LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm đồ án môn học cho đến khi hoàn thành báo cáo chúng tôi đã
nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Để đạt được kết quả như hôm nay,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành.
Trước tiên chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Thị Bích Ngọc
đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt kiến thức thực tế, đôn đốc kiểm tra giúp chúng tôi
có nền tảng kiến thức và phương pháp nghiên cứu để hoàn thành tốt đồ án môn học
này.
Nhiều sự giúp đỡ của cá nhân, người dân địa phương các phường Kiến Hưng,
Phúc La, Mộ Lao, Nguyễn Trãi, cán bộ quản lý UBND quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội đã tham gia hỗ trợ trực tiếp vào công việc thực địa, trả lời phỏng vấn, tạo điều
kiện để chúng tôi tiến hành điều tra thực tế.
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến khoa Môi trường – Trường Đại học Tài
nguyên và môi trường Hà Nội đã sắp xếp cho chúng tôi có một môn học bổ ích, thiết
thực, giúp chúng tôi có cơ hội rèn luyện kỹ năng nghiên cứu và viết báo cáo.
Qua đây cho chúng tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả sự giúp đỡ quý báu
đó.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Đại diện nhóm
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan báo cáo này là công trình nghiên cứu thực sự của nhóm chúng
tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực địa ở địa bàn các phường thuộc quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội. Các số liệu về kết quả của báo cáo là trung thực, khách
quan, dựa trên sự nghiên cứu, điều tra trong quá trình đi thực tế và tham khảo các tài
liệu liên quan.
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
sông Đáy, sông Đồng Nai,…Tuy nhiên ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
kinh tế-xã hội mà hầu hết các con sông ở Việt Nam đều trong tình trạng ô nhiễm nặng
nề, nhất là các con sông ở các khu vực thành phố lớn, là nơi chứa đựng áp lực từ việc
phát thải các chất ôn nhiễm của khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư. Điều đó
khiến cho chúng bị suy giảm cả về mặt số lượng và chất lượng.
Sông Nhuệ có chiều dài 72 km, bắt nguồn từ Cống Liên Mạc, Hà Nội đến cống
Lương Cổ, Hà Nam. Sông Nhuệ là con sông có vai trò quan trọng đối mới nền kinh tế
của nước ta nói chung và quận Hà Đông nói riêng cũng đang bị ô nhiễm nặng nề. Điều
đó làm cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân cư ven sông đi xuống và
không còn đáp ứng nhu cầu của người dân. Nhận thấy việc nghiên cứu, đánh giá chất
lượng nước sông Nhuệ và tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm là việc làm
quan trọng và cần thiết. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Sử dụng mô
hình DPSIR đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ đoạn chảy qua địa
phận quận Hà Đông, Hà Nội giai đoạn cuối năm 2015 đầu năm 2016”
4
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng
Hiện trạng môi trường nước sông Nhuệ đoạn chảy qua địa phận quận Hà Đông,
Hà Nội theo mô hình DPSIR.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Khu sông Nhuệ và ven sông Nhuệ đoạn chảy qua địa phận quận Hà
Đông, Hà Nội.
- Thời gian: Tháng 4 năm 2017
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Nhuệ đoạn chảy qua địa phận quận
Hà Đông, Hà Nội
- Đánh giá chất lượng nước sông và mức độ ô nhiễm gây ảnh hưởng đến môi
dân để thu thập lấy ý kiến của người dân về vấn đề đang nghiên cứu. Tổng cộng số
5
phiếu điều tra là 20 phiếu cho 2 nhóm đối tương. Nhóm người dân địa phương với 15
phiếu, nhóm ban quản lý với 5 phiếu. Mỗi phiếu gồm 20 câu hỏi có tính chất phân loại
theo từng mục D,P,S,I,R. Phương pháp này nhằm thu thập thông tin, số liệu góp phần
vào việc xử lý số liệu và thông tin cần nghiên cứu.
