ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC LOÀI RỆP SÁP BỘT ĐU ĐỦ Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) HẠI SẮN TẠI HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP HÓA HỌC PHÒNG TRỪ - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÁO CÁO TIẾN ĐỘ LUẬN VĂN THẠC SỸ
Tên đề tài:
“ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC LOÀI RỆP
SÁP BỘT ĐU ĐỦ Paracoccus marginatus Williams and Granara
de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) HẠI SẮN TẠI HÀ
NỘI VÀ BIỆN PHÁP HÓA HỌC PHÒNG TRỪ”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM OANH
Học viên

: LƯƠNG MINH NGỌC

Mã học viên

: 24080016

Lớp

: CH24BVTVB

HÀ NỘI, 2016


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

dinh dưỡng, đất khó khăn có hiệu qủa và là hướng hỗ trợ chính cho việc thực
hiện. Năm 2014, sản lượng sắn xuất khẩu của nước ta ước đạt 3,29 triệu tấn với
giá trị 1,12 tỷ USD. Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2015,
xuất khẩu sắn tăng mạnh về số lượng và giá trị. Theo thống kê của Cục trồng
trọt, cây sắn đã được trồng ở khắp 7 vùng sinh thái trong cả nước, diện tích
trồng sắn năm 2014 đạt 551.100 ha. Trong những năm gần đây, sắn từ cây
lương thực phụ thành cây công nghiệp quan trọng và là cây nguyên liệu cho
sản xuất nhiên liệu sinh học, năng suất và sản lượng ngày càng gia tăng. Sắn
không chỉ là cây xóa đói giảm nghèo mà còn là cây trồng có thể đem lại cơ hội
lớn để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần phát triển nông
nghiệp, phát triển kinh tế-xã hội.
Việc phát triển diện tích trồng sắn kéo theo sự gia tăng của các loài dịch hại.
Theo thống kê của CABI 2015, sắn là cây ký chủ chính của 162 loài dịch hại,
ký chủ phụ của 64 loài. Loài rệp sáp bột hồng hại sắn (Phenacoccus manihoti)
mới du nhập vào nước ta năm 2012 nhưng đã lây lan phát tán mạnh và đã có
mặt ở hầu hết các vùng trồng sắn lớn. Tính đến tháng 4/2015, diện tích sắn
nhiễm rệp sáp bột hồng của Phú Yên lên tới 40 ha, tỷ lệ hại từ 1-70% cây, các
cây bị nhiễm nặng buộc phải tiêu hủy.Vụ đông xuân 2013-2014, 95,8 ha sắn
của tỉnh Đắk Lắk bị nhiễm loài rệp này trong đó có rất nhiều diện tích cũng
phải tiêu hủy. Năm 2013, tỉnh Tây Ninh có trên 1 nghìn ha sắn bị hại. Việc tìm
ra giải pháp để ngăn chặn thiệt hại do loài rệp sáp bột hồng gây ra đang trở
thành vấn đề cấp bách của các nhà khoa học. Hiện nay việc xuất khẩu sắn tinh
bột của nước ta đang gặp khó khăn do hàm lượng tinh bột trong sắn nguyên
liệu tại các địa phương không cao. Có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng đến

2


hàm lượng tinh bột của cây sắn trong đó nguyên nhân chủ yếu do sâu bệnh gây
hại làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của cây.

