Mẫu 1a
MẪU BÌA LUẬN VĂN CÓ IN CHỮ NHŨ VÀNG Khổ 210 x 297 mm
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------TRẦN THỊ NHUẦN
Họ và tên tác giả luận văn
TRẦN THỊ NHUẦN
Công nghệ Vật liệu Dệt may
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ bền mối dán phần mũ
giầy với phần đế giầy bảo vệ cho công nhân ngành thép
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Công nghệ Vật liệu Dệt may
(ghi chuyên ngành của học vị được công nhận)
KHOÁ 2009
Hà Nội – Năm 2012
Mẫu 1b
MẪU TRANG PHỤ BÌA LUẬN VĂN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------Họ và tên tác giả luận văn
TRẦN THỊ NHUẦN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1. TS. Bùi Văn Huấn
Hà Nội – Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
TRẦN THỊ NHUẦN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN ĐỘ BỀN
MỐI DÁN PHẦN MŨ GIẦY VỚI PHẦN ĐẾ GIẦY BẢO VỆ CHO
CÔNG NHÂN NGÀNH THÉP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành : Công nghệ Vật liệu Dệt may
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. Bùi Văn Huấn
Hà Nội – Năm 2012
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
MỤC LỤC
13
1.1.1. Các đặc điểm dán trong sản xuất giầy và sản phẩm da
13
1.1.2. Các cơ sở lý thuyết quá trình dán keo
14
1.1.2.1. Vai trò của tính bám dính khi dán keo
14
1.1.2.2. Các yếu tố độ bền mối dán keo
21
1.1.2.3. Độ bền (tuổi thọ) của mối dán keo
24
1.2. Các loại keo dán đế giầy
27
1.2.1. Keo policloropren (neopren)
27
45
1.4. Đặc điểm môi trường lao động ngành thép và yêu cầu đối với mối dán đế
giầy bảo vệ
46
1.5. Kết luận chương 1
47
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
49
2.1. Đối tượng nghiên cứu
49
TRẦN THỊ NHUẦN 1
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
2.2. Nội dung nghiên cứu
59
2.4. Kết luận chương 2
62
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
63
3.1. Kết quả thực nghiệm khảo sát các loại keo
63
3.2. Kết quả nghiên cứu khảo sát miền biến thiên của các thông số
64
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố đến độ bền mối
dán keo vật liệu đế giầy
68
3.3.1. Kết quả thí nghiệm theo quy hoạch thực nghiệm
68
3.3.2. Các phương trình hồi quy
70
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến
sỹ Bùi Văn Huấn. Kết quả nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm của
Viện Dệt May – Da giầy & Thời Trang Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội.
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn. Luận văn
không có sự sao chép từ các luận văn khác về nội dung, hình ảnh cũng như các kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn.
Người thực hiện
Trần Thị Nhuần
TRẦN THỊ NHUẦN 3
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sỹ Bùi Văn Huấn,
người đã tận tâm chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Thầy Cô Viện Dệt May – Da giầy & Thời Trang
đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức mới và sâu về chuyên môn cũng như giúp
đỡ em trong quá trình em học tập và nghiên cứu.
