TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****
LƯƠNG THỊ VIỆT TRINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG VIỆC
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI ĐẢO LÝ SƠN –QUẢNG NGÃI
HÀ NỘI 5/2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG VIỆC
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI ĐẢO LÝ SƠN –QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Khí tượng thủy văn biển
Mã ngành
: 52440299
Sinh viên thực hiện: Lương Thị Việt Trinh
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trần Ngọc Huân
nhiều thiếu sót. Vì vậy, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô
giáo và toàn thể các bạn sinh viên để đồ án có thể hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
5
MỤC LỤC
6
DANH MỤC BẢNG
7
DANH MỤC HÌNH
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một trong bốn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia bởi
nó là môi trường sống của toàn xã hội,là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng
các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng. Trên thực tế,đất là nguồn
gốc của mọi quá trình sống và cũng là nguồn gốc của mọi sản phẩm hàng hóa xã
hội, nó không thể tự sinh ra cũng không thể tự mất đi mà nó chỉ biến đổi về chất
Đảo Lý Sơn hay còn gọi là Cù Lao Ré thuộc tỉnh Quảng Ngãi là đảo ven bờ
nằm ở miền Trung Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng nằm ngay trên con
đường biển từ Bắc vào Nam, ngay cửa ngõ khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế
trọng điểm của miền Trung. Người dân ở đây sống chủ yếu vào đánh bắt hải sản và
trồng tỏi. Vào ngày 28 tháng 4 năm 2007, tỉnh Quảng Ngãi đã khai trương tuyến du
lịch “biển đảo Lý Sơn”. Để phát triển kinh tế nâng cao đời sống người dân tại huyện
đảo Lý Sơn thì cần phải tiến hành đánh giá, quản lí sử dụng đất sao cho hợp lí với
nhu cầu của người dân cũng như sự phát triển du lịch. GIS đóng vai trò rất quan
trọng trong việc đánh giá và quy hoạch sử dụng đất. Với nhũng lí do trên “ Ứng
dụng viễn thám và GIS trong việc phân tích đánh giá sử dụng đất tại đảo Lý Sơn –
Quảng Ngãi” là hướng nghiên cứu khoa học và thực tiễn nhằm giải quyết các vấn
đề trên giúp cho các nhà quản lý, quy hoạch đất góp phần đưa ra những quyết định,
chiến lược phát triển đúng đắn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Ưng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong việc phân tích
đánh giá sử dụng đất tại đảo Lý Sơn- Quảng Ngãi nhằm giúp chính quyền địa
phương có cái nhìn khách quan trong công tác quản lí và quy hoạch đất sử dụng đất.
Mục tiêu cụ thể:
-
Đánh giá tình hình sử dụng đất huyện đảo Lý Sơn ở 2 thời điềm 2002, 2015.
Thành lập bản đồ và đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2002-2015.
3. Nội dung nghiên cứu
-
Nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi
Ưng dụng viễn thám và GIS để đánh giá tình trạng sử dụng đất tại đảo Lý Sơn –
Quảng Ngãi.
quả nghiên cứu của các đề tài, dự án, các báo cáo, hội thảo liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài, tiến hành tổng hợp phân tích để đưa ra các giải pháp, các lựa
chọn phù hợp.
-
Phương pháp viễn thám và GIS: Phương pháp này sử dụng phần mềm phân tích và
giải đoán ảnh viễn thám ARCGIS để xử lý ảnh, phân tích và phân loại các yếu tố để
đánh giá. Đồng thời, sử dụng các lệnh trong phần mềm để thành lập bản đồ hiện
trạng sử dụng đất năm 2002 và năm 2015 qua đó đánh giá và phân tích sự thay đổi
biến động đất của khu vực nghiên cứu trong 13 năm qua.
11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Định nghĩa hiện trạng sử dụng đất
1.1.
Hiện trạng sử dụng đất là trạng thái lớp phủ bề mặt trái đất ở một thời điểm
nào đó mà việc phân chia quỹ đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng của con người.
Theo Luật Đất đai năm 1993 phân chia đất đai thành 6 nhóm, trong đó có nhóm đất
đô thị. Nhưng Luật Đất đai năm 2003 lại phân chia thành 3 nhóm chính và mỗi nhóm
gồm nhiều loại đất. Đồng thời có sự khác nhau giữa hệ thống phân loại đất theo quy
định của pháp luật về đất đai trước năm 2003, hệ thống được sử dụng để xây dựng
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và hệ thống theo pháp luật hiện hành.
