ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÁT SINH PHẾ THẢI ĐỒNG RUỘNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬLÝ TẠI XÃ MINH TÂN,HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH - Pdf 43

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
-----------------------------------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÁT SINH PHẾ THẢI
ĐỒNG RUỘNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
XỬLÝ TẠI XÃ MINH TÂN,HUYỆN ĐÔNG HƯNG,
TỈNH THÁI BÌNH.

Người thực hiện
Lớp :

MTD

: NGUYỄN THỊ HẰNG
Khóa : 57

Ngành

: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Giáo viên hướng dẫn

: ThS. NGUYỄN TÚ ĐIỆP

Địa điểm thực tập

: MINH TÂN, ĐÔNG HƯNG, THÁI BÌNH

khuyến khích, động viên em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Thị Hằng

3


MỤC LỤC

4


DANH MỤC VIẾT TẮT
VSV

:

Vi sinh vật

BVTV

:

Bảo vệ thực vật

ĐBSH


:

Thương mại dịch vụ

HTXDVNN

:

Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp

5


DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH ẢNH

6


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, điều kiện sinh thái
đa dạng, đất đai màu mỡ với hơn 10 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp trong
tổng số 33.1 triệu ha diện tích đất tự nhiên, dân số sống chủ yếu bằng nghề
nông là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa với quy mô lớn. Vì thế, nông nghiệp được xác định là ngành truyền
thống mũi nhọn để tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất
nước. Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật
trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm

sinh phế thải đồng ruộng và đề xuất một số giải pháp xử lý tại xã Minh
Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”.
2. Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu


Điều tra lượng phế thải đồng ruộng trong sản xuất nông nghiệp tại xã



Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý phế thải đồng ruộng.

2.2. Yêu cầu


Sử dụng phiếu điều tra để thu thập thông tin từ nông hộ, cán bộ địa



phương, những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Khảo sát thực địa, chụp ảnh, ghi nhận các thông tin về khối lượng,



thành phần phế thải đồng ruộng và các biện pháp xử lý
Các biện pháp đề xuất phải có tính khả thi

88


chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và
99


không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine…) (Từ điển bách khoa Việt Nam 3,
2003)
Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông
nghiệp. Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây
giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm.
1.1.1.2. Thực trạng sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới, lúa gạo chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là vùng Châu
Á. Ở Châu Á, gạo là món ăn chính. Theo thống kê của tổ chức lương thực thế
giới (FAO, 2008) cho thấy: có 114 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện
tích trồng lúa trên 1 triệu ha tập trung ở Châu Á, 31 nước có diện tích trồng
lúa khoảng 100 nghìn ha – 1 triệu ha. Trong đó có 27 nước có năng suất trên 5
tấn/ha, đứng đầu là Ai Cập (9,7 tấn/ha)
Sản xuất lúa gạo trong vài thập kỉ gần đây có mức tăng trưởng đáng kể.
trong năm 2013, triển vọng về sản xuất lúa gạo trên thế giới đã xấu đi đáng kể
khi mà sản lượng gạo tại Trung Quốc và Ấn Độ là 2 quốc gia xuất khẩu gạo
đứng đầu thế giới có xu hướng giảm.
Trong số các khu vực, Châu Á được đánh giá là khu vực có sự tăng
trưởng khiêm tốn với sản lượng lúa gạo năm 2014 là 679 triệu tấn, chỉ tăng
0,2% tương đương 1,1 triệu tấn so với năm 2013. Điều này phản ánh sự tăng
trưởng chậm ở một số nước như Ấn Độ, Indonexia, Nê-pan, Xri Lan-ca và
Thái Lan. Trái lại, Băng-la-đét, Trung Quốc, Mi-an-ma, Pa-kít-xtan, Phi-lippin và Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng tốt nhờ những biện pháp hỗ trợ
từ phía Chính phủ. Triển vọng tại khu vực châu Phi khá lạc quan với sản
lượng tăng 3,8% (tương đương với 1 triệu tấn) ở mức 28,3 triệu tấn (trong đó
gạo đã xay xát là 18,5 triệu tấn). Đặc biệt là sự phục hồi của Ma-đa-grat-xca
từ vụ lúa thất bại năm 2013 nhờ lượng mưa đầy đủ và tỷ lệ mắc sâu bệnh

giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2014 (theo giá
cố định năm 2010) ước đạt 357,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ
năm trước; trong đó, nông nghiệp đạt 261,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7%; lâm
11


nghiệp đạt 11,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9% và thủy sản đạt 84,0 nghìn tỷ đồng,
tăng 6,0%.
Tổng diện tích gieo trồng nước ta là 11,4815 triệu ha; trong đó, diện tích
lúa năm 2013 ước đạt 7,9 triêu ha chiếm gần 70% diện tích gieo trồng của cả
nước, với sản lượng ước đạt 44,1 triệu tấn. Dưới đây là bảng diện tích và sản
lượng lúa nước ta những năm gần đây.
Bảng 1.1. Diện tích và năng suất lúa năm 2010 - 2013
Năm