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Hình 1. Xác định độ bám dính nhờ thiết bị đo độ bám dính Deriagin
15
Hình 2. Các sơ đồ mối dán keo
15
Hình 3. Sơ đồ thấm ướt (a) và không thấm ướt (b) bề mặt rắn bởi chất lỏng
21
Hình 4. Sơ đồ xác định góc cạnh thấm ướt trên lớp phân cách chất lỏng và vật rắn
21
Hình 5. Mẫu dán để xác định khả năng dán
22
Hình 6. Sơ đồ thử nghiệm bóc tách mối dán keo
22
Hình 7. Sơ đồ bộ gá vào máy kéo đứt để xác định độ bền mối dán keo đế giầy
Hình 15. Mô hình thực nghiệm xác định miền biến thiên của các thông số công 53
nghệ
Hình 16. Mô hình thực nghiệm xác định ảnh hưởng của các thông số công nghệ
56
Hình 17. Vị trí của miếng mẫu thử trong ngàm kẹp
57
Hình 18. Ví dụ về đồ thị lực/độ biến dạng
57
Hình 19. Máy kéo đứt đa năng model RT-1250A
57
Hình 20 . Thiết bị thử độ bền mỏi của mẫu dán keo đế
58
Hình 21. Các mẫu chuẩn bị thí nghiệm
59
Hình 22. Trang thiết bị chuẩn bị mẫu thí nghiệm
61
73
Hình 29. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy
và áp suất ép dán đến độ bền mối dán keo sau dán Y1
74
Hình 30. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy và áp suất ép 75
dán đến độ bền mối dán keo sau bẻ uốn nhiều lần Y2
Hình 31. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy và thời gian ép 75
dán đến độ bền mối dán keo sau dán Y1
Hình 32. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy và thời gian ép 76
dán đến độ bền mối dán keo sau bẻ uốn nhiều lần Y2
Hình 33. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa áp suất ép dán và thời gian 76
ép dán đến độ bền mối dán sau bẻ uốn nhiều lần Y1
Hình34. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa áp suất ép dán và thời gian ép 77
dán đến độ bền mối dán sau bẻ uốn nhiều lần Y2
Hình 35. Kết quả tính toán các phương án tối ưu trên phần mền Design Expert
TRẦN THỊ NHUẦN 7
77
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
63
Bảng 9. Kết quả thí nghiệm xác định độ bền mối dán đế
64
Bảng 10. Bảng mã hóa các thông số công nghệ
68
Bảng 11. Kết quả thí nghiệm theo quy hoạch thực nghiệm
68
TRẦN THỊ NHUẦN 8
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài: Lắp ráp các chi tiết phần đế giầy với phần mũ giầy (hay
còn gọi là ráp đế giầy) là công đoạn quan trọng trong quy trình công nghệ sản xuất
giầy. Việc lắp ráp không chính xác hoặc mối ráp nối đế giầy với mũ giầy có độ bền
kém làm giảm đáng kể chất lượng và tuổi thọ của giầy.
Trong quá trình sử dụng, dưới tác động của bàn chân (bẻ uốn nhiều lần) mối
ráp đế giầy cũng chịu tác động ép nén, bẻ uốn lặp lại. Ngoài ra mối ráp nối này chịu
dán, nhiệt độ, thời gian sấy trung bình v.v. Các yếu tố công nghệ dán phụ thuộc
nhiều vào đặc điểm của các vật liệu làm giầy (mũ giầy và đế giầy), ví dụ cùng là đế
cao su lưu hóa nhưng thành phần hỗn hợp nguyên liệu cao su có thể rất khác nhau
và yêu cầu các thông số công nghệ dán khác nhau để đạt được mối dán có độ bền
cao. Ngoài ra, các yếu tố công nghệ còn tùy thuộc vào công nghệ dán, ví dụ khi sử
dụng công nghệ sấy tự nhiên (với nhiệt độ phòng trong thời gian dài từ 30 phút đến
60 phút), cần phải hoạt hóa màng keo trước khi dán và độ bền mối dán bị ảnh
hưởng nhiều bởi thời gian và nhiệt độ hoạt hóa màng keo. Khi sử dụng công nghệ
sấy tăng cường trong thời gian 3 đến 5 phút ở nhiệt độ 70 ÷ 80 °C thì không cần
phải hoạt hóa màng keo v.v.
Với các lý do nêu trên, việc “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ
bền mối dán phần mũ giầy với phần đế giầy bảo vệ cho công nhân ngành thép”
nhằm thiết lập được công nghệ dán đế tối ưu đảm bảo chất lượng mối dán là việc
làm cần thiết và có tính thực tiễn cao. Đây cũng là một phần nghiên cứu thuộc đề tài
“Nghiên cứu quy trình thiết kế và chế tạo giày cao cổ có tính năng bảo vệ cao sử
dụng trong một số môi trường khắc nghiệt” Mã số: 01C-01/02-2010-2.