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là mô tả hiện trạng sử dụng từng quỹ đất (đất
nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng). Từ đó rút ra những nhận định,
kết luận về tính hợp lý trong sử dụng đất, làm cơ sở để đề ra những quyết định sự
Tổng quan nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất bằng ứng dụng GIS và viễn
thám
GIS là 1 tập hợp có tổ chức bao gồm phần cứng, phần mềm, máy tính, dữ liệu
địa lý và con người được thiết kế nhằm mục đích nắm bắt,lưu trữ, cập nhật, điều
khiển phân tích và hiển thị tất cả các dạng thông tin liên quan đến vị trí địa lí. Vì
GIS là một hệ thống quản lý dữ liệu không gian do đó nó có rất nhiều ứng dụng
trong việc phát triển đô thị và môi trường tự nhiên như là: quy hoạch đô thị, quản lý
nhân lực, nông nghiệp, điều hành hệ thống công ích, lộ trình, nhân khẩu, bản đồ,
giám sát vùng biển, cứu hoả và bệnh tật... đặc biệt là trong đánh giá hiện trạng sử
dụng đất.
So với việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp truyền thống
thì việc tự động hóa trong đánh giá hiện trạng sử dụng đất cho ta một lợi ích to lớn.
Công nghệ GIS có thể được dùng để mô phỏng và quy hoạch sử dụng tài nguyên
đất của một thành phố, một quốc gia hay một vùng phục vụ công tác thành lập bản
đồ phân loại đất, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất, quy hoạch sử dụng đất,
phân tích xu hướng xây dựng và kiểm soát tài nguyên đất.
Viễn thám điện từ là khoa học và công nghệ sử dụng sóng điện từ để chuyển
tải thông tin từ vật cần nghiên cứu tới thiết bị thu nhận thông tin cũng như công
nghệ xử lý để các thông tin thu nhận có ý nghĩa.
Một trong những ứng dụng đặc biệt quan trọng của dữ liệu viễn thám đó là
nghiên cứu sử dụng đất và lớp phủ. Từ những năm 1970,dữ liệu viễn thám đã đáp
ứng được các yêu cầu về chất lượng và tần suất cho nghiên cứu. Đến nay, viễn thám
đã phát triển trở thành một phương pháp luận tiên tiến và công cụ mạnh trong
nghiên cứu sử dụng đất và theo dõi biến động đất đai (Hassideh và Bill,2008).
Khả năng ứng dụng của ảnh viễn thám trong đánh giá biến động sử dụng đất:
Với bản chất việc “chụp” ảnh là đo giá trị phần trăm phản xạ của năng lượng sóng
điện từ từ các đối tượng trên mặt đất, viễn thám có ưu thế cơ bản trong theo dõi biến
động lớp phủ. Bề mặt lớp phủ lại phản ánh tác động của con người thông qua loại
hình sử dụng đất. Với ưu thế đặc biệt của viễn thám là không gian đối tượng nghiên
Tại Trung Quốc, người ta sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh Landsat để xác định biến động
sử dụng đất tại thành phố Đại Khánh tỉnh Hắc Long Giang từ năm 1997 đến 2007.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đất xây dựng, đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng
tăng lên gấp đôi trong khi các vùng đất ngập nước giảm đi 60%. Nguyên nhân dẫn
đến sự thay đổi này là do quản lý đất đai, dân số và các chính sách kinh tế xã hội
-
(Ye et al., 2011).
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu về hiện tại, xu hướng và tương lai của biến
động sử dụng đất dưới tác động của chính sách được thực hiện bởi các tác giả thuộc
Trung tâm thí nghiệm trọng điểm về sử dụng đất, Cục điều tra và Quy hoạch đất
đai, Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp
ngoại suy tuyến tính và mạng nơ ron thần kinh để chỉ ra rằng không thể giữ được
14
mục tiêu 0,12 tỷ ha đất canh tác trong tương lai nếu sử dụng phương thức phát triển
kinh tế trong giai đoạn 1996-2008. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định việc thực
hiện pháp luật và các quy định về bảo tồn đất canh tác ảnh hưởng đáng kể đến biến
-
động sử dụng đất (Wang et al., 2012).
Tại Ấn Độ, đã có những nghiên cứu nhằm xác định nguyên nhân cũng như ảnh
hưởng của biến động sử dụng đất như Ravindranath and Hall (1994), Mohanty
(2007), Suzanchi and Kaur (2011), Chawla (2012)... Đầu tiên ta có thể kể đến công
trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số và biến động sửu dụng đất
của Monhanty (2007). Từ số liệu thống kê,từ dữ liệu bản đồ và viễn thám tác giả
xác định được trong vòng 50 năm từ 1950 đến 2000, mức độ tăng dân số đã chậm
lại nhưng những tác động tiêu cực của nó đến sử dụng đất vẫn gia tăng. Đất phi
Việt Nam do Tkatchenko thực hiện nhằm phát triển các đồn điền cao su ở Việt Nam.