Diện tích
(nghìn ha)

Sản lượng
(nghìn tấn)

2010

7489,4

40005,6

2011

7655,4

Năm 2005
Sản
Diện tích
lượng
(nghìn
(nghìn
ha)
tấn)

Năng
suất
(tạ/ha)

Năm 2013
Sản
Diện tích
lượng
(nghìn
(nghìn
ha)
tấn)

Năng
suất
(tạ/ha)

ĐBSH

584,2


Tại ĐBSCL, từ năm 1975 đến 2008 có những bước chuyển biến rõ rệt.
Từ một vụ lúa mùa, năng suất thấp, bấp bênh nay người dân tăng canh thành
2-3 vụ ngắn ngày, năng suất cao, ổn định. Cụ thể năm 2013, diện tích gieo
trồng tăng lên 120,8 ha, năng suất lúa năm 2013 cũng tăng 7,2 tạ/ha so với
năm 2005.
Việc thâm canh xen vụ được các địa phương miền Bắc tận dụng tối đa,
đặc biệt là trong vụ Đông Xuân, bên cạnh cây trồng chủ lực là lúa, cây đậu,
lạc, ngô được trồng nhằm tận dụng hiệu suất sử dụng đất đai. Trong đó, cây
ngô được trồng nhiều ở các bãi bồi ven sông dọc theo hệ thống sông Hồng –
Thái Bình. Diện tích ngô trồng nhiều nhất ở vùng trung du miền núi phía Bắc
chiếm gần 40%, kế tiếp là Tây Nguyên chiếm trên 20% diện tích trồng ngô cả
nước; trong khi đó lạc và đỗ được trồng nhiều tại các địa phương miền Bắc và
Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Hà Giang.

13


1.1.2. Thực trạng phế thải đồng ruộng trên thế giới và Việt Nam
Để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi
các quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng diện tích sản xuất, sản lượng
như áp dụng các tiến bộ KH – KT nâng cao năng suất, sản lượng nông sản.
Đồng nghĩa với việc này là ngành nông nghiệp cũng để lại một lượng chất
thải rắn hàng năm rất lớn.
1.1.2.1. Khái niệm, nguồn gốc, thành phần và phân loại phế thải đồng ruộng
a. Khái niệm:
Phế thải đồng ruộng là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất
nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ…), thu hoạch
nông sản(rơm rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô), bao bì đựng phân bón, thuốc
BVTV. (Báo cáo môi trường Quốc gia, 2011)
b. Nguồn gốc:

cỏ bị con người loại bỏ trong khi chăm sóc cây trồng. Trong quá trình sinh
trưởng của cây, để đảm bảo cây sinh trưởng, phát triển tốt con người đã sử
dụng nhiều loại phân bón, hóa chất BVTV; tuy nhiên bao bì, chai lọ củachúng
lại bị vứt bừa bãi, lưu lại trên đồng ruộng trở thành phế thải đồng ruộng. Phế
thải đồng ruộng còn phát sinh trong quá trình thu hoạch nông sản như: rơm rạ,
thân lõi ngô, trấu, cám…Đây là nguồn phế thải chính trong phế thải đồng
ruộng và hiện đang là nguồn gây ô nhiễm trầm trọng nếu không được xử lý
kịp thời.
c. Thành phần:
Phần lớn phế thải đồng ruộng là phế thải hữu cơ có thành phần phong
phú, đa dạng, chúng đều thuộc 2 nhóm hợp chất chính là: nhóm hợp chất hữu
cơ chứa cacbon gồm xenluloza, hemixenluloza, pectin, lignin, tinh bột và
nhóm hợp chất hữu cơ chứa nito gồm protein, kitin. Trong đó, thành phần chủ
yếu là chất hữu cơ chứa cacbon thông thường chiếm khoảng 40 – 50%, đôi
khi lên đến 70 – 80%.
Bảng1.3: Hàm lượng xenluloza trong một số tàn dư thực vật trên
đồng ruộng
Loại tàn dư thực vật
Xenluloza (%)
Bông
Vỏ hạt
60
Sợi
91
Gỗ thông
41
Rơm
Lúa mì
30,5
Lúa mạch