Lịch sử nghiên cứu: Việc nghiên cứu về giầy bảo hộ lao động đã được
nhiều nước trên thế giới tiến hành và đã chế tạo được rất nhiều loại giầy bảo vệ có
chất lượng cao trang bị cho quân đội, cho công nhân các ngành công nghiệp khác
nhau [10-12, 21]. Các nghiên cứu tập trung vào chế tạo các loại nguyên phụ liệu
mới có chức năng bảo vệ cao, nghiên cứu các công nghệ ráp đế cho các loại giầy
chuyên dụng, chế tạo các loại keo dán và chất xử lý bề mặt để nâng cao chất lượng
mối dán đế. Ngoài ra nhiều nghiên cứu quan tấm đến việc ứng dụng keo dán không
có dung môi hữu cơ độc hại trong sản xuất giầy nhằm giảm độc hại cho người và
tác động môi trường [10].
Ở nước ta, ngành công nghiệp da giầy còn khá non trẻ, các nghiên cứu về
giầy thông dụng nói chung [1], giầy bảo vệ nói riêng còn nhiều hạn chế. Đã có một
vài đề tài nghiên cứu sản xuất giầy, ủng bảo vệ, sản xuất các chi tiết (đế giầy, pho
mũi v.v.) cho giầy bảo vệ [2, 3], về độ bền đường may mũ giầy [4, 6], và về giầy
Từ nghiên cứu bản chất dán keo đế giầy, các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng mối dán đế, lựa chọn được các loại keo dán để nghiên cứu cũng như các
thông số công nghệ chính cần nghiên cứu đó là nhiệt độ sấy màng keo, áp suất và
thời gian ép dán đế giầy.
Trên cơ sở khảo sát các cơ sở sản xuất giầy bảo vệ, đã lựa chọn được phương
pháp và công nghệ thử nghiệm mối dán keo.
Nghiên cứu khảo sát xác định loại keo phù hợp để dán đế giầy chịu nhiệt
chịu dầu cho lao động ngành thép.
TRẦN THỊ NHUẦN 11
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
Nghiên cứu khảo sát xác định miền biến thiên của các thông số công nghệ.
Theo mô hình tổ hợp quay trung tâm của Box-Willson đã tiến hành thí
nghiệm, xử lý số liệu trên phần mềm Design Expert 6.0 đã thiết lập được các hàm
hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các thông số công nghệ: nhiệt độ sấy màng keo, áp
suất và thời gian ép dán đế giầy đến độ bền mối dán đế sau dán và sau bẻ uốn nhiều
lần.
Thiết lập được các thông số công nghệ tối ưu đảm bảo chất lượng mối dán.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu khảo cứu tài liệu đã công bố về công nghệ dán keo đế giầy, về
yêu cầu đối với mối dán đế giầy bảo vệ, các phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng mối dán đế giầy làm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm.
Thí nghiệm xác định các độ bền mối dán đế theo các tiêu chuẩn trong nước
và quốc tế.
đắt tiền (có chi phí thiết bị thấp), việc liên kết tuần tự các chi tiết được thay thế bằng
liên kết song song (đồng thời) nên có năng suất cao hơn, mở ra khả năng to lớn để
cơ học hoá và tự động hoá các quá trình công nghệ.