-
(Hoàng Thị Nga,2009)
Từ sau năm 1950, rất nhiều nhà khoa học Việt Nam như: Tôn Thất Chiểu, Vũ Ngọc
Tuyên, Lê Duy Thước...và các nhà khoa học nước ngoài như: V.M.Firdland,
F.E.Moorman cùng hợp tác xây dựng bản đồ thổ nhưỡng miền bắc Việt Nam (tỉ lệ
1:1.000.000);tính chất lí, hóa học đất vùng đồng bằng sông Cửu Long; bản đồ đất
Việt Nam (tỉ lệ 1:1.000.000); các nghiên cứu về đất sét, đất phèn Việt Nam...(Hoàng
Thị Nga,2009)
Từ sau khi viễn thám và GIS được ra đời và ứng dụng rộng rãi khắp thế
giới,Việt Nam cũng đã bắt kịp xu thế và ứng dụng nó vào nhiều công trình nghiên
cứu về biến động sử dụng đất và lớp phủ như :
•
Đầu tiên có thể kể đến là công trình nghiên cứu về biến động lớp phủ bề mặt đất
được nghiên cứu trên phạm vi cả nước từ năm 2001 – 2003 từ tư liệu ảnh MODIS
hay sự thay đổi lớp phủ rừng huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận từ năm 1989 – 1998
•
bằng ảnh LANSAT TM .(Nguyen và nnk, 2005)
Để nghiên cứu biến động hiện trạng lớp phủ thực vật và ảnh hưởng của nó tới quá
trình xói mòn lưu vực sông Trà Khúc, tác giả Vũ Anh Tuấn đã kết hợp phương pháp
viễn thám và hệ thống thông tin địa lý. Kết quả nghiên cứu đã xác định được biến
động hiện trạng lớp lưu vực sông Trà Khúc từ năm 1989 đến 2001, từ đó mô hình
hóa xói mòn bằng GIS và đề xuất sử dụng đất để giảm tình trạng xói mòn .(Vũ Anh
sẽ rất khó quản lý xây dựng trên đảo, dẫn đến tình trạng xây dựng trái phép sẽ diễn
ra tràn lan, không thể kiểm soát được. Hiện nay, Đoàn thanh tra liên ngành của tỉnh
đang tiến hành thanh tra việc sử dụng đất đai tại huyện đảo, đặc biệt tại các công
trình xây dựng và sử dụng đất tại các khu vực danh lam, thắng cảnh như: hang Cò,
hang Câu, chùa Đục, dọc theo tuyến đường cơ động… Những công trình xây dựng
vi phạm sẽ dừng thi công; xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng đất không đúng
mục đích, không phép. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan; nhất là đối
với các trường hợp cố tình vi phạm các quy định của Nhà nước, hoặc cố tình hợp
thức hóa các sai phạm... cũng được làm rõ... Đồng thời, sớm thành lập ngay Đội
quản lý trật tự đô thị, cùng phối hợp với thanh tra huyện để làm tốt chức năng quản
lý đô thị, quản lý đất đai trên địa bàn.” (Võ Hà,2016).
Trên báo điện tử Quảng Ngãi có bài đăng với tiêu đề: “ Mở hướng cho Lý Sơn
phát triển bền vững” có viết: Với thực trạng phát triển “nóng” của Lý Sơn hiện nay,
với nhiều công trình được xây dựng, đã khiến cho nhiều di tích lịch sử văn hóa và
danh lam thắng cảnh bị xâm hại, đặc biệt là cảnh quan môi trường bị phá vỡ, thậm
chí có nguy cơ biến mất, ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan môi trường của đảotiềm năng chính để phát triển du lịch của Lý Sơn. Để Lý Sơn phát triển bền vững,
Bí thư Tỉnh ủy Lê Viết Chữ cho rằng, phát triển bền vững không phải phát triển
ngày một, ngày hai, một năm, hay hai năm mà nó là nhiều năm, nhiều thế hệ; không
phải phá vỡ những cái hiện có mà phải bảo tồn và gia tăng thêm giá trị hiện có. Phát
triển bền vững là như vậy, chứ chúng ta không mơ hồ là làm cho nó nhiều, thu hút
được nhiều đầu tư, làm được nhiều dự án là phát triển. Chính vì vậy, để Lý Sơn phát
17
triển bền vững, chúng ta phải phát triển gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa và mang lại lợi ích cho người dân. Chỉ khi nào sự phát triển đó đem lại lợi ích
cho người dân và chỉ khi nào người dân của mình họ thấy được lợi ích thì họ sẽ tự
khắc thấy cần phải giữ gìn “nguồn vốn” chung của mình.” (Bảo Ngọc,2016).