Phế thải đồng ruộng được phân loại theo nhiều cách khác nhau như:
theo nguồn gốc phát sinh, tính nguy hại, thành phần hóa học và theo khả năng
phân hủy sinh học. Trong phạm vi của khóa luận này, tôi chỉ tìm hiểu cách
phân loại phế thải đồng ruộng theo nguồn gốc phát sinh để từ đó đưa ra các
giải pháp xử lý loại phế thải này.
Theo nguồn gốc phát sinh, phế thải đồng ruộng gồm các phế thải có
nguồn gốc từ các phế phụ phẩm trồng trọt và từ các bao bì đựng các hóa chất
sử dụng trong nông nghiệp.
Các phế phụ phẩm trồng trọt gồm các loại phế thải trong quá trình thu
hoạch và chế biến nhiều loại cây trồng khác nhau như; các loại rơm, rạ sau
khi thu hoạch lúa tại các cánh đồng, các loại lá, thân cây, cỏ dại tại các vườn
cây, các phần dập của cây lúa không sử dụng được ở các ruộng sau khi thu
hoạch…
Chất thải từ các bao bì đựng hóa chất sử dụng trong nông nghiệp gồm
chai, lọ…bằng thủy tinh hoặc nhựa được dùng làm vỏ đựng thuốc trừ sâu, trừ
cỏ, thuốc diệt côn trùng, thuốc chữa bệnh cho động vật sau khi đã qua sử
dụng được thải bỏ, các túi nilon, túi giấy dùng đựng phân bón vi sinh, phân
đạm, phân lân và kể cả các hóa chất BVTV đã quá hạn sử dụng… Đây là các
vật phẩm có tính nguy hại cao, cần phải có biện pháp thu gom và xử lý thích
hợp.
16


1.1.2.2. Thực trạng phế thải đồng ruộng trên thế giới
Theo IEA, trong năm 2010 các nước trên thế giới thải ra khoảng 5,1 tỷ
tấn chất thải nông nghiệp. Theo số liệu thống kê năm 2013 của Fan Feng thì
lượng chất thải hữu cơ của Trung Quốc được thể hiện trong bảng dưới đây
1.1.2.3. Thực trạng phế thải đồng ruộng ở Việt Nam
Điều kiện tự nhiên nước ta rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển
của cây trồng, điều đó cũng đồng nghĩa với lượng phế thải gia tăng rất nhanh,

Bao bì phân bón

Từ bảng trên ta thấy lượng phế thải hữu cơ dễ phân hủy ở nước ta
chiếm phần lớn. Tuy nhiên, nguồn phế thải này đang bị coi là rác thải tự
nhiên, đang bị lãng phí, nguy hiểm hơn là rất có thể trở thành nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường như việc đốt rơm rạ, đổ phế thải xuống sông, kênh
mương,… gây nhiều hậu quả ảnh hưởng xấu tới môi trường nước, không khí.
Và việc tận thu nguồn phế thải này còn khá nhiều hạn chế.
Đối với bao bì hóa chất BVTV, phân bón hóa học việc thu gom, xử lý
chất thải từ bao bì hiện còn nhiều hạn chế. Đây là phế thải nông nghiệp được
xếp vào mục chất thải nguy hại cần phải thu gom, xử lý đúng quy định.
17


Nhưng thực tế, loại phế thải này thường bị vứt bừa bãi tại ruộng, góc vườn,
hoặc nguy hiểm hơn là vứt ngay đầu nguồn nước sinh hoạt. Một phần được
thu gom thì đều chưa có công nghệ xử lý, mới chỉ được đem đốt hoặc chôn
lấp ở xa khu dân cư. Ở nhiều địa phương, người dân còn thu gom chung loại
phế thải nguy hại này với rác thải sinh hoạt, mà lượng rác thải sinh hoạt cũng
chỉ 40 – 55% là được thu gom. Việc thu gom vẫn còn rất thô sơ, lạc hậu, chưa
đáp ứng yêu cầu và chưa đảm bảo cho môi trường và con người.
1.1.3. Tác động của phế thải đồng ruộng đến môi trường và sức khỏe con
người
Theo các số liệu thống kê ở trên cho thấy lượng phế thải do hoạt động
nông nghiệp để lại hàng năm là rất lớn. Nếu lượng phế thải này không được
xử lý, quản lý chặt chẽ thì nó sẽ làm nảy sinh một số vấn đề như ảnh hưởng
đến môi trường đất, môi trường nước, không khí và sức khỏe cộng đồng.
Các phế thải đặc biệt là phế thải hữu cơ khi tồn tại trong môi trường sẽ
xảy ra quá trình phân hủy ảnh hưởng đến môi trường không khí. Các hợp chất
khí như H2S, SO2,… phát sinh gây ô nhiễm không khí và mùi khó chịu. Đặc