5.3. Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng số liệu điều tra từ phiếu điều tra
- Sử dụng số liệu khi đi khảo sát điều tra tại khu vực nghiên cứu.
- Xử lý các số liệu thu thập được bằng cách đưa số liệu vào các phần mềm như
excel, mapinfo, google earth...để so sánh được hiện trạng của mỗi vị trí được lấy trên
bản đồ.
5.4 Phương pháp thu thập , phân tích , tổng hợp tài liệu
Thu thập các số liệu khảo sát thực địa, phân tích rõ ràng từ việc điều tra và khảo
sát
5.5 Phương pháp phân tích mô hình DPSIR
Là một mô hình nhận thức để nhận xét và đánh giá các chuỗi mô hình nhân- quả
về vấn đề môi trường và biện pháp ứng phó cần thiết.
5.6. Phương pháp lập báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường
- Căn cứ pháp lý dựa trên thông tư 43/2015/TT-BTNMT: Về báo cáo hiện trạng
môi trường, bộ chỉ thị môi trường và quản lý số liệu quan trắc môi trường.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Mô hình DPSIR
•
•
•
•
Áp lực (P)
Thải các chất
gây ô nhiễm vào
nước, không khí
và đất.
Khai thác tài
nguyên thiên
nhiên.
Những thay đổi
trong việc sử
dụng đất.
Các rủi ro về
công nghệ.
Hiện trạng MT (S)
• Tình trạng vật lý:
- Lượng nước,..
- Trầm tích và bùn
- Hình thái tự nhiên
- Nhiệt độ, khí hậu
•
•
•
•
•
•
7
Các hành động giảm thiểu
Các chính sách môi trường nhằm đạt được mục tiêu quốc gia về môi trường
(Ví dụ: tiêu chuẩn, tiêu chí để điều chỉnh áp lực)
Các chính sách ngành (Các giới hạn và kiểm soát việc phát triển của ngành để giảm/thay đổi
hay các áp lực do các hoạt động này gây ra)
Nhận thức về môi trường
Các biện pháp giảm đói nghèo cụ thể
1.1.2 Lịch sử phát triển của mô hình
Từ những năm 1972, 1982, 1992, 2002 qua các Hội nghị toàn cầu về môi trường
và phát triển bền vững nhiều tổ chưcs quốc tế và quốc gia đã xây dựng các báo cáo về
tình trạng môi trường S.O.E. Chữ S là chữ đầu trong các báo cáo đó. Tiếp đó các nhà
môi trường thấy rằng để hiểu rõ tình trạng môi trường trong biến động của nó thì cùng
với S phải xem thêm áp lực P và đáp ứng R . Mô hình P.S.R là mô hình mà UNEP
khuyến cáo vận dụng trong những năm đầu thập kỉ 1990
Sự phát triển của mô hình không dừng ở đó. Trong những năm gần đây trong
soạn thảo báo cáo tình trạng môi trường cũng như xây dựng chỉ thị môi trường mô
hình D.P.S.I.R đã thay thế mô hình P.S.R . Thực chất qúa trình hình thành mô hình
D.P.S.I.R là quá trình phát triển mong muốn sự hiểu biết đẩy đủ về tình trạng môi
trường.Quá trình này có thể biểu thị 1 cách đơn giản như sau:
S
Nội.
Chiều dài của sông Nhuệ đoạn chảy qua Quận Hà Đông là 7 km. Sông Nhuệ
bắt đầu chảy vào quận Hà Đông từ cầu sông Nhuệ nằm trên đường Tố Hữu và kết thúc
ở ngã ba giao giữa sông Nhuệ với mương tiêu ba xã. Sông Nhuệ thuộc phía Đông Bắc
của Quận Hà Đông.
Hình 1.1. Bản đồ quận Hà Đông
b. Đặc điểm khí hậu
9
Nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ mang đặc thù của miền khí hậu nhiệt
đới gió mùa, nên khu vực nghiên cứu có 2 mùa rõ rêt: màu đông khô lạnh và hè nóng
ẩm, mưa nhiều
-
Nhiệt độ - Độ ẩm:
• Nhiệt độ trung bình năm dao động 23,1 - 23,3˚C tại trạm Hà Đông. Mùa lạnh từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau và có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,6˚C. Mùa nóng từ
tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình thường trên 23˚C, tháng nóng nhất là tháng
7.
• Độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình từ 83 – 85%. Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất
là tháng 3, tháng 4 (87 – 89%), các tháng có độ ẩm tương đối thấp là các tháng 11,
-
tháng 12 (80 – 81%).
Chế độ bức xạ: hàng năm có khoảng 120 – 140 ngày nắng với tổng số giờ nắng trung
bình tại trạm của quận là 1.617 giờ. Gió: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Mùa
từ phía Bắc xuống phía Nam.
d. Tài nguyên đất
Điều kiện thổ nhưỡng đất đai của quận Hà Đông chủ yếu là đất thịt, thịt nhẹ và đất
bãi dọc theo sông Nhuệ. Gồm các loại đất sau:
-
Đất phù sa được bồi (Pb): diện tích là 261 ha, chiếm khoảng 10,1% tổng diện tích đất
-
nông nghiệp.
Đất phù sa không được bồi (P): diện tích là 1.049 ha, chiếm 37,4 % diện tích đất nông
-
nghiệp.
Đất phù sa gley (Pg) diện tích 1.472 ha, chiếm 52,5% diện tích đất nông nghiệp.
e. Tài nguyên nước
Sông Đáy, sông Nhuệ và kênh La Khê ảnh hưởng trực tiếp đến việc cấp và tiêu
thoát nước khu vực quận.
Nước mặt: Hiện nay cốt mặt nước sông Nhuệ mùa lũ thường ở cốt 5,600 m luôn
cao hơn cốt tự nhiên 5,0 m ¸ 5,6 m. Vì vậy về mùa mưa nơi nào chưa san lấp tôn cao
thường bị úng ngập nặng.
Nước ngầm: Mực nước ngầm có áp về mùa mưa (từ tháng 3 đến tháng 9) thường
gặp ở cốt (-9 m) đến (-11,0 m); Mùa khô (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) thường ở
cốt từ (-10 m) đến (-13 m). Còn nước ngầm mạch nông không áp thường cách mặt đất
từ 1 - 1,5 m.
Hệ thống sông ngòi trên địa bàn quận có lưu lượng đảm bảo cho nhu cầu tưới tiêu
cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt cho cộng đồng dân
cư trên địa bàn toàn quận.
-
Hệ thống y tế
Quận Hà Đông là một quận thuộc thành phố Hà Nội - trung tâm kinh tế chính trị
của quốc gia. Vì vậy hệ thống các cơ sở y tế, trường học tập trung với mật độ cao.
Quận Hà Đông có 6 bệnh viện tuyến trung ương và thành phố, 1 trung tâm y tế, 1
trung tâm phòng chống lao, 17 trạm y tế cùng 194 cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, 22
12
công ty dược phẩm và 298 nhà thuốc. Một số phòng khám đa khoa và bệnh viện tư
nhân đã đầu tư hàng chục tỷ đồng mua sắm trang thiết bị y tế hiện đại .
-
Văn hóa và giáo dục
Hà Đông có nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều làng nghề nổi tiếng gắn
với lịch sử phát triển đất nước nói chung và của Hà Nội nói riêng: Làng lụa Vạn Phúc,
làng rèn Đa Sỹ, làng dệt La Khê,…
Ngày nay, quận Hà Đông có nhiều trung tâm giáo dục lớn. Tỷ lệ các trường cao
đẳng, đại học ngày càng gia tăng, đội ngũ cán bộ giảng viên đông đảo và được đào tạo
ngày càng chuyên sâu. Số lượng các trường học từ mầm non đến đại học rất lớn.
