Thực trạng mất răng hàm sữa sớm và một số ảnh hưởng đến cung răng và khớp cắn ở học sinh lứa tuổi 6 10 tại trường tiểu học manachit và sokpaluong viêng chăn lào - Pdf 43

1

B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI

SENGDALA LYVONGSA

THựC TRạNG MấT RĂNG HàM SữA SớM Và MộT
Số
ảNH HƯởNG ĐếN CUNG RĂNG Và KHớP CắN ở
HọC SINH
LứA TUổI 6-10 TạI TRƯờNG TIểU HọC
MANACHIT
Và SOKPALUONG - VIÊNG CHĂN -LàO

Chuyờn ngnh : Rng Hm Mt
Ma sụ
: 60720601
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. Nguyn Th Thu Phng


2

HÀ NỘI–2015
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, ngành răng hàm mặt đã có nhiều tiến bộ vượt bậc
và theo đó nhu cầu về công tác chăm sóc sức khỏe được chú trọng nhiều hơn,
không chỉ đôi với người lớn mà còn chú trọng đến đôi tượng trẻ em, bởi “trẻ

đề tài “Thực trạng mất răng hàm sữa sớm và mô tô số ảnh hưởng đến cung
răng và khớp cắn ở học sinh lứa tuổi 6-10 tại Trường tiểu học Manachit và
Sokpaluong - Viêng Chăn - Lào” với hai mục tiêu như sau:
1.

Mô tả thực trạng mất răng hàm sữa sớm ở học sinh lứa tuổi 6-10 tại Trường
tiểu học Manachit và Sokpaluong - Viêng Chăn - Lào năm 2015.

2.

Bước đầu đánh giá mô ôt số ảnh hưởng đến cung răng và khớp cắn ở
nhóm học sinh nói trên.


4

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Sự hình thành và phát triển của răng và cung hàm
1.1.1. Các giai đoạn phát triển của răng
Giai đoạn từ khi sinh đến 2,5 tuổi
Cách cho bú là quan trọng, hoạt động cho bú cần thiết cho xương hàm dưới
phát triển bình thường và ngăn ngừa vẩu hàm trên. Sự mọc răng cửa sữa và môi
quan hệ bình thường của nhóm răng hai hàm tạo nên quan hệ gần xa của 2 hàm
của khớp cắn. Nếu răng cửa sữa dưới mọc trước răng cửa trên quá dài dễ tạo
khớp cắn ngược vùng cửa do lưỡi đẩy hoặc xương hàm dưới kém phát triển khi
răng mọc không gặp nhau dễ tạo khớp cắn sâu. Tuy nhiên khớp cắn này chỉ là
tạm thời nó có thể được sửa chữa khi các răng vĩnh viễn thay thế.
 Giai đoạn từ 2,5 đến 6 tuổi
Là giai đoạn ổn định của bộ răng sữa và đây cũng là giai đoạn có ý

răng nanh vĩnh viễn, RHL thứ nhất, thứ hai khoáng 1,7mm ở HD, 0,9mm
ởhàm trên mỗi bên.
Khoảng sẵn có không phải là yếu tô duy nhất ảnh hưởng đến quá trình
mọc của các răng vĩnh viễn và sự tiêu của các răng nanh sữa. Bệnh thiểu năng
tuyến giáp cũng làm các chân răng sữa tiêu bất thường, chậm mọc răng, răng
sữa tồn tại lâu trên cung hàm, hình dạng răng bất thường, các rôi loạn ở lợi.
Bất thường áp lực cơ, do yếu tô di truyền, do thói quen mút môi, mút ngón
tay, đẩy lưỡi cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ răng.