lúa, rơm rạ cuối vụ thường được người dân đốt ngay trên đường hoặc tại
ruộng gây khói bụi làm ảnh hưởng đến giao thông và trực tiếp đến sức khỏe
con người.
Vì vậy,cần phải đưa ragiải pháp xử lý phế thải một cách hiệu quả nhất.
1.2. Tính kinh tế trong quản lý và xử lý phế thải đồng ruộng
1.2.1. Tính kinh tế của phế thải đồng ruộng
Hiện nay, lượng chất thải rắn nông nghiệp của cả nước ta ước tính hàng
năm khoảng 150 triệu tấn. Nếu tính giá trị sử dụng năng lượng thì nó tương
đương khoảng 20 triệu tấn than cám hoặc trên 9 triệu tấn dầu thô (Manfred
Oepen, 1999). Chính vì vậy, nếu chúng ta sớm có kế hoạch khai thác sử dụng
hợp lý với các chính sách phát triển thích hợp thì nó sẽ trở thành một nguồn
năng lượng đáng kể mang lại hiệu quả cao cả về kinh tế - xã hội lẫn môi
trường.
Phế thải đồng ruộng không chỉ đơn thuần có giá trị năng lượng cao mà
còn có giá trị vật chất rất thiết thực đối với quá trình sản xuất nông nghiệp và
một số lĩnh vực công nghiệp khác.
19


Trước đây, các phế thải đồng ruộng được người dân tận dụng tối đa để
tái sử dụng làm chất đốt cho gia đình, làm giá nấm, làm thức ăn gia súc, vật
liệu độn chuồng.
Trong xử lý phế thải đồng ruộng bằng phân hủy kị khí, khí sinh học tạo
ra được sử dụng làm chất đốt cho gia đình, bã thải đặc có hàm lượng chất
dinh dưỡng cao, giàu hữu cơ, nhiều acid Humic là nguồn phân hữu cơ an toàn
đề bón ruộng, ngoài ra bã thải của quá trình còn chứa nhiều chất dinh dưỡng
cần thiết cho động vật như những nguyên tố: Ca, P, N và một số nguyên tố vi
lượng khác như Cu, Zn, Mn, nhiều axít amin, enzim, do đó còn được dùng
làm thức ăn cho chăn nuôi. Nước thải của túi biogas dùng để nuôi tảo, thực
vật phù du khác, làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho cá.

thải nông nghiệp để đun nấu, sưởi ấm. Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc
của khoa học kĩ thuật, người ta đã nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ
đốt sử dụng phế thải nông nghiệp để thu hồi nhiệt lượng phục vụ cho việc
phơi sấy nông sản, để phát điện…
Từ những lợi ích nêu trên đã cho thấy, phế thải đồng ruộng có thể mang
lại những lợi ích thiết thực về kinh tế- xã hội, về môi trường và sức khỏe con
người. Đồng thời, cũng có thế gây ra những ảnh hưởng không nhỏ nếu như nó
không được xử lý và quản lý chặt chẽ. Vì vậy, quản lý và xử lý phế thải đồng
ruộng là một vấn đề cần được quan tâm đúng mức.
1.3. Các biện pháp xử lý phế thải đồng ruộng hiện nay
Sau đây một số phương pháp điển hình được áp dụng nhiều trên thế
giới và Việt Nam hiện nay:
1.3.1. Phương pháp đốt
Đây là biện pháp được xử lý khá phổ biến trong xử lý phế thải đồng
ruộng hiện nay, do lượng phế thải quá nhiều và rất dễ cháy. Phương pháp này
vốn được người dân Nam bộ sử dụng từ lâu để tiêu hủy lượng rơm rạ trên
đồng ruộng và tro sau quá trình đốt được xem là phân bón. Hiện tượng đốt
phế thải nông nghiệp ngay trên đồng ruộng hiện nay đã lan ra cả những vùng
đồng bằng sông Hồng.
Phương pháp này có ưu điểm là làm nhanh, đơn giản, dễ làm, giảm giá
thành, không tốn công, tiêu hủy mầm bệnh và giảm thiểu sâu bệnh hại trên
đồng ruộng.
21


Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là gây mất mát một lượng
lớn chất dinh dưỡng đất, gây ô nhiễm môi trường không khí, gây hiệu ứng
nhà kính và làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt là các bệnh về
đường hô hấp. Ngoài ra, nó còn gây hiện tượng khói mù cản trở tầm nhìn của
người điều khiển phương tiện giao thông. Vì vậy, phương pháp này cần phải

máy móc thích hợp khi làm đất. Vì thế, phương pháp này không phù hợp với
thực trạng nên sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay.
1.3.4. Phương pháp dùng làm thức ăn gia súc
Đây là biện pháp thay thế bền vững hơn so với phương pháp đốt và vùi
rơm rạ vào đất. Các phế phụ phẩm này được giữ lại làm thức ăn cho trâu, bò,
dê,…
Phương pháp này có ưu điểm là: Đem lại hiệu quả kinh tế, tiết kiệm
được tiền cho việc mua thức ăn gia súc. Hạn chế ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó phương pháp này cũng có một số điểm hạn chế sau: Làm
hở vòng quay vật chất, chất dinh dưỡng bị mang đi mà chưa được bù lại cho
đất. Tốn lao động cho việc thu gom.
1.3.5. Phương pháp ủ làm phân
Phương pháp ủ đã có từ rất lâu đời và diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Từ rất xa xưa, con người đã biết ủ lá cây, phân gia súc để bón cho cây trồng.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề ủ chất
thải thành phân bón và được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nơi.
Ưu điểm củaphương pháp này là: Hạn chế được ô nhiễm môi trường,
gìn giữ được cảnh quan, trả lại lượng chất hữu cơ cho đất, đem lại hiệu quả
kinh tế cho người nông dân, tiêu diệt mầm bệnh và làm sạch đồng ruộng.
Bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp này đòi hỏi phải tiến hành
theo quy trình nhất định đòi hỏi thời gian và công lao động.
1.3.6. Phương pháp sinh học
Hiện nay, phương pháp sinh học để xử lý phế thải là phương pháp tối
ưu nhất, đang được tất cả các nước sử dụng.
Phương pháp sinh học là dùng công nghệ VSV để phân hủy phế thải.
Muốn thực hiện được phương pháp này, điều quan trọng nhất là phải phân
loại được phế thải, vì trong phế thải còn nhiều phế liệu khó phân giải như: túi
polyetylen, vỏ chai lọ bằng thủy tinh và nhựa,…
23


24


Phạm Văn Ty và các cộng sự đã phân lập được hàng trăm chủng VSV
có khả năng phân giải xenluloza, lignin, hemixenluloza. Tác giả đã xây dựng
được quy trình sản xuất chế phẩm phân giải chất hữu cơ đạt huy chương vàng
hội chợ triển lãm kinh tế toàn quốc năm 1987. Kết quả thử nghiệm xử lý bằng
chế phẩm đã rút ngắn thời gian ủ xuống còn 45 – 60 ngày thay vì 6 tháng đến
1 năm, thậm chí 2 năm với điều kiện tự nhiên.
Đề tài cấp nhà nước KHCN 02 – 06A, giai đoạn 1996 – 1998 “ Nghiên
cứu và áp dụng công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ
nguồn phế thải hữu cơ rắn”, đã phân lập từ mẫu rác ở một số tỉnh phía Bắc
tuyển chọn được 2 chủng xạ khuẩn X50 thuộc loài Streptomyces gougero và
chủng X20 Streptomyces macrosporrus, 2 chủng vi khuẩn là V40 thuộc loài
Cellulomona.sp và V31 thuộc loài Corynebaccoerium.sp và 2 chủng nấm N11
thuộc loài A.japonicus và N3 thuộc loài A.unilaterralis. Các chủng này có khả
năng phân hủy chuyển hóa các hợp chất hữu cơ khó phân giải như xenluloza,
hemixenluloza, có khả năng sinh tổng hợp các enzyme ngoại bào như:
amylaza, proteiaza, pectinaza…Khi nghiên cứu các tác động của VSV vào
quá trình phân hủy rác các tác giả nhận thấy khi chúng tác động đồng thời
theo tỉ lệ phối trộn giữa vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm là 1:1:1 sẽ cho hiệu quả cao
hơn khi chúng có tác động riêng rẽ.
Năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Thành và các cộng sự đã nghiên cứu
thành công đề tài khoa học cấp Bộ B2004-32-66: “Xây dựng quy trình sản
xuất chế phẩm VSV xử lí tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân hữu cơ
tại chỗ bón cho cây trồng”. Quy trình sản xuất chế phẩm VSV xử lí tàn dư
thực vật trên đồng ruộng đạt TCVN. Chế phẩm được thử nghiệm đem lại hiệu
quả cao, rút ngắn thời gian xử lý so với đối chứng xuống còn 46-60 ngày, có
hàm lượng dinh dưỡng tăng… có thể làm phân bón hữu cơ tại chỗ cho nhiều
loại cây trồng, giảm bớt chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status