Nam Mỹ (Wikipedia, 2017)
Sắn là cây lâu năm, đơn tính (hoa đực và hoa cái cùng nằm trên cùng một gốc),
mọc thành bụi, tất cả các bộ phận của cây có chứa dịch mủ màu trắng và
cyanogenic glycoside ở các nồng độ khác nhau, qua quá trình tiêu hóa chất này
thải ra hydrogen cyanide (HCN) gây ngộ độc. Cây có 1 rễ cái với các rễ phụ,
rất đa dạng về hình dạng, kích thước, vị trí, số lượng. Rễ là bộ phận lưu trữ tinh
bột trong các tế bào nhu mô nằm trong lớp lõi màu trắng, hoặc hơi vàng, hơi đỏ
và sẽ bị hóa gỗ theo thời gian. Cây dạng thân gỗ, chủ yếu màu nâu hoặc xám,
các vết sẹo lá thường nổi bật. Lá xếp theo hình xoắn ốc với kiểu xếp lá 2/5,
cuống lá dài từ 5-30 cm, phiến lá xẻ thùy đến gần gốc lá, mỗi lá có 3-10 thùy.
Cụm hoa bao gồm 1 chùm hoa xếp không sát nhau, dài từ 3-10 cm. Hoa đơn
tính gồm 5 lá đài kết hợp lại, không có cánh hoa. Hoa cái ở dưới và nở đầu
tiên, hoa đực ở đỉnh (CABI, 2017).
Theo CABI (2017), hiện nay Manihot esculenta đã được trồng phổ biến trên
nhiều nước nhiệt đới ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Đại Dương. Sắn
có khả năng thích ứng tuyệt vời ở các vùng đất khó trồng trọt và có chu kỳ sinh
trưởng linh hoạt, điều này tạo điều kiện cho nó mở rộng trên toàn thế giới, đặc
biệt là nơi có áp lực dân số cao. Khi đất đai khan hiếm, nhu cầu thực phẩm cho
mỗi đơn vị diện tích trồng tăng, nông dân chuyển sang cây trồng sắn để đạt
4


được nguồn năng lượng cao trên mỗi héc ta. Sắn là một loại cây nổi tiếng ở
Đông Nam Á, đặc biệt là ở Indonesia và Thái Lan và là chế độ ăn chủ yếu ở
nhiều nước nhiệt đới châu Phi, nơi hơn một nửa sản lượng sắn toàn cầu được
sản xuất.
Cũng theo CABI (2017), sắn phát triển ở nhiệt độ tối ưu 25-30°C, khí hậu lạnh
bất lợi cho sự phát triển sắn, ở nhiệt độ dưới 10°C sắn không phát triển. Sắn
được trồng ở vùng có lượng mưa 500-6000 mm mỗi năm. lượng mưa tối ưu
hàng năm là 1000-1500 mm, không có mùa khô rõ rệt. Sau khi được thiết lập,

thân, 2 loài rệp cây, 2 loài sâu đục, 1 loài bướm hổ, 2 loài sâu quân đội và 34
loài nhện hại.
2.1.3 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học loài rệp sáp bột
đu đủ (Paracoccus marginatus)
a) Đặc điểm hình thái
Theo Walker et al. (2003), trưởng thành cái của rệp sáp bột đu đủ có màu
vàng và được bao phủ bởi một lớp sáp màu trắng, kích thước khoảng 2,2mm x
1,4mm, xung quanh viền cơ thể có l loạt các sợi sáp ngắn hơn ¼ chiều dài cơ
thể, không có cánh. Rệp trưởng thành đực dài khoảng 1 mm, bề ngang rộng
nhất tại ngực dài 0,3 mm, hình bầu dục, râu đầu có 10 đốt, cánh phát triển.
Theo CABI (2017), ấu trùng dài khoảng 0,3 mm có màu vàng. Các con rệp
cái chưa và mới trưởng thành cơ thể có màu vàng được phủ một lớp bột sáp
màu trắng, lớp này mỏng hơn giữa các đốt thân làm cơ thể chia thành các đốt
ngang. Xung quanh mép cơ thể của con cái trưởng thành có các sợi lông sáp
ngắn, các sợi này ngắn hơn ¼ chiều dài cơ thể. Rệp cái trưởng thành dài từ
2,5-4 mm, thân mềm, thuôn dài và hơi dẹt. Khi trưởng thành con cái bắt đầu
tiết ra các sợi màu trắng, dính, đàn hồi từ các mép bụng. Đôi khi màu sắc cơ
thể của rệp trưởng thành cái không rõ ràng do bị phủ bởi lớp sáp màu trắng.
Rệp đực nhỏ,có râu dài chia thành các đốt, có 6 chân, mỗi chân có một móng
đơn, có một cặp cánh đơn giản bao phủ bởi một lớp bột sáp trắng, phía sau
bụng có một cặp sợi sáp trắng dài và không có phần miệng.
Theo Amarasekare et al. (2008), thời gian phát triển và sống sót của giai
đoạn trứng và ấu trùng tuổi 1 không phân biệt giới tính. Giới tính của mỗi cá
thể rệp sáp bột được xác định bởi phần sau của ấu trùng tuổi 2 khi con đực
chuyển từ màu vàng sang màu hồng.
6