6
 Giai đoạn 10-12 tuổi
Đây là giai đoạn răng hỗn hợp muộn và là giai đoạn hàm răng hỗn hợp
chuyển sang răng vĩnh viễn.
Răng nanh sữa và răng hàm sữa thứ nhất hàm dưới thường rụng cùng
lúc, ngay sau đó là RHS thứ nhất hàm trên. Thông thường ở hàm dưới, răng
nanh vĩnh viễn mọc trước RHN thứ nhất và thứ hai. Ở hàm trên răng hàm nhỏ
thứ nhất mọc trước, sau đó đến RHN thứ hai và răng nanh. Một quy tắc quan
trọng là duy trì sự thay răng tương xứng ở hai bên cung hàm.
Sau khi RHS thứ hai rụng, xảy ra sự điều chỉnh khớp cắn của RHL thứ
nhất. Múi ngoài gần của RHL thứ nhất hàm trên cắn khớp với rãnh giữa ngoài
của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới và khuynh hướng khớp cắn loại II ở hàm
răng sữa và răng hỗn hợp sẽ không còn tồn tại nữa. Ở giai đoạn này những
biện pháp chỉnh nha dự phòng rất có hiệu quả, có thể ngăn ngừa được sự lệch
lạc khớp cắn sau này.
Răng hàm lớn thứ hai thường mọc ngay sau răng hàm nhỏ thứ hai một
thời gian ngắn. Tuy nhiên theo Hurme, có thể răng hàm lớn thứ hai mọc trước
răng hàm nhỏ thứ hai trong 17% trường hợp. Khi đó, răng hàm lớn thứ nhất có
thể bị nghiêng về phía gần, hiện tượng này càng trầm trọng hơn nếu ở bệnh nhân
bị mất sớm RHS thứ hai. Do đó, tương quan răng hàm lớn thứ nhất càng sai lệch


7-8

8-9

11-12

10-11

11-12

6-7

12-13

6-7

7-8

9-11

10-11

11-12

6-7

11-13

8

6
1

1
1
6

2
2
2

4
4
4

5
3
3

3
5
5

7
7
7

8
8
8

Mức độ ảnh hưởng sẽ giảm cùng với tuổi.
Sự mọc răng vĩnh viễn sau khi mất răng sữa sớm chịu ảnh hưởng của lớp
xương che phủ trên mầm răng vĩnh viễn, nếu lớp xương này bị phá hủy do
hậu quả của viêm nhiễm thì răng vĩnh viễn sẽ mọc sớm, thậm chí chỉ với sự
phát triển tôi thiểu của chân răng. Nếu còn lớp xương này thì răng vĩnh viễn
chưa mọc được trong vòng nhiều tháng. Mầm răng vĩnh viễn cần 4-5 tháng để
vượt qua 1mm bề dày lớp xương này .


8

1.1.2. Sự thay đổi cung hàm trong quá trình răng vĩnh viễn thay răng sữa
1.1.2.1. Sự thay đổi theo chiều gần xa
Sự thay đổi khi răng cửa sữa thay bằng răng cửa vĩnh viễn. Do thay đổi
kích thước giữa răng sữa và răng vĩnh viễn dẫn đến những thay đổi về tình
trạng răng, khớp cắn nhiều nhất. Sự biến đổi chiều hướng mọc răng, sự loại
bỏ khe hở giữa các răng, sự mòn răng theo thời gian và ảnh hưởng của cơ
trong giai đoạn từ 6 - 12 tuổi có nhiều thay đổi nhất. Sau 12 tuổi thường rắt ít
biến đổi, gần như là ổn định .
Bảng 1.3: Kích thước gần xa của răng sữa và răng vĩnh viễn
(Moyers - 1973)

Răng
sữa
(mm)
Răng cửa giữa
Hàm Răng cửa bên
Răng nanh
trên
Răng sô 4

6,0
7,0
6,9
7,2

Chênh

Răng

lệch

sữa

(mm)

(mm)

2,5
1,6
1,2
0,1
-2,1
1,4
1,4
1,2
-0,9
-2,7

6,5
5,3

0,9
0,0
-2,2
1,4
1,2
0,8
-0,9
-2,6

Kích thước của các răng vĩnh viễn (trừ răng hàm sữa thứ hai hàm trên và
răng hàm sữa thứ nhất, thứ hai hàm dưới) ngược lại, đều lớn hơn kích thước
răng sữa mà nó sẽ thay thế.
Bảng 1.4: Sự khác biệt về kích thước răng sữa và răng vĩnh viễn
(Moyers - 1973)


