BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-------------------
NGUYỄN DUY THÀNH
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ RÔ PHI BỀN VỮNG TẠI
TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản
Mã số
: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Huy Điền
Hà Nội - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc.
Bắc Ninh, ngày 10 tháng 05 năm 2012
Tác giả
Tác giả
Nguyễn Duy Thành
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
2.1
Đặc điểm sinh học cá rô phi
3
2.2
Tình hình nuôi cá rô phi
5
2.3
Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống
14
2.4
Nghiên cứu dinh dưỡng và sử dụng thức ăn nuôi cá rô phi
19
2.5
Nuôi cá rô phi trong ao đất
22
Phương pháp nghiên cứu
44
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
45
4.1
45
Hiện trạng nuôi thủy sản và nuôi cá rô phi
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
iii
4.1.1
Hiện trạng phát triển NTTS
45
4.1.2
Hiện trạng nuôi cá rô phi ở Ninh Bình
67
4.4
Bệnh dịch và biện pháp phòng trừ
68
4.5
Khả năng đầu tư của người dân và tham gia đào tạo tại chỗ về
NTTS
69
4.6
Đánh giá thuận lợi và khó khăn
70
4.6.1
Thuận lợi
70
4.6.2
Khó khăn
88
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Diễn giải chữ viết tắt
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
VSATTP
Vệ sinh an toàn thực phẩm
ĐBSCL
Đồng bằng sông cửu long
ĐBSH
Đồng bằng sông hồng
BQ
ĐVPD
Động vật phù du
ĐVT
Đơn vị tính
KTTS
Khai thác thủy sản
KTHS
Khai thác hải sản
KT- XH
Kinh tế - xã hội
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NS
Năng suất
QC
UBND
Uỷ ban nhân dân
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
v
DANH MỤC BẢNG
TT
Tên bảng
2.1
Khẩu phần ăn của cá rô phi ở các cỡ cá khác nhau
2.2
Nhu cầu protein cá rô phi (O.niloticus) giai đoạn cá hương, cá
Trang
4
giống
19
4.2
Hiện trạng năng suất, sản lượng NTTS tỉnh Ninh Bình giai đoạn
2005-2010
47
4.3
Diện tích, sản lượng nuôi cá rô phi năm 2010
48
4.4
Diện tích ao nuôi cá nông hộ
49
4.5
Các thông số kỹ thuật điều tra nuôi cá rô phi trong ao đất của các
nông hộ
4.6
51
Hạch toán các mô hình nuôi cá rô phi thương phẩm trong hệ
Nguồn cá giống và lý do chọn mua cá giống
63
4.12
Khách mua cá tại ao và tại chợ cá đầu mối tỉnh Ninh Bình
64
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
vi
4.13
Giá cá thương phẩm bán buôn và lượng tiêu thụ trong ngày tại ao
nuôi
4.14
65
Kết quả điều tra thời điểm giá cá rô phi thương phẩm giảm trong
năm
66
Trang
7
7
2.3
Sản lượng cá rô phi theo các nước và lãnh thổ nuôi năm 2003
10
2.4
Tỷ lệ sản lượng cá rô phi các nước trên thế giới năm 2009
11
2.5
Hiệu quả giá trị kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam
giai đoạn 2005-2008
28
2.6
Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Bình
37
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
viii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ninh Bình là tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) với diện
tích tự nhiên là 1.382,0 km2, có chiều dài bờ biển là 18 km, với 2 cửa sông lớn
là cửa Đáy và cửa Càn; có 18.436 ha đất mặt nước tiềm năng nội địa có thể
phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Là tỉnh có vị trí Địa lý - Kinh tế quan trọng chỉ
cách trung tâm thủ đô Hà Nội 90 km - Nơi tiêu thụ một khối lượng lớn các
sản phẩm thuỷ sản nói riêng, sản phẩm nông nghiệp nói chung - Đây là những
yếu tố quan trọng đầu tiên cho phát triển ngành kinh tế thuỷ sản của tỉnh.
Trong những năm qua, ngành thuỷ sản Ninh Bình đã và đang có những
bước phát triển chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. Tổng sản lượng
thuỷ sản năm 2010 đã đạt 19.987 tấn, giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá thực tế năm
2010 đã đạt 429.158 triệu đồng. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh ở cả hai
vùng nước ngọt và nước lợ, tạo thành những vùng nuôi có diện tích tập trung lớn.
Bên cạnh các đối tượng cá nuôi truyền thống (mè, trôi, trắm, chép…),
trong những năm trở lại đây phong trào nuôi cá rô phi phát triển khá mạnh.