b) Đặc điểm sinh thái học
Tác giả Amarasekare et al. (2008) nghiên cứu chu kỳ sống của Paracoccus


nhận xét rệp sáp bột đu đủ có khả năng tồn tại, phát triển và sinh sản tốt trong
khoảng nhiệt độ từ 18 đến 30ºC.
Theo nghiên cứu của Tanwar et al.(2010), con đực có thời gian phát triển
(27-30 ngày) dài hơn con cái (24-26 ngày) ở nhiệt độ 25±1ºC, ẩm độ 65±2%
và chu kỳ sáng 12:12.
2.1.4 Kết quả nghiên cứu biện pháp phòng trừ

rệp sáp bột đu đủ

(Paracoccus marginatus)
a) Biện pháp hóa học
Walker et al. (2003) đã nghiên cứu một số hoạt chất hóa học để phòng
trừ rệp sáp bột đu đủ. Các hoạt chất nghiên cứu bao gồm acephate, carboryl,
chlorpyrifos, diazinon, dimethoate, malathion và các loại dầu khoáng trắng.
Thông thường liều lượng được sử dụng phòng trừ đối với rệp sáp bột đu đủ
tăng gấp đôi do chúng có lớp sáp dày và thường bị lấp bên trong lá và cành. Do
vậy việc kiểm soát bằng hóa học chỉ có hiệu quả nhất định và cần áp dụng với
số lượng nhiều.
b) Biện pháp sinh học
Theo CABI (2015) có 3 loài ký sinh đã được sử dụng thành công để
phòng trừ rệp sáp bột đu đủ là Anagyrus loecki, Pseudleptomastix mexicana
và Acerophagus papayae
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu về cây sắn
Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18. Hiện chưa có tài
liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên. Sắn được canh tác phổ biến
tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam. Diện tích sắn trồng nhiều
nhất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía Bắc,
vùng ven biển Nam Trung Bộ và vùng ven biển Bắc Trung Bộ (Hoàng Kim,

sáp bột hồng đạt cao nhất khi cây trồng được 8 tháng, số lượng lên tới 48,7
con/ngọn
Trong vài năm trở lại đây các chi cục bảo vệ thực vật ở các tỉnh phía Nam
có báo cáo loài sùng trắng gây hại nặng trên rễ cây sắn. Loài này là ấu trùng
của bọ hung bao gồm 3 loài: bọ hung đen (Allissonotum impressicolle), bọ
hung nâu (Holotrichia sinensis) và bọ hung xanh (Anomata sp.)

9


Theo kết quả điều tra của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2014)
có 9 loài sâu hại trên sắn (bảng 1), trong đó loài rệp sáp bột hồng rất phổ biến
có độ bắt gặp trên 75%, sau đó đến loài nhện đỏ
Bảng 1 Thành phần sâu nhện hại trên sắn ở một số tỉnh miền Nam
năm 2014
Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Tên Việt Nam
Bọ phấn trắng
Bọ phấn trắng
Nhện đỏ