9

Hàm
trên
Hàm
dưới

Răng cửa

Răng nanh/răng

(mm)

hàm nhỏ (mm)


65,2

Răng sữa

17,4

47,0

64,4

Chênh lệch

5,6

-4,8

0,8

Tổng (mm)

Qua bảng trên ta thấy rằng để chứa đủ bôn răng cửa vĩnh viễn (31,6mm)
thay cho bôn răng cửa sữa (23,4) cung răng hàm trên phải dài thêm (8,2mm).
Tương tự với hàm dưới cung răng phải dài thêm (5,6mm) để chứa bôn răng
cửa vĩnh viễn (23,0mm) thay cho bôn răng cửa sữa (17,4mm).
Để bù lại sự thiếu hụt đó có 4 hiện tượng ở cung xương hàm xảy ra.
Hiện tượng 1: Có khe giữa các răng cửa. Khe thừa từ khi răng cửa sữa
mọc tới thời điểm ngay trước khi răng cửa vĩnh viễn mọc thay thế tăng lên
5mm ở hàm trên và 3mm ở hàm dưới.
Nếu không có khoảng giữa các răng cửa sữa thì răng cửa vĩnh viễn sẽ

1,1mm ở hàm dưới (vì răng nanh, răng hàm nhỏ thứ nhất vĩnh viễn có kích
thước lớn hơn răng nanh, răng hàm sữa thứ nhất) .
1.1.2.3. Sự thay đổi cung hàm theo chiều ngang
Từ lúc sinh tới lúc 2 tuổi khoảng cách giữa hai răng cửa tăng 5mm ở
hàm trên và 3 mm ở hàm dưới. Lúc 12 tuổi khoảng cách tăng thêm 5mm và
không thay đổi từ đó. Vùng răng hàm lúc mọc răng sữa đến lúc 12 tuổi tăng
0,5mm hàm trên và 2mm hàm dưới.


11

1.1.2.4. Sự thay đổi cung hàm theo chiều đứng
Từ răng sữa đến răng vĩnh viễn được thực hiện bởi xương ổ răng và sự
mọc răng.
1.1.3. Sự thay đổi của khớp cắn
Mặt phẳng tận cùng giữa hai răng hàm sữa thứ hai hàm trên và hàm sữa
thứ hai hàm dưới và ảnh hưởng của nó đến vị trí và loại khớp cắn khi mọc
răng hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn (răng 6).
Nếu mặt phẳng tận cùng hình bậc thang thì quan hệ răng HL vĩnh viễn
thứ nhất sẽ là quan hệ khớp cắn sai loại II hoặc đầu chạm đầu.
Nếu mặt phẳng tận cùng là một đường thẳng thì quan hệ răng HL vĩnh
viễn thứ nhất sẽ là quan hệ đầu chạm đầu hoặc quan hệ khớp cắn sai loại I.
Nếu mặt phẳng tận cùng là hình bậc thang ngược thì quan hệ răng HL viễn
viễn thứ nhất sẽ là khớp cắn sai loại III.
Khi răng dịch chuyển trước và sau trong quá trình nhai có thể gây nên
mòn mặt tiếp xúc và mòn khớp cắn dẫn đến làm giảm độ rộng của tăng chiều
trước sau kết quả làm giảm chu vi cung hàm 5-10mm hoặc hơn sau khi hoàn
chỉnh mọc răng vĩnh viễn ở tuổi thiếu niên . Khấp khểnh nhẹ của răng cửa
dưới có hướng tăng, nếu giai đoạn đầu răng sắp xếp tôt hoặc khấp khểnh nhẹ
ban đầu sẽ trở lên xấu hơn. Sự thay đổi này xuất hiện sớm từ 17-18 hoặc

vĩnh viễn. Người ta ước tính sự dịch chuyển này khoảng 3,5mm tương đương
với nửa núm. Trong đó một nửa là sự dịch chuyển răng trên sông hàm, một
nửa là do xương hàm dưới phát triển bù trừ trong giai đoạn răng hỗn hợp để
theo kịp sự phát triển của xương hàm trên .
Quan hệ xa răng hàm sữa  quan hệ xa răng hàm vĩnh viễn.
Quan hệ đầu chạm đầu răng hàm sữa  quan hệ đầu chạm đầu răng hàm
vĩnh viễn.
Quan hệ gần răng hàm sữa:

- Quan hệ trung tính răng hàm vĩnh viễn


13

- Quan hệ gần răng hàm vĩnh viễn.
Khi răng hàm lớn thứ hai vĩnh viễn đã mọc hoàn chỉnh thì khớp cắn
tương đôi ổn định, ít biến đổi.

