đảng chính trị khác nhau
đều có những phương thức lãnh đạo và cách thức tổ chức thực hiện khác nhau
tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng, tương quan lực lượng trong hệ thống
chính trị, tùy thuộc vào điều kiện khách quan của tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội của đất nước và cả nhân tố chủ quan của chính đảng cầm quyền. Vì
thế, đảng cầm quyền là vấn đề quan trọng của hệ thống chính trị của tất cả các
quốc gia.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất sớm về Đảng cầm
quyền, tuy nhiên, không nêu rõ khái niệm Đảng cầm quyền là như thế nào, và
hầu như chỉ có một lần trong Di chúc, Người mới nói rõ “Đảng ta là một
Đảng cầm quyền”; nhưng qua những bài viết, bài nói, Người cho rằng “Đảng
cầm quyền” là một khái niệm khác với “Đảng lãnh đạo”, Đảng cầm quyền là
quyền, ngoài cách thức tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân, Đảng
lãnh đạo chính quyền (Nhà nước) thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch… và tổ chức nhân dân
thực hiện.
Thực chất của Đảng cầm quyền là: Đảng lãnh đạo chính quyền và
thông qua chính quyền để nhân dân làm chủ Nhà nước, làm chủ xã hội. Trong
điều kiện Đảng đã có chính quyền, V.I.Lênin đã cảnh báo các nguy cơ: sai lầm
9
về đường lối, quan liêu, xa rời quần chúng và kiêu ngạo cộng sản. Ngay sau
khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã cảnh báo nguy cơ
sai lầm về đường lối và suy thoái của cán bộ, đảng viên. Người yêu cầu cần
phải chiến thắng ba thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu; nếu
không sẽ làm đổ vỡ cả sự nghiệp của một Đảng cầm quyền.
1.2. Khái quát chung về quá trình cầm quyền của Đảng Cộng sản
Trung Quốc
Đảng cộng sản Trung Quốc là đội tiền phong của gia cấp công nhân
Trung Quốc , đồng thời là đội tiền phong của nhân dân Trung Quốc và dân tộc
Trung Hoa , là nòng cốt lãnh đạo sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc
Trung Quốc , đại diện yêu nhu cầu phát triển sức sản xuất tiên tiến của Trung
Quốc , đại diện phương hướng phát triển văn hóa tiên tiến của Trung Quốc ,
đại diện lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân ở Trung Quốc.
Lý tưởng tối cao và mục tiêu cuối cùng của Đảng cộng sản Trung Quốc
là thực hiện chủ nghĩa cộng sản . Điều lệ Đảng quy định : Đảng cộng sản
Trung Quốc lấy chủ nghĩa Mác Lê-nin , tư tưởng Mao Trạch Đông , lý luận
Đặng Tiểu Bình và tư trưởng Ba đại diện quan trọng làm kim chỉ nam hành
động của mình.
Đảng cộng sản Trung Quốc thành lập tháng 7 năm 1921 . Từ năm 1921
đến năm 1949, Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc
cộng sản Trung Quốc kiên trì chính sách ngoại giao hoà bình độc lập tự chủ ,
giữ gìn độc lập và chủ quyền của Trung Quốc , phản đối chủ nghĩa bá quyền
và chính trị cường quyền , giữ gìn hoà bình thế giới , thúc đẩy tiến bộ loài
người . Trên cơ sở 5 nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
nhau , không xâm phạm lẫn nhau , không can thiệp công việc nội bộ của nhau
, bình đẳng cùng có lợi cùng chung sống hoà bình , phát triển quan hệ với các
nước trên thế giới . Đảng cộng sản Trung Quốc xây dựng và phát triển quan
hệ hữu nghị với chính đảng các nước trên thế giới trên cơ sở 4 nguyên tắc độc
lập tự chủ , bình đẳng hoàn toàn , tôn trọng lẫn nhau , không can thiệp công
việc nội bộ của nhau . Hiện nay , Đảng cộng sản Trung Quốc giữ gìn quan hệ
hữu nghị với hơn 300 chính đảng của hơn 120 nước trên thế giới .