Tác giả Nguyễn Đức Thành và cs. sử dụng bẫy đèn trên ruộng sắn và đã
thu được 15 loài rầy bao gồm: Rầy sọc trắng (Chưa biết tên khoa học), rầy
xanh lớn (Cofana unimaculata), rầy vân nâu (Athysanus atkinsoni), rầy xanh
(Nephotettix virescens), rầy xanh (Nephotettix nigropictus), rầy xám
(Bythoscopes sp.), rầy xanh lớn (Cofana unimaculata), rầy điện quang (Recilia
dorsalis), rầy vân (Chưa biết tên khoa học), rầy (Chưa biết tên khoa học), rầy
xanh (Parabolocratus rusti custhalia), Rrầy cỏ (Chưa biết tên khoa học), rầy
vân nâu (Athysanus fusconervosus), rầy xanh (Chưa biết tên khoa học) và rầy
đầu vàng (Chưa biết tên khoa học)
Như vậy theo kết quả tổng hợp của chúng tôi, ở Việt Nam có 26 loài sâu
nhện hại sắn thuộc 4 bộ 5 họ (bảng 2)
Bảng 2 Thành phần sâu nhện hại trên sắn ở Việt Nam
Stt Tên Việt Nam
NHỆN HẠI
1
Nhện đỏ
CÔN TRÙNG HẠI

Tên khoa học

Bộ

Tetranychus urticae

Acarina

10

Họ

impressicolle
Holotrichia sinensis
Anomata sp.
Aleurodicus dispersus
Bemisia tabaci
Athysanus atkinsoni
Athysanus

Coleoptera
Coleoptera
Homotera
Homotera
Homotera
Homotera

Scarabaeidae
Scarabaeidae
Aleyrodidae
Aleyrodidae
Cicadellidae
Cicadellidae

9
10
11

Rầy xám
Rầy xanh lớn
Rầy xanh


16
17
18
19
20
21
22
23
24

rusticusthalia
Rầy điện quang
Recilia dorsalis
Rầy sọc trắng
Chưa biết
Rầy vân
Chưa biết
Rầy
Chưa biết
Rầy cỏ
Chưa biết
Rầy xanh
Chưa biết
Rầy đầu vàng
Chưa biết
Rệp sáp bột vằn
Ferrisia virgata
Rệp sáp bột đu đủ Paracoccus marginatus
Rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti
Rệp sáp giả đuôi Pseudococcus

Sâu đục thân

Isoptera

Rhinotermitidae

jackbeardsleyi
Coptotermes sp.
Chưa định danh

2.2.3. Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và biện pháp phòng
trừ loài rệp sáp bột đu đủ (Paracoccus marginatus) ở Việt Nam
Rệp sáp bột đu đủ Paracoccus marginatus là loài phổ biến và gây hại trên
nhiều loài ký chủ sẵn có ở Việt Nam như đu đủ, sắn, dâm bụt, hoa đại, dứa, ớt,
cà phê, cây có múi, đậu đỗ, cà chua, bắp cải, hoa hồng. Tuy nhiên, hiện nay
chưa có công trình nghiên cứu nào về loài này được công bố ở Việt Nam. Các
11


biện pháp phòng trừ loài rệp này chỉ là các biện pháp phòng trừ đối với các loài
rệp sáp nói chung.

PHẦN III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Loài rệp sáp bột đu đủ (Paracoccus marginatus) gây
hại trên cây sắn.
- Vật liệu nghiên cứu: một số loại thuốc hóa học khảo nghiệm trong phòng
chống rệp sáp bột đủ đủ hại sắn: Actara 25WG, Chix 2.5.EC, chế phẩm sinh



- Xác định hiệu lực phòng trừ rệp sáp bột đu đủ (Paracoccus marginatus)
của một số thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm.
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp nuôi sinh học loài rệp sáp bột đu đủ (Paracoccus
marginatus)
3.3.1.1. Vật liệu khởi đầu
- Tiến hành thu bắt loài rệp sáp bột đu đủ ngoài ruộng sắn ở pha trưởng thành
đem về phòng thí nghiệm.
- Các mẫu rệp sáp bột đu đủ được nuôi ít nhất một thế hệ trong điều kiện phòng
thí nghiệm để làm nguồn rệp thí nghiệm. Rệp trưởng thành được nuôi trên cây
sắn thí nghiệm, khi trưởng thành đẻ dùng kim côn trùng chuyển trưởng thành
để lại trứng mới đẻ để làm thí nghiệm.
3.3.1.2. Chuẩn bị cây sắn thí nghiệm
- Giâm hom sắn: Chọn thân sắn ở phần gốc hoặc phần giữa. Chặt thân sắn
thành các đoạn từ 3 đến 4 mắt (Hình 2). Các đoạn này ngâm vào dung dịch
kích thích ra rễ khoảng 10 phút, sau đó vùi vào cát ẩm khoảng 5 đến 7 ngày
cho đến khi ra rễ và mầm (Hình 2). Tiếp đó chuyển mỗi đoạn thân sắn đã nảy
mầm vào một cốc nhựa trồng cây, giá thể trồng là đất tơi xốp (Hình 3).
- Điều kiện nhân nuôi: Theo các ngưỡng nhiệt độ, ẩm độ nuôi cần nghiên cứu.