Hình 1.1: Sự thay đổi của khớp cắn
1.2. Khái niệm về khớp cắn
1.2.1. Định nghĩa
Khớp cắn là để chỉ đồng thời động tác khép hàm và trạng thái khi hai
hàm khép lại .


14

- Động tác khép hai hàm là nói đến giai đoạn cuôi của chuyển động nâng
hàm dưới lên để dẫn đến sự tiếp xúc mật thiết giữa hai hàm đôi diện.
- Trạng thái khi hai hàm khép lại là nói đến liên quan của các mặt nhai

Trong những điều kiện này, mỗi răng của một cung răng sẽ tiếp xúc với
mặt nhai của hai răng đôi diện trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng sô 8 hàm
trên. Đó là yếu tô cho sự ổn định các răng của hai hàm.
1.2.3. Tương quan các răng giữa hàm trên và hàm dưới
 Độ cắn chìa
Là khoảng cách giữa bờ cắn răng của hàm trên và hàm dưới theo chiều
trước sau. Trung bình ở người Việt Nam là 2,79 ± 1,29 mm.
 Độ cắn phủ
Là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa hàm trên và hàm dưới theo chiều
đứng khi hai hàm cắn khớp. Trung bình ở người Việt Nam là 2,89 ± 1,45 mm
(Trung bình độ cắn phủ bằng 1/3 chiều cao than răng dưới).
 Đường cắn khớp
Là đường nôi múi ngoài của các răng sau và bờ cắn của các răng trước
hàm dưới hoặc là đường nôi trũng giữa các răng sau và cingulum các răng
trước hàm trên. Đường cắn khớp là một đường cong đôi xứng, liên tục và
đều đặn. Khi hai hàm cắn khớp với nhau đường cắn khớp của hàm trên và
của hàm dưới chồng khít lênnhau .


16

Hình 1.2: Đường cắn khớp của cung răng trên và cung răng dưới .
Mục đích của điều trị chỉnh hình răng mặt là tạo ra một khớp cắn tôi ưu
có thể đạt được ở mỗi bệnh nhân và tiêu chuẩn khớp cắn thực sự cho mỗi
bệnh nhân chỉ có thể xác định sau khi quá trình điều trị và duy trì đã được
hoàn tất .
1.3. Phân loại khớp cắn theo Angle
Phân loại khớp cắn theo Angle được công bô vào thập niên 1890, là
một môc quan trọng trong sự phát triển của chỉnh hình răng mặt, nó không chỉ
phân loại các hạng sai khớp cắn mà còn định nghĩa đơn giản, rõ ràng về khớp