13
CHƯƠNG 2: CÁC TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG
2.1. Nước thải
Quận Hà Đông là nơi tập trung khá nhiều làng nghề nên vấn đề ô nhiễm môi
trường do công nghiệp rất nghiêm trọng. Một số cơ sở sản xuất làng nghề trong lưu
vực sông Nhuệ như: Nhà máy dệt Hà Đông, nhà máy len Hà Đông, làng lụa Vạn
Phúc…, cùng một số nhà máy sản xuất đều tương đối khó xử lý do chủ yếu phát sinh
từ quá trình sản xuất. Tổng lượng nước thải 10.599 m3/ngày.
Trung bình một hộ làm nghề dệt dùng 2,84 m 3/ngày cho sản xuất, bao gồm nước
thải dịch chuỗi 0,18 m3/ngày, nước thải nhuộm 0,22 m3/ngày, nước thải giặt một lần
0,4 m3/ngày và các nước thải khác 2,04 m3/ngày.
2.2. .00000000000Nước thải y tế
Hiện nay, số lượng giường bệnh của các bệnh viện khu vực này thường xuyên
không đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, mức phát thải nước thải y
tế không nhỏ. Tuy nhiên, theo thống kê mới nhất thì chưa đến 50% các bệnh viện
trong khu vực có trạm xử lý nước thải, một số bệnh viện đã có trạm xử lý nhưng bị
hỏng hoặc chưa đi vào vận hành. Do đó, nước thải y tế là nguồn thải rất đáng được
quan tâm của khu vực này.
2.2. Rác thải
2.2.1. Rác thải sinh hoạt
Tình hình lấn chiếm xây dựng trái phép hai bên bờ sông Nhuệ, đổ phế thải, rác
thải sinh hoạt trực tiếp vào dòng sông càng làm trầm trọng thêm quá trình ô nhiễm.
15
Rác thải đổ xuống sông không những làm cản trở dòng chảy mà còn làm tăng thêm
mức độ ô nhiễm. Lượng rác sinh hoạt trung bình: 0,75 kg/người/ngày (số liệu thống
kê năm 2013).
Hình 2.2. Rác thải sinh hoạt được thải xuống sông tại chân cầu Trắng
2.2.2. Rác thải từ hoạt động công nghiệp
Vị trí lấy mẫu
M1
N: 20˚98’
E: 105˚77’
Dưới chân cầu sông Nhuệ đường Tố Hữu
M2
N: 20˚97’
E: 105˚78’
Dưới chân cầu Trắng đường Trần Phú
M3
N: 20˚95’
E: 105˚79’
Dưới chân cầu Kiến Hưng
Vị trí lấy mẫu:
Hình 3.1: Các vị trí lấy mẫu
Bảng 3.2: Chất lượng nước sông Nhuệ đoạn chảy qua quận Hà Đông
17
8
9
10
11
12
13
BOD5
COD
Amoni
PO43Nitrit
Nitrat
Fe
TSS
As
Colifor
m
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
MPN/l00
ml
19,3
20,3
20
-
6,93
2,3
10,3
7
24
144
1
0,2
0,33
30
1,4
140
0,43
11.1
03
7,01
1,7
11,4
8
24
144
192
1
0,2
0,34
32
1,3
170
0,46
0,92.1
03
7,01
0,1
19,4
5
28
192
1,1
0,2
0,04
10
1,5
50
0,05
750
0
5,5-9
4
-
Giá trị DO trong nước sông Nhuệ dao động trong khoảng từ 0,7 – 2,3 Mg/l, nằm dưới
-
giới hạn cho phép của QCVN 08:2015/BTNMT cột B1.
Giá trị COD, BOD5 của cả 2 đợt lấy mẫu ở 2 khu vực quận Hà Đông đều vượt quy
chuẩn cho phép QCVN 08:2015/BTNMT. Hàm lượng COD vượt 4,8 – 6,4 lần so với
QCVN, giá trị BOD5 vượt 1,6-1,87 lần so với QCVN.