Hình 1

Hình 3

Hình 2

3.3.1.3. Tiến hành nuôi
- Phương pháp nuôi: theo phương pháp nuôi sinh học cá thể trong phòng

12-36 giờ
15


Làm sạch: trong cồn ethanol 70% cho đến khi mẫu
trong (dùng kim dầm nhẹ)

Nhuộm màu: trong hỗn hợp axít fuchsine, lignin hồng
và EAF trong 15-30 phút

Làm khô mẫu: trong axít acetic từ 1-5 phút

Ngâm mẫu trong dầu đinh hương khoảng 15 phút hoặc
lâu hơn

Đưa mẫu lên lam: nhỏ 1 giọt Canada balsam (nhựa
Canada) sau đó cho mẫu vào, chỉnh mẫu dưới kính

- Soi tiêu bản dưới kính hiển vi các pha phát triển của rệp sáp bột đu đủ. Tiến
hành chụp ảnh, đo kích thước (chiều ngang tại nơi rộng nhất, chiều dài từ đầu
đến cuối cơ thể không kể đuôi), mô tả đặc điểm màu sắc, số lượng tua xung
quanh cơ thể. Mỗi pha phát dục được tiến hành với n=10 cá thể.
3.3.3. Phương pháp thử thuốc phòng trừ rệp sáp bột đu đủ
- Thuốc sử dụng thí nghiệm:
+ Actara 25WG-Hoạt chất Thiamethoxam (min 95%)
+ Chix 2.5.EC- Hoạt chất Beta-cypermethrin (min 98%)
+ Chế phẩm sinh học: TKS – BTMET (nấm xanh, nấm trắng, nấm tím)
-Phương pháp thí nghiệm:
16


Sx =
Trong đó:
là giá trị trung bình mẫu điều tra.
là giá trị thứ i.
N là tổng số mẫu điều tra.

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Một số đặc điểm hình thái của rệp sáp bột đu đủ (Paracoccus
marginatus)
- Đặc điểm hình thái của pha trứng: trứng có màu vàng nhạt. Trứng được đẻ
thành ổ (nằm trong túi trứng), ổ trứng được phủ bởi lớp bông màu trắng.

18


- Ấu trùng tuổi 1,2: hình bầu dục, màu vàng nhạt, có 3 đôi chân, râu đầu 6 đốt.
Ấu trùng tuổi 2 bắt đầu tiết ra lớp bột sáp màu trắng trên mặt lưng của cơ thể.
Cuối tuổi 2 ấu trùng đực bắt đầu chuyển sang màu hồng.
- Ấu trùng tuổi 3: ấu trùng cái màu vàng, xuất hiện túi trứng có các sợi lông sáp
màu trắng dài ở mép bụng, ấu trùng đực cơ thể chuyển sang màu hồng
- Ấu trùng đực tuổi 4 (nhộng) : Kén có hình trụ màu trắng, nhộng có râu đầu 10
đốt.
- Đặc điểm hình thái của trưởng thành: cơ thể mềm, màu vàng nhạt, phủ một
lớp bột sáp mỏng màu trắng lộ rõ các đốt ngang , hình bầu dục dài, lưng vồng
lên, có 17 cặp cerarii (vị trí tạo ra cặp tua sáp) xung quanh cơ thể, xuất hiện các
ống bụng có miệng hình bánh xe về phía bên phần ngực, xuất hiện gờ hậu môn
(anal bar) ở phần bụng trên mỗi thùy hậu môn, lông cứng ở phần lưng thường
bằng hoặc ngắn hơn lông sáp cứng hình nón. Trưởng thành cái râu đầu 8 đốt,
ống dẫn có miệng hình bánh xe (oral-rim tubular ducts) nằm ở vùng mép của
cơ thể, có các lỗ mờ ở xương đùi chân sau. Trưởng thành đực có có lông thịt