Hình 1.3: Khớp cắn bình thường và các loại sai khớp cắn theo Angle


18

1.4. Chức năng của hê ô răng sữa.
Răng sữa có các chức năng quan trọng như sau :
- Tiêu hóa: hệ răng sữa giữ một chức năng quan trọng việc tiêu hóa thức
ăn cho trẻ bằng cơ chế cắt, xé, nhai, nghiền nát.
- Giữ chỗ: Răng sữa có chức năng giữ chỗ trên cung hàm cho răng vĩnh
viễn sau này mọc lên.
- Kích thích sự phát triển của cung hàm: Răng sữa kích thích sự phát
triển của cung hàm nhờ vào cử động nhai, nhất là trong sự phát triển chiều
cao cung răng.
- Phát âm; Sự mất sớm các răng sữa phía trước có thể gây khó khăn cho
việc phát một sô âm như: ‘ph’, ‘v’, ‘s’, ‘f’, ‘z’, và ‘th’.
- Thẩm mỹ: Ngoài ra hệ răng sữa còn giữ chức năng thẩm mỹ cho khuôn
mặt của trẻ. Sự phát âm của trẻ còn bị ảnh hưởng một cách gián tiếp, vì khi
nhận ra bộ răng xấu xí của mình, trẻ sẽ không mở miệng đủ to khi nói chuyện.
1.5. Mất răng sữa sớm
1.5.1. Khái niệm mất răng sữa sớm
Nếu răng sữa mất trước khi răng vĩnh viễn bắt đầu mọc (hình thành
thân răng đã hoàn tất, hình thành chân răng đã bắt đầu) thì xương ổ răng sữa
mới nhổ sẽ được tái tạo lại, ngăn cản răng vĩnh viễn mọc, làm chậm quá trình
mọc răng.
Nhiều tác giả đưa ra khái niệm về mất răng sữa sớm:
- Theo Miller (1965), thời gian trung bình từ khi răng sữa rụng đến khi
răng vĩnh viễn thay thế mọc là 3 tháng. Nên nếu như thời gian này kéo dài
hơn thì có thể coi là mất răng sữa sớm.
- Theo Ronnerman A (1977), ông sử dụng khái niệm mất răng hàm sữa

hai răng cửa giữa hàm trên, sau đó chấm đen lan rộng theo một đương ngang,
men bị vụn, ngà thành màu nâu đen, tổn thương tiếp tục lan sang mặt bên làm
gẫy thân răng, tổn thương từ răng cửa giữa lan sang răng cửa bên và răng
nanh. Trong quá trình phát triển sún răng có thể kèm theo sâu răng. Sún răng


20

nhanh chóng gây biến chứng ở tủy răng và vùng quanh cuông, gây nên nhổ
răng sớm .
 Do chỉ định sai của bác sĩ răng hàm mặt:
Thường xảy ra đôi với việc nhổ sớm các răng nanh.
- Khi răng cửa giữa và răng cửa bên vĩnh viễn mọc lên nếu có thiếu
chiều dài cung răng hoặc có bất tương xứng kích thước răng hàm, thường xảy
ra hiện tượng chen chúc ở vùng răng cửa ở múc độ từ nhẹ đến nặng.
- Từ đó có nhiều nha sỹ, do chưa hiểu biết đầy đủ về chỉnh hình răng
mặt, không đo đạc và phân tích khoảng cần có và khoảng sẵn có kỹ lưỡng mà
đưa ra chỉ định nhổ sớm răng nanh sữa sớm để giải quyết chen chúc răng cửa.
Sau đó không có kế hoạch theo dõi đầy đủ và các biện pháp dự phòng tiếp
theo dẫn đến hậu quả là nhóm răng cửa bị xô lệch, lệch đường giữa…
- Việc nhổ răng có hướng dẫn được thực hiện tôt nhất khi có sự bất
tương xứng về khoảng là trên 10mm/hàm/ bệnh nhân có tương quan khớp cắn
và xương loại I .
Tuy nhiên, việc nhổ răng có hướng dẫn trước kia được dùng để điều trị
những chen chúc trầm trọng, nhưng hiện nay, người ta xem nó như là bước
đầu tiên của việc điều trị bằng khí cụ cô định.
 Do chấn thương
-Là nguyên nhân hay gặp gây mất sớm răng cửa sữa.
-Mất răng hàm sữa và răng nanh sữa do sang chấn ít gặp. Nếu có thì
thường gặp trên bệnh nhân gẫy xương hàm.