11
Đảng cộng sản Trung Quốc là một chỉnh thể thống nhất căn cứ cương
lĩnh và điều lệ của mình , thể theo nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ . Điều
lệ Đảng cộng sản Trung Quốc quy định : công nhân , nông dân , quân nhân ,
tri thức và phần tử tiên tiến trong các tầng lớp xã hội tròn 18 tuổi , công nhận
cương lĩnh và điều lệ Đảng , nguyện tham gia và tích cực làm việc trong một
tổ chức của Đảng , thi hành nghị quyết của Đảng , nộp đảng phí định kỳ , có
thể xin gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc.
Tổ chức trung ương Đảng bao gồm : Đại hội đại biểu toàn quốc , Ban
chấp hành , Bộ chính trị , Ủy ban thường vụ ban chấp hành , Ban bí thư trung
ương , Quân uỷ trung ương và Ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương . Đại hội
đại biêu toàn quốc cuả Đảng năm năm tổ chức một lần . Trong thời gian đại
hội bế mạc , ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng cộng sản
Trung Quốc .
Đảng cộng sản Trung Quốc hiện có gần 70 triệu đảng viên , tổng bí thư
đương nhiệm là đồng chí Tập Cận Bình.
Ở Trung Quốc , ngoài Đảng cộng sản Trung Quốc , còn có 8 chính đảng
tham chính hợp tác gắn bó với Đảng cộng sản, cùng nhau dốc sức cho sự
nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Điểm cơ bản tham gia bàn bạc các công việc nhà nước của các đảng
phái dân chủ là: Tham gia chính quyền nhà nước, tham gia hiệp thương về các
phương châm chính sách lớn của nhà nước và tuyển chọn lãnh đạo nhà nước,
tham gia quản lý các công việc nhà nước, tham gia xây dựng và thi hành các
phương châm, chính sách, luật pháp và pháp qui của Nhà nước. Đảng cộng
sản Trung Quốc và các Đảng phái dân chủ đều lấy Hiến pháp làm nguyên tắc
hoạt động cơ bản, có trách nhiệm giữ gìn danh dự của hiến pháp, đảm bảo
việc thực thi của hiến pháp.
Hình thức hợp tác đa đảng và chính trị hiệp thương chủ yếu gồm:
1/ Hội nghị chính trị hiệp thương Nhân dân Trung Quốc
13
2/ Trung ương đảng và đảng ủy các cấp địa phương tổ chức các cuộc
hội nghị hiệp thương và tọa đàm với các đảng phái dân chủ và nhân sĩ không
đảng phái.
3/ Các nhà lãnh đạo chủ chốt của Trung ương mời các nhà lãnh đạo chủ
chốt của các Đảng phái dân chủ và nhân sĩ không đảng phái tham gia các hoạt
động toạ đàm cấp cao và trong phạm vi hẹp một cách không định kỳ căn cứ
theo đòi hỏi của tình hình. Chủ yếu là để giao lưu tư tưởng và trưng cầu ý
kiến về các vấn đề cùng quan tâm.
14
Chương 2:
BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI CẢI CÁCH, MỞ CỬA
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC QUA ĐẠI HỘI XV
điểm chung về phân tầng xã hội, phân hóa giầu nghèo … quá trình đô thị hóa,
nhất là sự ra đời hàng loạt khu chế xuất, khu công nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ
những mặt ấy phát triển. Nét đáng chú ý về mặt xã hội của Trung Quốc là vấn
đề dân số. Cơ cấu xã hội, dân cư, một mặt do tác động của phân công lao động
mới theo quy luật từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, mặt khác: tác
động của tăng dân số và giải pháo về dân số ở Trung Quốc mà một thời gian
dài mới thấy hệ quả. Nét đáng chú ý nữa là dân số nông thôn chiếm tỷ trọng
lớn nên khi công nghiệp bắt đầu phát triển đã xuất hiện làn sóng di dân.
2.1.3. Bối cảnh văn hóa
Trung Quốc vốn là cường quốc "văn hóa phương Đông", có nền văn
hóa lâu đời với những đỉnh cao và thế giới khâm phục. Chính các giá trị văn
hóa đó là cơ sở của sự đoàn kết số dân khổng lồ và là sợ dây liên kết mấy
chục triệu người Hoa ở nước ngoài, cũng như nó đã phát huy thời kì Trung
Quốc bị đô hộ.