Mục tiêu của Lý Sơn là phát triển du lịch, dịch vụ và kinh tế biển là trọng tâm,
độ phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới.
Hình 2.1: Bản đồ huyện đảo Lý Sơn so với tỉnh Quảng Ngãi
(Nguồn: Hình được lấy từ />19
2.1.2. Đặc điểm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
a
Địa hình
Địa hình đảo Lý Sơn tương đối bằng phẳng, không có sông ngòi lớn và có độ
cao trung bình từ 20-30m so với mực nước biển.
Trên địa bàn huyện có 5 hòn núi dạng bát úp được hình thành do hoạt động
của núi lửa trong đó cao nhất là núi Thới Lới (169m). Xung quanh các chân núi, địa
hình có dạng bậc thềm, độ dốc từ 8-15º. Dạng địa hình gốc núi lử chiếm tới 70%
diện tích đảo.
Hình 2.2: Địa hình núi lửa trên đảo Lý Sơn
(Nguồn: Google Earth)
Nhóm dạng địa hình nguồn gốc biển bao gồm các dạng: vách mái vòm-bóc
mòn, vách mái vòm, bãi biển mài mòn, bãi biển mài mòn-tích tụ. Bãi biển mài mòntích tụ và thềm tích tụ làm thành một đồng bằng bằng phẳng, nghiên thoải, hơi lượn
sóng, độ dốc dưới 8º thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và bố trí dân cư. Đây
chính là những vùng tập trung dân cư và là địa bàn sản xuất nông nghiệp trọng điểm
của huyện.
Địa hình bờ biển của huyện phần lớn là các vách và hốc sóng vỗ bờ tạo nên
các hốc hang khá đẹp tạo nên giá trị về tham quan du lịch. Huyện đảo Lý Sơn nằm
trên thềm lục địa có độ sâu trung bình dao động 50-60m.
Về mặt địa hình là đồng bằng tích tụ-mài mòn nghiêng thoải bị chia cắt bởi
các máng trũng với độ sâu khác nhau. Địa hình đáy biển phân bậc rõ ràng, do vậy
có thể sử dụng làm cầu cảng và tổ chức các hoạt động thể thao mạo hiểm trên biển.
Đất cát bằng Có diện tích 42 ha,chiếm 2,1% Thích hợp với việc phát
ven biển (Cb) diện tích tự nhiên, phân bố viền triển lâm nghiệp (trồng
quanh đảo tiếp giáp với mép ven rừng phòng hộ).
biển.
Đất cát biển Có diện tích 110ha, chiếm Thích hợp sử dụng làm
(C)
11,03% diện tích tự nhiên.
khu dân cư và cải tạo để
sản xuất nông nghiệp.
Đất nâu đỏ Có diện tích 845ha, chiếm Thích hợp cho phát triển
trên đá Bazan 84,76% diện tích tự nhiên. Đây là nhiều cây trồng khác
(Fk)
nguồn tài nguyên quan trọng của nhau.
huyện đảo. Trong 845ha có 558ha
có tầng dày trên 100cm, độ dốc
dưới 8º độ màu mỡ khá, hàm
lượng các chất dinh dưỡng từ
trung bình trở lên.
(Nguồn: ĐẤT
ĐẶC ĐIỂM
qnpstatic-2-qnpdyn-0-qnpsite-1.html)
2.1.3. Điều kiện khí hậu
Đảo Lý Sơn chịu tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa trên vùng biển nhiệt
đới nóng, ẩm và có chế độ mưa trái mùa (từ tháng VIII – tháng II năm sau). Do Lý
Sơn là huyện đảo trên biển Đông lại có vĩ độ thấp nên chế độ nắng thuộc loại dồi
21
-
Đặc điểm về thủy triều: Mực nước quan trắc ở khu vực đảo Lý Sơn cho thấy chế độ
triều ở đây chủ yếu là chế độ nhật triều không đều, số ngày bán nhật triều chiếm
22
khoảng 18 đến 22 ngày, vào các kì nước lém có thêm một kì nước nhỏ hàng ngày,
biên độ triều dao động khoảng 1,1-1,2m.