Dài
Rộng
Dài
Rộng
Dài
Rộng
Dài
Rộng
Dài

Kích thước cơ thể (mm)
Min
Max
Trung bình
0,29
0,33
0,31±0,014
0,12
1,15
0,14±0,011
0,41
0,45
0,43±0,013
0,20
0,23
0,22±0,010
0,72
0,45

0,74

0,43

Dài

0,95

Rộng

0,41

Dài
Rộng
Dài
Rộng

2,1
1,2

3,0
1,5

2,70±0,249
1,35±0,085

0,9
0,2

1,1
0,4



Lỗ mờ ở xương đùi chân sau con
cái (Transluscent pores) P.
marginatus

Râu đầu rệp cái P. marginatus

Ống dẫn hình bánh xe (Oral-rims
tubular ducts) ở con cái P.
marginatus
22


4.2 Một số đặc điểm sinh vật học của rệp sáp bột đu đủ (Paracoccus
marginatus)
4.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của các pha phát dục đối với
Paracoccus marginatus
Kết quả nuôi sinh học rệp sáp bột đu đủ Paracoccus marginatus nuôi trên cây
sắn ở ngưỡng nhiệt độ 25oC và độ ẩm 60% cho thấy pha trứng kéo dài nhất,
giai đoạn trước trưởng thành của rệp đực dài hơn rệp cái, giai đoạn này kéo dài
gần 1 tháng. So sánh với kết quả của tác giả Amarasekare et al. (2008) nuôi
trên cây đại hoa đỏ, dâm bụt, cỏ tai tượng và cây cúc liên chi dại cho thấy thời
gian phát triển của con đực không có khác biệt nhiều, với con cái nuôi trên cây
sắn cho thời gian phát triển ngắn hơn (Bảng 4.2).
Bảng 4.2 Thời gian phát triển từ pha trứng đến trước trước trưởng thành của rệp sáp
bột đu đủ Paracoccus marginatus ở ngưỡng 25oC, độ ẩm 60%
Thời gian phát triển của các pha (ngày)
Trứng

Ấu

4,22±0,83 26,89±2,26 26,00±1,73

Kết quả ở bảng 4.3 cho thấy vòng đời của loài rệp sáp bột đu đủ trên cây sắn
kéo dài khoảng 39 ngày. So sánh với kết quả của tác giả Amarasekare et al.
(2008) nuôi trên 4 cây ký chủ đã đề cập ở trên, vòng đời trên cây đu đủ là dài
nhất.
Bảng 4.3 Thời gian phát triển pha trưởng thành của rệp sáp bột đu đủ Paracoccus
marginatus ở ngưỡng 25oC, độ ẩm 60%
Thời gian phát triển của pha trưởng thành (ngày)
Thời kỳ

Thời kỳ đẻ

trước đẻ

trứng

trứng

Vòng đời

Thời gian sống của
trưởng thành
Đực
Cái
23

Đời
Đực


tuổi 1

Ấu trùng tuổi 2

Ấu trùng tuổi 3

Đực

Đực

Cái

7,48±0,57 4,67±0,49 5,55±0,51 3,78±0,67

Cái
6,15±0,67

Ấu trùng
đực tuổi
4
(nhộng)
4,56±0,53

Tổng
Đực

Cái

34,33±0,87



3,56 ± 0,73

Đời
Đực

17,55 ± 0,10 37,89 ± 1,36

Một số hình ảnh phát triển của rệp24
P. marginatus nuôi trên cây sắn

Cái
50,20 ± 1,94



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status