Trong giai đoạn này, nét chú ý là quá trình mở cửa và tác động toàn cầu
hóa, trên lĩnh vực văn hóa đang diễn ra sự giao thoa, lựa chọn phê phán đấu
tranh giữa "văn hóa phương đông" Trung Quốc với "văn hóa phương Tây".
2.1.4. Bối cảnh chính trị
Từ thời đại Đặng Tiểu Bình đã thổi làn gió mới vào tư duy chính trị
truyền thống Trung Quốc . Có lẽ Trung Quốc là nước phát triển tư duy chính
trị đối nội và đối ngoại sớm nhất. Hoàn cảnh một nước lớn suốt quá trình
phân tranh và thống nhất đã tạo ra một đội ngũ chính khách có học vấn và tài
năng trong chính sách đối nội và đối ngoại.
Sáng tạo lớn trong giai đoạn Đặng Tiểu Bình với hoàn cảnh bên trong
và bên ngoài khó khăn hơn trước rất nhiều:
Dân số đông và đói nghèo nên vấn đề bảo đảm đời sống là quan trọng. Vì
vậy, tư diu chính trị của ông lấy mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất là chính ,
16
Trung Quốc. Quan điểm này đã được xác định trong Hội nghị trung ương 3
khóa 14. Trong nghị quyết của Đại hội XV được giải thích một cách cụ thể
hơn: "một là, nước ta là nước XHCN, cần phải kiên trì lấy chế độ công hữu
làm cơ sở của chế độ kinh tế XHCN; hai là, nước ta vào giai đoạn đầu của
CNXH, cần phát triển nhiều loại hình sở hữu kinh tế trong điều kiện chế độ
công hữu làm chủ thể; ba là, mọi hình thức chế độ sở hữu phù hợp với "3 có
lợi" (có lợi cho sự phát triển sức sản xuất, có lợi cho việc tăng cường sức
mạnh đất nước, có lợi cho việc nâng cao mức sống nhân dân) đều có thể và
cần được sử dụng phục vụ cho CNXH" (Trích báo cáo chính trị của Đại hội
XV).
b. Về hàm nghĩa của "kinh tế công hữu"
"Kinh tế công hữu không chỉ bao gồm kinh tế nhà nước và kinh tế tập
thể, mà còn bao gồm thành phần nhà nước và thành phần tập thể trong kinh tế
sở hữu hỗn hợp. Vai trò chủ thể của kinh tế công hữu chủ yếu thể hiện ở chỗ
tài sản công hữu chiếm ưu thế trong tổng tài sản xã hội. kinh tế nhà nước
kiểm soát huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ đạo phát
triển kinh tế" (Trích báo cáo chính trị của Đại hội XV).
Ở Trung Quốc xuất hiện thành phần kinh tế sở hữu hỗn hợp với sự
tham gia của nhà nước, tập thể, doanh nghiệp, tư nhân, tư bản ngoại. Nếu coi
kinh tế công hữu chỉ là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể cộng lại thì tỷ
trọng của nó đang giảm dần và vai trò "chủ thể" của nó khó có thể giữ vững
được. Nhưng nếu bao gồm cả thành phần nhà nước và thành phần tập thể
trong kinh tế sở hữu hỗn hợp thì năm 1996 tỷ trọng của kinh tế công hữu
trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn giữ được mức 76%, nghĩa là
vẫn đủ tiêu chuẩn về lượng để giữ vai trò chủ thể.
Đến đại hội XV, vai trò "chủ đạo" của nền kinh tế nhà nước được giải
thích lại " chủ đạo không phải là chiếm ưu thế về lượng. mà chủ yếu là nắm
các khâu then chốt để chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Đó là vai
đại, CNTB có thể sử dụng, CNXH cũng có thể sử dụng. Trong thời gian qua
đã có nhiều ý kiến khác nhau về thuộc tính của chế độ cổ phần. Có người
trích Mác, nói rằng chế độ cổ phần thuộc "chế độ tư hữu"; một số người khác
19
cũng trích lời Mác, nói rằng chế độ cổ phần là một khâu quá độ để phát triển
lên chế độ công hữu. Báo cáo chính trị tại đại hội XV cho rằng : "chế độ cổ
phần là một hình thức tổ chức vốn của doanh nghiệp hiện đại, có lợi cho việc
tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả
vận hành xí nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn, chủ nghĩa tư bản có thể sử dụng,
chủ nghĩa cũng có thể sử dụng. Không thể nói chung chung chế độ cổ phẩn là
công hữu hay tư hữu, điều then chốt là xem quyền khống chế cổ phần nằm
trong tay ai. Nếu nhà nước và tập thể khống chế cổ phần thì sẽ mang tính chất
công hữu rõ rệt, sẽ có lợi cho việc mở rộng phạm vi chi phối của vốn công
hữu, tăng cường vai trò chủ thể của chế độ công hữu."