Điểm khác biệt của giầy dán là nhẹ, mềm uốn, cấu trúc đẹp, sự thay đổi mẫu
mốt tương đối nhanh chóng. Phương pháp dán keo tạo khả năng lý tưởng cho việc
sử dụng các chi tiết đúc, được lắp ghép trước và các cụm chi tiết. Với phương pháp
dán keo không có những đòi hỏi cứng nhắc (khắt khe) đối với độ dày và độ bền của
các chi tiết giầy, do vậy cho phép sử dụng các chi tiết có độ dày khác nhau, có các
tính chất cơ học khác nhau. Điều này đặc biệt quan trọng trong các điều kiện ngày
càng xuất hiện các vật liệu nhân tạo mới rất đa dạng về các tính chất cơ học và độ
dày để làm giầy và sản phẩm da. Với phương pháp dán keo, việc chuyển đổi sang
các vật liệu mới này không gặp khó khăn [21].
Trong sản xuất giầy, các công đoạn dán rất đa dạng, chúng được chia thành 3
nhóm:
- Ráp mũ giầy bằng cách dán keo.
- Gò keo mũ giầy.
- Dán phần đế giầy.
Các công đoạn dán keo trong sản xuất giầy, tuỳ thuộc vào giá trị của chúng,
được chia thành 3 nhóm: Dán chính, dán thứ cấp và dán phụ.
Các công đoạn dán chính gồm có: dán đế, lắp ráp và gò keo mũ giầy, có
nghĩa là các trường hợp khi mà độ bền liên kết các chi tiết được đảm bảo chỉ bởi
mối dán keo. Đối với các công đoạn này sử dụng các keo có độ bền cao, đàn hồi,
chịu nhiệt và nước: như keo PU, keo policlopren.
TRẦN THỊ NHUẦN 13
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
M - Khối lượng tải trọng, kg;
b - Chiều rộng dải keo, cm.
TRẦN THỊ NHUẦN 14
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
Hình 1. Xác định độ bám dính
nhờ thiết bị đo Deriagin:
1– Màng keo được sấy khô;
2– Tải trọng bóc;
3– Tấm kính quay tròn;
4 – Thang đo.
Khi nghiên cứu quá trình dán, các vật liệu để dán được gọi là chất dán (hay
vật liệu dán), còn các vật liệu được dán gọi là vật được dán. Thuật ngữ độ bám dính
(Autogezia) – là hiện tượng tác động lẫn nhau giữa hai lớp của cùng một loại vật
liệu khi tiếp xúc với nhau. Thuật ngữ độ dính nội (Kogezia) – là hiện tượng sự tác
động tương hỗ giữa các phân tử bên trong vật liệu bất kỳ. Tương ứng với các thuật
ngữ này có 3 cơ chế phá huỷ mối dán keo (hình 2) [22].
Hình 2. Các sơ đồ mối dán keo
trước khi bị phá huỷ (a) và cơ
a
chế phá huỷ bán dính (b), phá
dính kém (hoặc chúng không có).
Để giải thích hiện tượng bám dính, người ta đã đề xuất một số thuyết bám
dính xét từ các góc nhìn khác nhau khi giải thích hiện tượng bám dính: thuyết cơ
học, thuyết phân tử, thuyết hấp phụ, thuyết điện, thuyết điện tử, thuyết khuyếch tán,
thuyết hoá học, thuyết lưu biến v.v.
Lần đầu tiên vào năm 1927 Mak–Bein đã công bố cái gọi là thuyết bám dính
“cơ học”, trong đó ông xem xét sự bám dính như là quá trình “tạo nêm” cơ học của
keo dán trong các lỗ hở của vật liệu được dán. Sự tạo thành các “nêm”, “chốt” đa
dạng từ chất keo đóng cứng đảm bảo cho độ bền mối dán. Để lấy ví dụ đã sử dụng
mối dán các vật liệu xốp tiêu biểu như gỗ, giấy [22].
Tuy nhiên, rất nhanh sau đó người ta nhận thấy đặc thù của độ bám dính có
liên quan đến cấu tạo hoá học của các chất. Ví dụ, keo phân cực mạnh nitroxenlulo
dán rất tốt các vật liệu phân cực – gỗ và da thuộc, nhưng không dán được cao su
không phân cực. Liên quan đến vấn đề này người ta bắt đầu nói đến sự bám dính
“đặc thù”. Để giải thích nó đã đề xuất thuyết hấp phụ.