- Hàm lượng các chất dinh dưỡng (NO 2-, NO3-, NH4+) tại các vị trí quan trắc đều vượt
quy chuẩn cho phép QCVN 08:2015/BTNMT. Hàm lượng NO 2- trong sông Nhuệ gấp
khoảng 8,25-9,25 lần. Hàm lượng NO3- trong sông Nhuệ gấp khoảng 3-3,3 lần. Hàm
-
lượng NH4+ trong sông Nhuệ gấp khoảng 2 – 2, 2 lần.
Hàm lượng Coliform tại các vị trí hầu như là vượt quy chuẩn cho phép QCVN
08:2015/BTNMT. Nhưng tại thơi điểm khác nhau thì hàm lượng Coliform lại thay
đổi khác nhau. Hàm lượng Coliform của sông Nhuệ gấp từ 1,33-2 lần so với QCVN
-
08:2015/BTNMT.
Hàm lượng chất dinh dưỡng PO 43-tại các vị trí quan trắc đều ở mức thấp dưới quy
chuẩn cho phép QCVN 08:2015/BTNMT, dao động ở 0,2Mg/l.
Hàm lượng Fe trong nước sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Đông là không lớn, đều
nằm trong giới hạn của QCVN 08:2015/BTNMT, hàm lượng Fe dao động từ 1,3-1,4
18
DO
Độ đục
BOD5
COD
Amoni
PO43Nitrit
Nitrat
Fe
TSS
As
Coliform
Đơn vị
Mg/l
NTU
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
Mg/l
MPN/l00ml
2014
26,9
7,28
2,86
7,02
0,7
20,82
28
192
1,1
0,2
0,36
32
1,4
190
0,43
15000
QCVN
08:2015/BTNMT
5,5-9
4
15
30
0,9
0,3
0,05
10
1,5
50
0,05
7500
Từ kết quả bảng 3.3 cho thấy các chất dinh dưỡng tại chân cầu trắng – đường Trần
CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG
4.1. Ảnh hưởng đến con người
4.1.1. Sức khỏe con người
Chất lượng môi trường nước mặt tại sông Nhuệ ngày càng ô nhiễm trầm trộng
hơn. Nước sông luôn chứa một thứ nước đen kịt, đặc sệt do chứa quá nhiều nước thải,
hóa chất gây ngột ngạt, bốc mùi hôi thối. Sức khỏe của người dân đang có chiều giảm
sút do mắc phải các bệnh về đường hô hấp, tiêu chảy.
Qua tìm hiểu tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và
tai, mũi, họng, bệnh đường tiêu hóa là bệnh rất thường gặp. Tỷ lệ người mắc bệnh về
20
đường hô hấp, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh tiêu hóa tăng nhanh trong những năm
gần đây. Nếu như năm 2010 có 2313 lượt người đến khám đều phát hiện mắc các loại
bệnh này thì chỉ tính riêng tháng 5/2015 đã có 885 lượt người dân khám và tất cả đều
mắc bệnh. Rõ ràng môi trường ô nhiễm đã tác động xấu đến sức khỏe người dân.
Không phải ngẫu nhiên số người mắc bệnh đông và ngày càng tăng. Còn các bệnh về
hô hấp như lao phổi, viêm phổi trẻ em, viêm phế quản... đối với người dân là phổ
biến. Trong năm 2015, có 5 trường hợp tử vong do mắc bệnh ung thư phổi, ung thư
vòm họng... và tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong phường, trung bình mỗi tháng
mắc một ca. Tuổi thọ trung bình của người dân đang giảm dần và ước tính hiện nay là
60 tuổi.
4.1.2. Phát triển kinh tế - xã hội
a. Thiệt hại kinh tế do gia tăng gánh nặng bệnh tật
Đa số người dân được hỏi sau khi nghỉ ốm để điều trị bệnh hoặc có người thân bị
ốm thì bị giảm thu nhập và suy giảm về sức so với trước khi bị bệnh. Kéo theo đó, là
những ảnh hưởng tâm lý bất ổn, khiến người ta khó có thể tập trung cho công việc và
học hành khiến hiệu quả năng suất không cao, thậm chí ở nhiều nghề nghiệp, sự mất
CHƯƠNG 5: CHÍNH SÁCH, QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG,
DỰ BÁO THÁCH THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG
5.1. Chính sách, quy hoạch bảo vệ môi trường
5.1.1. Chính sách
- QĐ 5168/QĐ-UBND HN, phê duyệt chỉ giới hành lang bảo vệ công trình thuỷ
lợi sông Nhuệ trên địa bàn HN tỷ lệ 1/500.