e. Về chế độ doanh nghiệp hiện đại
Xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại là phương hướng cải cách
doanh nghiệp nhà nước. Trung Quốc đã phấn đấu phần lớn các doanh nghiệp
chủ yếu của nhà nước có quy mô lớn và vừa, bước đầu xây dựng chế độ
doanh nghiệp hiện đại. Bốn yêu cầu đặt ra là "quyền sở hữu tài sản rõ ràng;
quyền hạn và trách nhiệm phân minh; tách chính quyền với doanh nghiệp;
quản lý một cách khoa học"
Hai vấn đề nổi bật trong cải cách kinh tế nhà nước đó là nhà nước tpaj
trung nắm những doanh nghiệp lớn tổ chức thàh những tập đoàn xí nghiệp có
sức mạnh cạnh tranh, và tiến hành cải cách cơ cấu của Quốc vụ viện theo yêu
cầu "tách chính quyền với doanh nghiệp".
Nguyên tắc số 1 của cải tổ là "căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường XHCN, chuyển biến chức năng của chính phủ, tách chính quyền với xí
nghiệp… thực sự trao quyền sản xuất kinh doanh cho xí nghiệp ( trích báo cáo
Quốc khẳng định trong cương lĩnh của Đảng ngang tầm với chủ nghĩa Mác Lê
nin và tư tưởng Mao Trạch Đông. Những năm cuối đời, Đặng Tiểu Bình chỏ
ằng, bản chất của CNXH là giải phóng sức sản xuất xã hội, phát triển sức sản
xuất, tiêu diệt bóc lột, xóa bỏ phân hóa 2 cực, cuối cùng đi đến giầu có; nhiệm
vụ trung tâm cơ bản nhất của CNXH ở Trung Quốc phải phát huy mọi tiềm
năng của các thành phần kinh tế để phát triển sức sản xuất.
2.2.2. Cải cách thể chế chính trị
Cải cách thể chế chính trị là một phương diện quan trọng trong chiến
lược cải cách nói chung của Trung Quốc. Tuy nhiên, nội dung của cải cách thể
22
chế chính trị rất phức tạp, nó khônbg những có liên quan đến quyền lực và lợi
ích của nhiều người mà còn là một vấn đề nhạy cảm,rất dễ gây nên tranh luận.
Trogn tiến trình cải cách của Trung Quốc mấy chục năm qua, cải cách về kinh
tế có nhiều thuận lợi và đặt được nhiều thành tựu., nhưng cải cách chính trị thì
lại chậm chạp và có nhiều khó khăn.
Tuy nhiên các nhà lãnh đạo Trung quốc nhận thấy một điều là, nếu chỉ
tiến hành cải cách thể chế kinh tế, không tiến hành cải cách thể chế chính trị thì
cải cách kinh tế cũng rất khó thành công. Đặng Tiểu Bình từng nói: “Chỉ cách
cái thể chế kinh tế, không cải cách thể chế chính trị, cải cách thể chế kinh tế sẽ
không thông, bởi vì trước tiên nó gặp phải sự cản trở của con người. Công việc
phải do con người thực hiện, anh đề ra hạ phóng quyền lực, nhưng người ta lại
thâu tóm quyền lực, vậy thì anh có tư cách gì? Tức góc độ này mà nói, mọi cải
cách của chúng ta cuối cùng rồi sẽ không thành công, vẫn là do cải cách thể chế
chính trị quyết định”.
Trước khi Đại hội 15 diễn ra, ý tưởng về cải cách thể chế chính trị đã
được Đặng Tiểu Bình thể hiện trong bài nói chuyện của ông tại Hội nghị mở
rộng Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc ngày 31 tháng 8
năm 1980. Lúc này ông chưa dùng khái niệm cải cách thể chế chính trị mà