22

của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất. Lực này sẽ rất đáng kể khi RHL thứ nhất
đang ở thời kỳ mọc tích cực.
1.5.3.2. Những hậu quả lệch lạc ở những răng vĩnh viễn đã mọc
 Sự di lệch của các răng kế cận
Khi mất sớm răng hàm sữa thứ hai:
- Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất sẽ di chuyển vào khoảng trông đó, nó
có thể di chuyển nghiêng răng hoặc di chuyển tịnh tiến. Đặc biệt nếu RHL thứ
hai ở giai đoạn phát triển sớm hơn RHL thứ hai, nó sẽ tác động một lực đáng
kể làm RHL vĩnh viễn thứ nhất di chuyển nhiều hơn .
- Ở hàm trên, RHL vĩnh viễn thứ nhất di chuyển về phía gần kết hợp với
xoay vào ngoài, tạo nên tương quan khớp cắn Angle II. Ở hàm dưới, RHL
vĩnh viễn thứ nhất di gần tạo nên tương quan khớp cắn Angle III . Nếu mất
sớm RHS thứ haiở cả hàm trên và hàm dưới cùng một bên thì tương quan
khớp cắn ở vùng RHL thứ nhất viễn viễn thường biến dạng và khó xác định,
nhưng cũng có thể là không thay đổi.
- Các răng ở phía trước hầu như không di chuyển về phía xa vì lực ép
của môi má không đủ di chuyển cả một nhóm răng.
- Răng hàm nhỏ thứ hai thường mọc muộn hơn RHN thứ nhất nên
thường bị kẹt không mọc được hoặc mọc lệch ra khỏi cung hàm.


23

Hình 1.5: Mất khoảng do mất răng hàm sữa thứ hai sớm HT

Hình 1.6: Mất khoảng do mất răng hàm sữa thứ hai sớm ở HD

Hình 1.7: Mất khoảng do mất răng hàm sữa thứ hai sớm ở HT và HD

mọc của các răng vĩnh viễn thay thế chúng, trong khi đó các răng cửa vĩnh viễn


25

thường mọc trước, Như vậy, việc các răng cửa dưới vĩnh viễn mọc trước các
răng cửa trên vĩnh viễn một thời gian dài sẽ gây nên khớp cắn ngược vùng cửa.
1.5.3.4. Ảnh hưởng tới sức nhai và sức khỏe
Mất các RHS sớm sẽ làm chức năng nhai kém đi, nhất là ở những trẻ mất
nhiều răng hàm sữa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, dễ bị còi xương, duy
dinh dưỡng và dễ mắc bệnh khác.
1.6. Nghiên cứu về mất răng sữa sớm và lệch lạc khớp cắn trên thế giới
và Lào.
Nghiên cứu của Ahamed SS và cô êng sự đã nghiên cứu về tỷ lê ê mất
sớm răng sữa ở học sinh lứa tuổi 5-10 tuổi tại Chidambaran với tất cả 1121
học sinh (561 nam và 560 nữ), bị mất sớm răng sữa có 185 học sinh (104 nam
và 81 nữ) tính theo đô ê tuổi tỷ lê ê mất răng sữa sớm cao nhất là đô ê 8 tuổi
chiếm (5,08%). Tổng cô êng tất cả răng bị mất sớm là 333 răng, trong đó răng
có tỷ lê ê tổng thất cao nhất là răng sô 84 (15,32%).
Nghiên cứu của Alessamndro Leite Cavalcanti năm 2008 tại Brazil đã
nghiên cứu về MRHSS trong Trường tiểu học Campina Grande có học sinh tất
cả 369 học sinh, trong đó có 92 học sinh chiếm 24,9% bị mất sớm răng sữa có
(53,3% nam và 46,7% nữ). Tính theo đô ê tuổi tỷ lê ê mất sớm răng sữa cao nhất
lá đô ê 9 tuổi (27,2%). Răng có tỷ lê ê tổng thất cao nhất là răng sô 84 (răng hàm
dưới bên phải), tiếp theo là răng sô 85 (răng hàm dưới bên phải).
Nghiên cứu cửa Đào Thị Hằng Nga (2011) đã nhâ ên xét tình hình
mất răng hàm sữa sớm và những hâ êu quả lê êch lạc răng ở học sinh lứa tuổi
9-10 Trường tiểu học Đông Thái cho thấy nguyên nhân MRHSS là: Do sâu
răng (96, 61%), do sang chấn (3,39%). Những hậu quả lệch lạc răng do
MRHSS được thể hiện là tương quan khớp cắn răng HL viễn viễn thứ nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status