Thuyết hấp phụ xem xét độ bám dính như là kết quả của sự xuất hiện các
lực tác động giữa các phân tử giữa các nhóm hoạt tính của vật liệu được dán và vật
liệu dán. Điều quan trọng là keo dán và vật liệu được dán có các nhóm phân cực,
điều này đảm bảo cho sự hấp phụ của các nhóm phân cực ở các tâm hoạt tính của
vật liệu được dán. Các liên kết bám dính do hấp phụ được tạo thành theo hai giai
đoạn:
- Ở giai đoạn đầu, nhờ chuyển động nhiệt, các đại phân tử di dời từ keo nóng
chảy hoặc keo dung môi đến bề mặt vật liệu được dán.
- Ở giai đoạn hai của quá trình, khi khoảng cách giữa các phân tử keo dán và
vật liệu được dán nhỏ hơn 0,5 nm (5 A°) bắt đầu tác dụng lực vandecvan dẫn đến
TRẦN THỊ NHUẦN 16
LUẬN VĂN CAO HỌC
cho tương ứng với thành phần tiếp sau: vật cho NH2 > OH > OR > OCOR > CH3 >
C6H5 > Halogen > COOR > CO > CN vật nhận.
TRẦN THỊ NHUẦN 17
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
Độ bám dính tăng lên theo chiều loại bỏ lẫn nhau các nhóm của các polime
tương ứng trong dãy cho - nhận.
Khi kết hợp các nhóm chức của các phân tử vật dán và vật liệu được dán có
xét đến vị trí của chúng trong dãy cho - nhận, có thể đạt được độ bám dính cao, ví
dụ nhóm – OH với nhóm – CO hoặc nhóm – NH2 với nhóm –CN.
Vai trò sự tác động cho nhận trong sự bám dính của keo PU với các loại cao
su trên cơ sở các cao su khác nhau thể hiện trên bảng 1. Từ bảng này thấy rằng, độ
bám dính tăng lên theo chiều loại bỏ trong dãy cho - nhận của các nhóm chức của
keo PU (nhóm – OCONH) và các vật liệu được dán đã nghiên cứu.
Bảng 1. Độ bám dính của keo PU với cao su trên cơ sở các loại cao su nguyên liệu
khác nhau [22].
Cao su nguyên liệu
Các nhóm chức trong cao
su nguyên liệu
Butadien–styrol
Clorpren
Cao su tự nhiên
phối trí) giữa các đại phân tử của chúng, điều này làm cho độ bám dính rất cao. Các
tác động hoá học được xác lập trong các trường hợp dán các vật liệu khác nhau
bằng keo PU. Có các mối liên kết sunfit xuất hiện giữa các phân tử cao su và kim
loại trong trường hợp lưu hoá cao su với kim loại. Sự xuất hiện các mối liên kết hoá
học hoàn toàn có thể cả khi dán cao su có trong thành phần các nối đôi hoạt tính.
Ví dụ, các polime có chứa các nhóm cacboxin có thể tác động tương hỗ với
về mặt kim loại thường được bao phủ bởi màng oxit hiđrat hoá, do vậy tạo thành
TRẦN THỊ NHUẦN 18
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang
các liên kết hoá học theo sơ đồ sau:
–H2O
Me–OH + HOOCR ––––––– Me–OOR
Cần phải chú ý là giữa các mối liên kết hoá học và liên kết giữa các phân tử
không có sự khác nhau về nguyên tắc và sự tạo thành loại này hoặc loại kia trong
vùng tiếp xúc của chất dán – vật liệu được dán đều có khả năng và mong muốn như
nhau. Tuy nhiên các liên kết giữa các phân tử, xét từ quan điểm năng lượng học, thì
yếu hơn các liên kết hoá học, trong các hệ thực tế chúng nhiều hơn nhiều so với liên
kết hoá học. Do vậy tổng năng lượng tác động tương hỗ giữa các phân tử có thể lớn
hơn năng lượng tác động tương hỗ của các liên kết hoá học, tuy bền chắc hơn
nhưng có số lượng ít hơn.