Chế độ bán nhật triều không đều với độ lớn triều khoảng 1,8-2,0m trong thời
kì nước cường. Dòng chảy chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng chảy biển Đông, nhiệt
độ nước biển trung bình là 26,1ºC. Độ mặn nước biển trung bình là 30-31%o, cao
nhất là 34%o.
Chiều sâu và xu hướng xân nhập mặn vào các tầng chứa nước: Địa hình các
tầng chứa nước ven đảo có độ cao so với mực nước biển dao động từ 2-6m do đó
khi triều lớn sẽ chịu tác động của sự xân nhập mặn vào các tầng chứa nước. Tại
thôn Đông, xã An Vĩnh ranh giới xâm nhập mặn vào sâu khoảng 300-500m so với
mép nước biển, vùng thôn Tây, xã An Vĩnh vào sâu 100-200m.
-
Đặc điểm sóng biển: Vào mùa hè (từ tháng VI đến tháng VIII), sóng tại khu vực
đảo Lý Sơn chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam. Do chịu ảnh hưởng của địa hình
nên hướng chính trong thời điểm này thịnh hành là Đông đến Nam Đông Nam. Độ
cao sóng trung bình là 0,5m, độ cao sóng cực đại là 2,8m. Trong những tháng mùa
thu (từ tháng IX đến tháng XI) là thời kỳ chuyển mùa từ gió mùa Tây Nam sang
Đông Bắc. Độ cao sóng trung bình là 1,0m, độ cao sóng cực đại là 6m (do ảnh
hưởng của bão). Thời kỳ mùa đông (từ tháng XII đến tháng II năm sau) sóng tại
đảo Lý Sơn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên có hướng chính là Bắc
Đông Bắc đến Đông Đông Bắc. Độ cao sóng trung bình là 1,3m độ cao sóng cực
nguồn nước nhưng dân cư sống bằng nghề nông vẫn chiếm nhiều nhất.
Về nông nghiệp, tại đây không trồng được lúa chỉ trồng được các cây lương
thực, thực phẩm khác như: ngô, đậu, gai, rau,khoai lang, khoai mì. Tuy nhiên,phù
hợp với điều kiện thổ nhưỡng, thời tiết ở đây, cây trồng phù hợp nhất đó là hành và
tỏi. Nhờ vào trồng hành và tỏi, nông dân ở Lý Sơn có đời sống tương đối ổn định.
Năm 2005, diện tích trồng tỏi là 297ha, sản lượng 1.557 tấn; diện tích trồng hành là
282,4ha, sản lượng 1.790 tấn. Bên cạnh trồng trọt, người dân Lý Sơn còn chăn nuôi
chủ yếu là bò, heo, dê, gà vịt...
Về ngư nghiệp chủ yếu đánh bắt ven bờ với nghề lưới chuồn và đánh cá trích.
Năm 2004 sản lượng hải sản đánh bắt của Lý Sơn đạt 9.684 tấn, năm 2005 là 9.916 tấn.
Về dịch vụ du lịch, Lý Sơn có tiềm năng rất lớn với nhiều cảnh quan thiên
nhiên kỳ thú, di sản văn hóa cổ truyền khá phong phú... Ngày 28/4/2007, tuyến du
lịch “biển đảo Lý Sơn” được khai trương góp phần phát triển kinh tế tại đây.
2.2.3. Đặc điểm văn hóa – xã hội
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 4 di tích lịch sửu văn hóa cấp Quốc gia : Đình
làng An Hải, Chùa Hang, Âm Linh Tự... và 6 di tích lịch sửu văn hóa cấp tỉnh: Lăng
Cá Ông, Dinh Tam Tòa...và các danh lam thắng cảnh khác như: Hang Câu, Cổng Tò
Vò, Hòn Đụn...
24
Cùng với đó, hiện nay, trên đảo Lý Sơn còn gìn giữ một di sản văn hóa phi vật
thể phong phú, đa dạng, đặc trưng với Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ hội đua
thuyền, thờ cúng cá Ông, Thiên Y A Na…và những giai thoại truyền thuyết thuyết,
đặc biệt là những truyền thuyết về chuyện đánh giặc Tàu Ô, đi Hoàng Sa của những
bậc tiền hiền, hậu hiền trên đất đảo, những câu ca dân gian, hát hò, hát hố cổ xưa
mà chỉ có người Lý Sơn mới giữ gìn được. Đặc biệt, trong lòng đất Lý Sơn còn ẩn
chứa nhiều di chỉ văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm Pa được các nhà khảo cổ học