5.1.2. Quy hoạch
-
Quy hoạch thiết lập vành đai xanh dọc sông Nhuệ sẽ giảm tối đa mật độ xây dựng,
tiến tới phát triển dân cư đô thị chỉ có các công trình công cộng sinh thải cây xanh và
mặt nước.
(Quy hoạch mô hình không gian thủ đô Hà Nội trong quy hoạch chung thủ đô
Hà Nội tầm nhìn từ năm 2030-2050).
-
Dự án kè cứng bờ sông Nhuệ trong địa bàn tp duyệt từ cuối năm 2015, thực hiện năm
2016 với tổng vốn đầu tư 10 tỷ đồng.
+ QH 20/12/2016 UBND TP HN ban hành công văn số 12/27/VP-ĐT cho ý kiến
về quy hoạch chi tiết 2 bên bờ đường sông Nhuệ. (Đại lộ Thăng Long-Tố Hữu) Hà
Đông.
Ưu điểm:
•
Quy hoạch đã được thực hiện, bởi UBND quận Nam Từ Liêm làm chủ trì đã kêu gọi
chủ đầu tư
vệ nguồn nước (theo đề án bảo vệ môi trường) vẫn cần được cải thiện, nhất là cơ chế
công khai và minh bạch thông tin.
-Về cơ cấu tổ chức, thành phần các tổ chức lưu vực sông đã lập (gồm cả các Ban
QLQHLV sông, Hội đồng lưu vực sông, các UBBVMT lưu vực sông) hiện hoàn toàn
bao gồm các đại diện kiêm nhiệm gồm đại diện lãnh đạo một số Bộ, ngành và địa
phương liên quan, dẫn tới những hạn chế trong đầu tư nguồn lực và thời gian cho
nhiệm vụ quản lý. Ngay cả bộ máy giúp việc, trừ Văn phòng Ủy ban sông Mê Công
Việt nam là cơ quan chuyên trách, các Văn phòng Ban QLQHLV sông, Hội đồng lưu
vực sông hoặc các UBBVMT lưu vực sông đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm,
với kinh phí, hạ tầng cơ sở và cán bộ nhân viên chưa được bố trí đầy đủ và kịp thời.
- Chưa phối hợp tốt với các tỉnh lân cận trong công tác quản lí môi trường nước
mặn nên phải gánh chịu hậu quả do việc ô nhiễm nguồn nước song từ phía thượng
nguồn chảy xuống.
5.2.2.Về mặt thể chế, chính sách
- Việc thực thi thu phí xả thải tại lưu vực song Nhuệ đoạn chảy qua Hà Đông vẫn
chưa thực hiện được. Do vậy, tình trạng các nhà máy xí nghiệp, nước thải sinh hoạt và
nước thải từ làng nghề xả thải nước thải không đảm bảo cũng như không áp dụng
công nghệ xử lý nước thải vẫn tồn tại và chưa được xử lý triệt để.
- Chưa xây dựng được văn bản hướng dẫn phân định cụ thể các nhiệm vụ về
BVMT của ngân sách địa phương.
- Nhiều chính sách phát triển chưa tính đến BVMT.
24
- Một số văn bản, cơ chế chính sách đã được ban hành và tổ chức thực hiện nhưng
hiệu quả chưa cao, chưa phù hợp với thực tế.
- Chưa xây dựng được quy chế quản lý môi trường, vệ sinh môi trường, gắn kết
chặt chẽ phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường nhằm hạn chế tải lượng lớn chất thải
vào môi trường nước.