BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN DUY BẰNG
NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2017
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN DUY BẰNG
NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
Quản trị kinh doanh
Mã số:
60 34 01 02
Quyết định giao đề tài:
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi gởi đến Quý thầy cô trường Đại học Nha Trang lòng biết
ơn sâu sắc. Bằng sự đam mê, yêu nghề và trách nhiệm cao cả, các thầy cô đã
làm việc hết mình, không ngại khó khăn đến Hà Tĩnh một nơi xa xôi để truyền
đạt kiến thức cho chúng tôi.
Tôi xin chân thành biết ơn Cô Quách Thị Khánh Ngọc người đã nhiệt
tình, rất có trách nhiệm, tận tâm trong công việc đã dành rất nhiều thời gian
hướng dẫn và giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện và động viện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Trân trọng.
Hà Tĩnh, tháng 12 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Duy Bằng
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................... iii
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................ iv
MỤC LỤC .......................................................................................................................v
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT.................................................................. vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .............................................................................................. viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ............................................................................................ ix
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ CSR CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP .........................................................................................................4
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CSR TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ HÀ TĨNH....... 79
3.1. Nguyên tắc, mục tiêu hình thành các giải pháp......................................................79
3.1.1. Nguyên tắc...........................................................................................................79
3.1.2. Mục tiêu...............................................................................................................79
3.2. Các giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả CSR tại Công ty CP Môi trường và
Công trình đô thị Hà Tĩnh .............................................................................................79
3.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức..............................................................................79
3.2.2. Nhóm giải pháp về công tác quản lý ...................................................................81
3.2.3. Nhóm giải pháp về tài chính................................................................................84
KẾT LUẬN ...................................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................89
vi
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BKS:
Ban kiểm soát
CSR:
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
CP:
Cổ phần
CBCNV:
Ủy ban nhân dân
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Mô hình “Kim tự tháp” của A.Caroll (1999).................................................6
Biểu đồ 2: Mô hình các đối tượng tác động của CSR .....................................................8
Biểu đồ 3: Các nội dung định hường phát triển của Vinamilk......................................31
Biểu đồ 4: Cam kết của Vinamilk với các bên liên quan trong thực hiện CSR ............32
Biểu đồ 5: Mô hình quan điểm CSR của HTURENCO với các bên liên quan.............49
Biểu đồ 6: Mức độ hài lòng của cổ đông đối với chính sách CSR của Công ty ...........53
Biểu đồ 7: Nộp Bảo hiểm các loại của Công ty giai đoạn 2010-2015 ..........................59
Biểu đồ 8: Mức độ hài lòng của người lao động đối với chế độ của Công ty...............59
Biểu đồ 9: Mức độ hài lòng của người dân về các sản phẩm, dịch vụ của Công ty .....64
Biểu đồ 10: Đánh giá mức độ thực hiện các cam kết của Công ty với nhà cung cấp ...66
Biểu đồ 11: Đánh giá hiệu quả chính sách CSR đối với môi trường của HTURENCO ...70
Biểu đồ 12: Doanh thu của Công ty giai đoạn 2010-2015 ............................................72
Biểu đồ 13: Lợi nhuận sau thuế của Công ty giai đoạn 2010-2015 ..............................72
Biểu đồ 14: Thu nhập bình quân của người lao động giai đoạn 2010-2015 .................74
Biểu đồ 15: Đánh giá việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức của HTURENCO .........76
viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1. Giới thiệu về chủ đề nghiên cứu
Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Công ty cổ phần Môi
trường và Công trình đô thị Hà Tĩnh giai đoạn 2010-2015, ảnh hưởng của CSR đối với
Công ty,. Đánh giá các mặt hạn chế trong việc thực hiện CSR như một số mặt hạn chế
như đối với người lao động cần cải thiện môi trường làm việc nhất là tại Nhà máy chế
biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường
việc đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, đầu tư các trang thiết bị hiện đại
nhằm giảm thiểu tối đa sự tiếp xúc trực tiếp của người lao động đối với môi trường độc
hại, nguy hiểm, đồng thời góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Nghiên cứu của tác giả góp phần không nhỏ về đánh giá sự hài lòng của khách
hàng đối với các dịch vụ công cộng của Công ty, trong đó lĩnh vực Thoát nước và cây
xanh cần được chú trọng nâng cao chất lượng, giảm thiểu ngập úng cục bộ khi trời mưa
và nâng cao tỷ lệ cây xanh đường phố, phát triển các vườn hoa, tiểu cảnh, công viên.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp để thực hiện CSR tại doanh nghiệp
được tốt hơn qua đó nhằm nâng cao hiệu quả trách nhiệm xã hội đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Hà Tĩnh trong thời
gian tới.