Thuyết bám dính “khuyếch tán” xem xét đến vai trò của khuyếch tán trong
việc tạo thành hệ chất dán – vật liệu được dán. Do các chất dán thường được quét ở
dạng lỏng nên các đại phân tử của chúng động hơn so với các phân tử vật liệu được
dán và vật liệu được dán. Nhiệt độ, áp suất và thời gian tiếp xúc càng cao thì ảnh
hưởng của nó đến độ bền mối dán khi sử dụng các chất dán dạng dung dịch càng
cao. Tất nhiên, khi thiết lập các chế độ dán (ví dụ, dán đế) người ta xác định các chế
độ tối ưu theo nhiệt độ, áp suất, thời gian ép đảm bảo độ bền tiêu chuẩn mối dán đế
giày.
Các mối dán keo trong sản xuất giầy cần phải bền vững với bẻ uốn nhiều lần,
nên rõ ràng là việc sử dụng các loại keo dạng cao su có các nhóm chức phân cực
hoạt tính là thích hợp nhất.
Trước tiên là các cao su clorpren và poliuretan là cơ sở tương ứng của các
loại keo policlopren và PU. Nhờ có sự mềm uốn của các đại phân tử cao su tạo nên
sự xâm nhập lẫn nhau của các đại phân tử hoặc các phần (sector) của các đại phân
tử ở vùng tiếp xúc giữa keo dán và vật liệu được dán, đảm bảo cho mối dán keo có
độ bền vững với bẻ uốn, còn nhờ các nhóm chức phân cực mạnh mà tạo nên sự tác
động tương hỗ mạnh giữa các phân tử. Ngoài ra khi sử dụng các keo PU có thể tạo
thành cả các mối liên kết hoá học trực tiếp giữa các phân tử keo dán và vật liệu
được dán, do vậy, về tổng thể, cho phép nhận được các mối dán bền chắc và tin cậy.
Độ bám dính còn có mối liên quan nhất định với hiện tượng thấm ướt. Giọt
chất lỏng hoặc giọt dung dịch keo dán được đưa lên bề mặt cứng, hoặc là chảy trên
bề mặt, hoặc là co cụm lại thành hình cầu (hình 3). Trường hợp đầu tiên (a) minh
chứng cho sự thấm ướt bề mặt bởi chất lỏng, cũng như minh chứng cho có sự bám
dính; trường hợp thứ hai (b), ngược lại minh chứng cho sự không thấm ướt bề mặt
và không bám dính. Đối với các trường hợp tương tự độ bám dính của chất lỏng với
bề mặt (N/m) có thể tính theo công thức Dupre [22]:
TRẦN THỊ NHUẦN 20
LUẬN VĂN CAO HỌC
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
(Policlopren và PU) được xác định theo các mẫu chuẩn gồm các dải cao su màu xốp
(ví dụ cao su giả da) và vải (vải dày hai lớp) [21]. Kích thước phần làm việc của
mẫu thử là 25x100 mm (hình 5). Quét keo hai lần lên các phần làm việc của dải cao
su và vải sau đó sấy trong vòng 90 phút ở nhiệt độ (20 ± 3) °C. Trước khi dán tiến
hành hoạt hoá màng keo đã xấy khô ở nhiệt độ 85 – 100 °C trong vòng 20 - 30 s.
Thời gian ép 30 s ở áp suất 0,3 – 0,35 Mpa. Sau khi dán 24 giờ các mẫu thử được
kéo bóc trên máy kéo đứt. Các đầu tự do mẫu được kẹp và các ngàm kẹp của máy
TRẦN THỊ NHUẦN 21
LUẬN VĂN CAO HỌC