5. Kết luận và kiến nghị:
Qua phân tích, điều tra khảo sát cho thấy CSR tại Công ty cổ phần môi trường
và công trình đô thị Hà Tĩnh đã được Lãnh đạo Công ty chú trọng, CSR đã có đóng
góp lớn trong thành công của doanh nghiệp. Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực dịch
vụ công ích với điều kiện làm việc hết sức đặc thù, thường xuyên tiếp xúc với môi
trường độc hại, nên Công ty đã đặt quyền lợi của người lao động nên cao nhất, từ đó
tạo được mối quan hệ đoàn kết, phát huy nội lực đưa Công ty phát triển nhanh, bền
vững trong giai đoạn 2010-2015.
Chính vì thế trong thời gian tới Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị
Hà Tĩnh cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả, cải thiện môi trường làm việc
cho người lao động, thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, phát huy CSR qua đó
tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
* Từ khóa : CSR, Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Hà Tĩnh.
x
1
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung:
Trên cơ sở những nghiên cứu của các học giả trên thế giới và tại Việt Nam về
CSR, bài học về sự thành công của CSR đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp tại một số Công ty điển hình tại Việt Nam, luận văn đã phân tích, đánh giá thực
trạng về việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại Công ty CP Môi trường và Công trình đô
thị Hà Tĩnh nhằm đề xuất những giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả CSR đối với
Công ty nói riêng và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công ích nói
chung.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty CP Môi trường
và Công trình đô thị Hà Tĩnh trong những năm qua.
+ Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy và nâng hiệu quả CSR tại Công ty, đóng
góp vào sự phát triển của CSR tại các doanh nghiệp Việt Nam..
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và việc thực hiện
trách nhiệm xã hội tại Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Hà Tĩnh.
- Khách thể nghiên cứu:
Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Hà Tĩnh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Hà
Tĩnh trong giai đoạn từ năm 2010 – 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê có chọn lọc kết
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về CSR của các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện CSR tại Công ty CP Môi trường và Công
trình đô thị Hà Tĩnh
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả CSR tại Công ty CP Môi
trường và Công trình đô thị Hà Tĩnh.
3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ CSR CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP
1.1. Lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Lịch sử phát triển của CSR
Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” mới chính thức xuất hiện cách
đây hơn 50 năm, khi H.Rbowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách
nhiệm xã hội của doanh nhân” năm 1953 nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi
người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu
gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho
xã hội.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang
được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã
trở thành một chủ đề gây nhiều tranh luận cho tất cả các học giả, các nhà nghiên cứu,
các nhà kinh tế học và tất cả các chính trị gia trên toàn thế giới trong nhiều năm qua.
Học thuyết càng được củng cố mạnh mẽ bởi làn sóng về vấn đề môi trường những
năm 1962 và làn sóng quyền lợi người tiêu dùng những năm 1965.
Đến thập niên 70 của thế kỷ XX đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các
định nghĩa và học thuyết xung quanh thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp. Archie Carroll đã lồng ghép vào đó bốn khai niệm là kinh tế, đạo đức, luật
pháp và từ thiện. Sau đó Ông phát triển thành mô hình kim tự tháp về trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp (CSR Pyaramid) (Carroll, 1979). Năm 1980, điều luật về đảm
tế, công nghệ”. Trong khi đó, Caroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là
tất cả các vấn đề về kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trong
đợi trong mỗi thời điểm nhất định”. Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái
niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ
thiện, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là khái niệm động và luôn được
thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”. Khái niệm của Ủy ban
Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững cho thấy rõ hơn bản chất của CSR: “CSR là sự
cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững thông qua
những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành
viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp
cũng như sự phát triển chung của xã hội”.
Khái niệm được lựa chọn sử dụng phân tích, lập luận trong khuôn khổ luận văn
này là khái niệm của Ủy ban kinh tế Thế giới về phát triển bền vững vì nó tương đối
hoàn chỉnh, rõ rang và có tầm khái quát cao hơn so với các định nghĩa khác.
5
1.1.2 Nội dung cốt lõi của CSR:
1.1.2.1. Phạm vi ảnh hưởng của CSR:
CSR là một lĩnh vực rộng lớn. Phạm vi ảnh hưởng của CSR không chỉ bó hẹp
trong nội bộ doanh nghiệp mà nó ảnh hưởng đến nhiều thành phần khác nhau trong xã
hội và được chia làm 03 khía cạnh chủ yếu sau:
+ Phạm vi nội bộ doanh nghiệp: CSR ảnh hưởng đến quan hệ trong và ngoài
hợp đồng lao động. Sự thỏa mãn giữa hai bên trong quyền và lợi ích hợp pháp của
nhau trong quan hệ lao động về vấn đề việc làm, phúc lợi lao động, an toàn vệ sinh lao
động, xây dựng môi trường ứng xử có đạo đức trong doanh nghiệp…
+ Phạm vi hoạt động kinh doanh: CSR giải quyết các vấn đề trong giới hạn mối
quan hệ của doanh nghiệp với đối tác và các đối tượng có liên quan trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phạm vi xã hội: CSR được đặt ra để giải quyết mối quan hệ với tập quán, văn
còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp.
+ Trách nhiệm pháp lý: Trách nhiệm pháp lý còn được gọi là trách nhiệm tuân
thủ pháp luật, là một phần bản cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội. Dựa trên những
quy tắc, chuẩn mực trong các văn bản pháp luật, doanh nghiệp sẽ theo đuổi các mục
tiêu kinh tế cảu mình trong khuôn khổ sự cho phép của luật pháp. Cùng với trách
nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là bộ phận nền tảng, cơ bản và không thể thiếu đối
với CSR.
+ Trách nhiệm đạo đức: Đây là những chuẩn mực, quy tắc được xã hội thừa
nhận nhưng chưa được đưa vào trong các văn bản luật. Trên thực tế, những chuẩn mực
xã hội luôn biến đổi và vì thế những chính sách pháp luật chỉ có thể theo sau trong quá
trình biến đổi này. Do đó, luật pháp không thể phản ánh hết những đòi hỏi về những quy
tắc ứng xử của xã hội. Vì vậy, trách nhiệm thực hiện đúng luật pháp là đòi hỏi tối thiểu
với doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải thực hiện những nghĩa vụ, những
quy tắc ngoài luật hay chính là trách nhiệm đạo đức. Việc thực hiện trách nhiệm đạo đức
là tự nguyện đối với mọi doanh nghiệp nhưng lại có vai trò trung tâm đối với CSR.
+ Trách nhiệm từ thiện: Là những hoạt động đã vượt qua sự kỳ vọng của xã hội
như: tặng quà cho trẻ em nhiễm chất độc gia cam, tài trợ học bổng cho học sinh nghèo
vượt khó,…. Trách nhiệm từ thiện khác trách nhiệm đạo đức ở chỗ doanh nghiệp thực
hiện trách nhiệm này là “hoàn toàn tự nguyện”. Nếu doanh nghiệp không thực hiện CSR
tới mức độ này thì họ vẫn được coi là đã hoàn thiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội.
Mô hình kim tự tháp của A. Caroll với việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng đã
làm thỏa mãn nhu cầu về lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp, làm rõ mối
quan hệ giữa công việc từ thiện và trách nhiệm xã hội, việc cân bằng lợi ích giữa các
7
bên tham gia trong việc thực hiện các chuẩn mực CSR được đề cập đến như một nội
dung then chốt của quản trị doanh nghiệp.
1.1.2.3. Các đối tượng tác động của CSR
hướng tới và phải tuân thủ thực hiện để đạt được hiệu quả tốt trong kinh doanh. Nhờ
có những quy định của luật mà tạo ra được môi trường kinh doanh lành mạnh, công
bằng, bình đẳng, thông thoáng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế không
phải lúc nào pháp luật cũng được ban hành kịp thời theo sự phát triển chung của xã
hội. Độ trễ nhất định nào đó của pháp luật là cơ hội cho các hoạt động kinh doanh bất
hợp pháp xảy ra, ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Quy định của pháp luật chính là tiêu chí cơ bản đo lường trách nhiệm trong kinh doanh
của doanh nghiệp.
Thứ hai là nhận thức của xã hội: Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của
con người ngày càng được nâng cao, do đoa mà nhu cầu của con người cũng phát triển
theo. Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và
khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là
nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở…) sau đó đến nhu cầu an toàn (được bảo vệ), nhu cầu xã
hội (các vấn đề về tình cảm), nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị và
cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và thể hiện mình. Nhận thức của xã
hội thay đổi, nhận thức của người lao động cũng phát triển, họ cũng đã ngày càng nhận
thức được sâu sắc giá trị của bản thân. Tự bản thân người lao động hoặc thông qua các
tổ chức công đoàn, họ đã đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình. Những nhà
lãnh đạo doanh nghiệp qua thực tế kinh doanh ngày càng nhận thức được rằng: những
việc làm vì cộng đồng xã hội, vì lợi ích của người lao động là việc làm có lợi cho sự
phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Thứ ba chính là quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường: Toàn cầu
hóa đang là xu hướng của thời đại. Quá trình toàn cầu hóa diễn ra với sự phát triển
nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế; sự phát triển và tác động to lớn của các
công ty đa quốc gia; sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, tài chính quốc tế và khu
vực vừa là thời cơ nhưng cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp. Khi mà khoảng
các về công nghệ, kỹ thuật giữa các nền kinh tế ngày một rút ngắn, chất lượng sản
phẩm ngày càng trở nên đồng đều hơn thì để tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp
đều phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Toàn cầu hóa và việc
chia sẻ thông tin một cách dễ dàng trên quy mô toàn thế giới đã ảnh hưởng lớn đến
lệ nhân viên nghỉ việc, bỏ việc. Do đó, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên
mới. Tất cả góp phần giảm chi phí và tăng năng suất lao động.
- CSR giúp tăng doanh thu:
Mỗi doanh nghiệp đều đóng trên một địa bàn nhất định. Do đó, việc đầu tư hỗ
trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng
1
Phạm Văn Đức (2010), Trách nhiệm xã hội ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
10
rẻ và đáng tin cậy hơn, nhờ đó tăng doanh thu. Ví dụ như công ty Hindustan Lever,
một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ, vào đầu những năm 70 chỉ hoạt động
được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương và do vậy đã
bị lỗ trầm trọng2. Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng
thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân
cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối
những nhà cung cấp địa phương. Nhờ đó mà Công ty đã trở thành một trong những chi
nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn.
- CSR góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty:
Giá trị thương hiệu và uy tín chính là những yếu tố đặc biệt quan trọng đối với
bất kỳ một doanh nghiệp nào bởi vì những sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng đặt mua
chính là lời cam kết của nhà cung ứng. Uy tín tốt sẽ giúp doanh nghiệp hấp dẫn khách
hàng, các đối tác, nhà đầu tư và người lao động. Một doanh nghiệp thực hiện tốt các
chính sách CSR sẽ để lại ấn tượng tốt trong lòng cộng đồng, xã hội; uy tín và hình ảnh
của Công ty sẽ được lưu giữ trong trí nhớ của khách hàng.Ngược lại, đối với các
doanh nghiệp chỉ chú trọng chạy đua lợi nhuận mà bỏ quên việc thực hiện trách nhiệm
của mình đối với cộng đồng xã hội thì việc người tiêu dung tẩy chay sản phẩm, giá trị
thương hiệu và uy tín của Công ty bị giảm sút là điều đương nhiên. Công ty Vedan là
Lý thuyết các bên hữu quan trong khoa học quản trị chiến lược được đánh dấu
bằng các nghiên cứu “Quản trị chiến lược – cách tiếp cận các bên hữu quan” của
Freeman. Theo Freeman (1984), các bên hữu quan là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào
có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Clarkson
(1995) cho rằng các bên hữu quan có thể yêu cầu hoặc thực hiện quyền sở hữu/lợi ích
đối với doanh nghiệp và ảnh hưởng tới các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và
tương lai của doanh nghiệp đó. Theo Freeman (1984) có tám bên hữu quan: đối thủ
cạnh tranh, khách hàng, người lao động, chính phủ, chủ sở hữu/cổ đông, nhóm
quyền lợi đặc biệt, nhà cung ứng, nhà quản trị cấp cao doanh nghiệp. Khi nhóm lại,
có thể có bốn nhóm hữu quan như trong hình vẽ sau. Điều cần lưu ý ở đây là mối
quan hệ với các bên hữu quan không phải bất biến mà mang tính chất động thay đổi
theo thời gian.
Theo cách phân loại nói trên, có bốn nhóm hữu quan như sau:
Nhóm quyền lực bao gồm chính phủ, các cơ quan nhà nước liên quan, cổ đông
và hội đồng quản trị. Các bên hữu quan này có quyền lực đối với công ty và ban hành
các quyết định;
Đối tác kinh doanh – người lao động, nhà cung ứng, hiệp hội thương mại và
các nhà cung cấp dịch vụ. Các bên hữu quan này giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu
của mình;
- Nhóm khách hàng – tất cả đối tượng khách hàng của doanh nghiệp;
- Các nhóm có ảnh hưởng bên ngoài – cộng đồng, truyền thông và các bên
khác có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của doanh nghiệp.
12
Theo Freeman (1994), lý thuyết các bên hữu quan nhằm trọng tâm vào hai câu
hỏi sau. Đó là mục tiêu của doanh nghiệp là gì và trách nhiệm của doanh nghiệp phải
thực hiện đối với các bên hữu quan như thế nào? Để trả lời, lý thuyết này chỉ ra rằng
giá trị kinh tế được tạo ra do con người phối hợp và hợp tác với nhau một cách tự
nguyện; nhà quản trị phải phát triển quan hệ, thúc đẩy các bên hữu quan và tạo ra các
13
với các yếu tố môi trường bên ngoài. Trong khi đó, cách tiếp cận của Freeman mới chỉ
đề cập đến các bên hữu quan - đó là hạn chế.
Mặt khác, các chiến lược các bên hữu quan đề xuất cách thức một công ty
phản ứng lại với những nhu cầu của các bên hữu quan tùy thuộc vào mức độ ưu tiên.
Đó chính là cách tiếp cận tập trung kinh doanh. Nhu cầu của các bên hữu quan chỉ
được thỏa mãn nếu điều đó đặt ra một mối đe dọa cho công ty hay đem đến một cơ hội
kinh doanh. Những lợi ích xã hội dường như chỉ thu được dưới dạng sản phẩm phụ.
Phương thức tiếp cận này không giải thích được cách cư xử đối với xã hội của công ty
là do những cân nhắc hợp lý của quản lý thúc đẩy. Điều này cũng chưa chắc là đúng
nếu lợi ích xã hội và lợi ích kinh doanh đạt được tiềm năng lớn nhất do quản lý theo
cách tiếp cận phản ứng.
Chiến lược các bên hữu quan dường như tập trung tối thiểu hóa chi phí hơn là
quản lý theo mục tiêu tạo ra giá trị. Từ những cách tiếp cận kể trên, chỉ có chiến lược ở
cấp độ doanh nghiệp của Freeman tập trung vào tạo ra giá trị. Ví dụ, chiến lược cổ
đông của Freeman chú trọng tối đa hóa giá trị kinh tế cho một doanh nghiệp trong khi
chiến lược vị lợi của ông thì tập trung tối đa hóa phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, do chiến
lược vị lợi của Freeman tập trung vào số lượng nhằm thỏa mãn một số lượng lớn nhất
các bên liên quan, nên nó
không nhất thiết phải là cách hiệu lực nhất và hiệu quả
nhất để giải quyết các vấn đề xã hội.
Savage và cộng sự (1991) đã đưa ra cách nhìn khác về các bên hữu quan.
Theo đó, các bên hữu quan được chia thành bốn nhóm căn cứ vào (i) tính hợp tác với
doanh nghiệp và (ii) nguy cơ cho doanh nghiệp. Tương ứng với cách phân loại này là
bốn chiến lược:
- Khuyến khích sự tham gia của nhóm “hỗ trợ”: nhóm này có tính hợp tác
hoạt động xã hội phải đối mặt với sự chỉ trích như là quan hệ công chúng thuần túy
hoặc chỉ làm tiếp thị (xem Porter và Kramer 2006a, 189-192). Vì vậy, các nhà nghiên
cứu đòi hỏi phải có một cách tiếp cận kết hợp để giải quyết các vấn đề xã hội- đẩy
mạnh quá trình tạo ra giá trị xã hội đồng thời đem lại lợi ích kinh doanh cho doanh
nghiệp (xem Porter và Kramer 2002, 2006a và 2006b, Habisch 2006). Theo luận điểm
này, các chiến lược xã hội nên tập chung chú ý quản lý vào ảnh hưởng của chúng tới
xã hội và hoạt động kinh doanh để các nhà quản lý tìm ra những cơ hội duy nhất phục
vụ cho quá trình tạo ra giá trị xã hội và kinh tế. Thảo luận về những chiến lược như
vậy sẽ là tiêu điểm của phần sau.
1.1.4.2. Lý thuyết dựa trên nguồn lực doanh nghiệp:
Cho đến nay lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đã phát triển thêm
những bước tiến mới. Trong số đó, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được nhìn nhận
dưới góc độ chiến lược thường được coi là các lý thuyết “công cụ”(instrumental
theories) bởi vì coi các hoạt động xã hội là chiến lược để đạt lợi thế cạnh tranh. Hay
15