Tuy nhiên phong trào nuôi rô phi vẫn chỉ mang tính tự phát của người nuôi
mà chưa theo một qui hoạch nào. Thực tế thì nghề NTTS tại Ninh Bình cũng
như nuôi cá rô phi còn đang đứng trước nhiều khó khăn: về định hướng, cơ sở
hạ tầng phục vụ NTTS một số vùng nuôi; hệ thống thủy lợi, đường giao thông
và hệ thống điện còn yếu kém. Sản xuất cá rô phi giống trong tỉnh chưa đáp
ứng về số lượng và chất lượng, cá rô phi thương phẩm nhiều thời điểm rất khó
tiêu thụ, người nuôi bị ép bán với giá thấp.
Xuất phát từ những khó khăn của nghề nuôi nuôi trồng thủy sản nói
chung và nghề nuôi cá rô phi nói riêng của tỉnh Ninh Bình chúng tôi tiến hành
biến; cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus), cá rô phi xanh (Oreochromis
aureus), cá rô phi đen (Oreochromis mosambica), sản lượng rô phi trên thế
giới của 3 loài này chiếm chủ yếu, trong đó sản lượng rô phi vằn chiếm tới
83% tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới. Cá rô phi vằn được coi là loài có
nhiều ưu điểm bởi chúng có khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường
nước khác nhau chịu được chất lượng môi trường nước kém như nước thải, ít
bị bệnh dịch và thịt thơm ngon. Đặc biệt chúng có thể chịu đựng được điều
kiện môi trường oxy hòa tan thấp.
Tính ăn: Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và
môi trường nuôi. Cá rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ
yếu là tảo và 1 phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ. Ở giai đoạn cá con từ
cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là động vật phù du (ÐVPD) và 1 ít thực
vật phù du (TVPD). Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành thức ăn chủ
yếu là mùn bã hữu cơ và TVPD. Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo
xanh, tảo lục mà 1 số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá. Ngoài ra cá rô
phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm
nông nghiệp khác.
Ðặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám
gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá ... và các phụ phẩm nông nghiệp
khác. Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao
(18-35% Protein).
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
3
Cá rô phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với cá chép về thành phần
tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5- 2%), P (1- 1,5%), K, Na chỉ có một điều khác là
thức ăn của cá rô phi yêu cầu về hàm lượng đạm thấp hơn. Ðiều này rất có ý
PH: Trong NTTS, pH của nước từ 6,5-8,5 được coi như là phù hợp cho
các loài cá nuôi. pH ảnh hưởng tới tính độc của amonia, nitrit và hydrogen
sulfphile. pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hướng tới sức khỏe cá. Ngưỡng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
4
pH giới hạn của cá rô phi nằm trong khoảng từ 4-11 [39]. Ngưỡng pH thích
hợp 6,5-9[69].
Độ mặn: Cá rô phi thích nghi ở độ mặn rộng. O.Niloticus có thể sống ở
độ mặn 13-29‰ (Philippart và Ruwet, 1982). Môi trường có độ mặn 5-10‰
là thích hợp cho cá rô phi vằn phát triển (Sucresh và Lin, 1992).
Đặc điểm sinh sản: Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong
điều kiện bình thường ao nuôi mà không cần tác nhân kích thích sinh sản. Cá
rô phi O.Niloticus đực đào hố ở đáy ao, cá cái đẻ trứng vào hố cùng thời điểm
đó cá đực tưới tinh dịch vào trứng của cá cái. Sau khi trứng đã thụ tinh cá cái
nhặt trứng vào miệng và ấp trong miệng. Mỗi cá cái trung bình đẻ từ vài trăm
đến 2.000/lứa. Thời gian ấm tính từ khi cá cái nhặt trứng từ ổ để ấp trong
miệng đến khi thành cá bột khoảng 10 ngày. Thời gian ấp tùy thuộc nhiệt độ
nước, ở nhiệt độ 300C thời gian kéo dài khoảng 3 ngày. Sau khi nở cá bột tiếp
tục được cá mẹ bảo vệ đến khi cá con tiêu hết noãn hoàng thì chúng sống độc
lập [60].
2.2. Tình hình nuôi cá rô phi
2.2.1. Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau
những loài cá chép (Fitzsimmons, K và Gonznlez, P, 2005). Sản lượng cá rô
phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá rô
lượng cá rô phi vào năm 2002 tăng hơn 390% so với sản lượng vào năm 1990
là 1.505.804 tấn (FAO, 2004).
Trong giai đoạn 5 năm từ 2003-2007, sản lượng cá nuôi tăng đến
60%, từ 1,58 triệu tấn lên 2,51 triệu tấn. Sản lượng cá rô phi nuôi năm 2009
đã vượt quá 3 triệu tấn đến năm 2010 đạt 3,7 triệu tấn.
Nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất thế giới là Trung Quốc, chiếm
đến 45% tổng sản lượng toàn cầu. Các nhà sản xuất lớn khác đáng chú ý có
Ai-cập,
Inđônêxia,
Philippin, Thái Lan,
Braxin, Đài Loan,
Honđurat,
Côlômbia, Êcuađo, ... Trong sản lượng cá rô phi nuôi, loài rô phi vằn
Oreochromis niloticus chiếm đến 85%.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
6
Sản lượng cá rô phi khai thác tự nhiên năm 2007 đạt 769.900 tấn,
tăng khá mạnh so với 689.700 tấn năm 2003.
Sản lượng
(Nghìn tấn) 4.000
3.500
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi và tiêu thụ cá rô phi.
Các hình thức nuôi rất đa dạng, từ những ao nhỏ sau nhà, nuôi quảng canh,
quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh. Quốc gia này có
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cá rô phi nhanh nhất thế giới, tăng gần 3 lần
trong năm 2000 so với năm 1999 (tương ứng 13.492 tấn và 5.728 tấn). Năm
2009, sản lượng cá rô phi của Trung Quốc phục hồi mạnh mẽ sau
khi chững lại do mùa đông khắc nghiệt vào năm 2008. Sản lượng ước tính đạt
1,15 triệu tấn, tăng gần 4% so với 1,11 triệu tấn năm 2008. Theo dự đoán, về
lâu dài sản lượng cá rô phi của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng nhằm đáp ứng nhu
cầu NK của nhiều thị trường thế giới, trong đó mạnh nhất là Mỹ,
thị trường chiếm đến 70% tổng XK cá rô phi của Trung Quốc. XK cá rô phi
của Trung Quốc năm 2009 tiếp tục tăng, đạt khoảng 259.000 tấn, tăng 15% so
với năm 2008, mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra khá gay gắt. Tuy
vậy, cuộc khủng hoảng cũng ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến giá xuất của
Trung Quốc. Đơn giá XK năm 2009 bị giảm mạnh, chỉ còn
2,75USD/kg, giảm 16% so với năm 2008. Điều này giải thích tại sao tổng
giá trị XK cá rô phi của Trung Quốc giảm nhẹ trong năm 2009, đạt
khoảng 710 triệu USD, mặc dù khối lượng XK tăng kỷ lục.
Sản lượng cá rô phi của Philippin, Ðài Loan trung bình đạt 110.000
tấn/năm. Cá rô phi của Ðài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm
nguyên con đông lạnh và phi lê, còn Philippin chủ yếu xuất sang thị trường
Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê. Các công ty nuôi cá rô phi ở Ðài Loan
có xu hướng chuyển hướng đầu tư vào Trung Quốc do các điều kiện trong đại
lục thuận lợi hơn nên giá thành sản xuất sẽ thấp hơn.
Các sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan là cá nguyên con đông lạnh
và phi lê đông lạnh. Nghề nuôi cá rô phi ở Inđônêxia và Việt Nam đang
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
8
Hình 2.3. Sản lượng cá rô phi theo các nước và lãnh thổ nuôi năm 2003
(Nguồn: theo Fitzsimmons, K. và Gonzalez, P., 2005)
Châu Phi
Cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi, tuy nhiên nghề nuôi cá rô phi lại
chỉ mới bắt đầu phát triển ở châu lục này. Ai Cập là nhà sản xuất cá rô phi lớn
nhất, đạt sản lượng 200.000 tấn (năm 2003), chiếm 90% sản lượng cá rô phi
của châu lục. Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự
nhiên. Zămbia có kế hoạch mở rộng nuôi cá rô phi theo mô hình tổng hợp heo
cá, loài được nuôi là cá rô phi địa phương Oreochromis andersonii và cá rô
phi toàn đực dòng Ai Cập. Với hình thức nuôi này, mặc dù mang lại hiệu quả
nhưng chất lượng cá nuôi không đảm bảo yêu cầu vệ sinh.
Ghana và Nigiêria vừa thành lập nhiều trang trại có quy mô lớn và
được quản lý tốt. Mục tiêu là tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang thị trường EU.
Malauy có một vài trang trại nhỏ, chủ yếu nuôi các loài cá bản địa O. lodole,
O. Karonga, O. squamipinnis và O. shiranus. Các quốc gia Kenya, Uganda,
Tanzania, Môzămbic, Namibia, Botswana, Angola đều có sản lượng cá rô phi
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
10
nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát triển
nuôi cá rô phi.
Châu Âu
Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất ít do khu vực này có nhiệt độ
thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi. Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản
lượng đạt khoảng 300 tấn/năm. Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ,
Braxin
Đài Loan PC
Philippin 10%
Malaixia
Colombia
Inđônêsia 10%
Ai Cập 11%
Các nước khác
Hình 2.4: Tỷ lệ sản lượng cá rô phi các nước trên thế giới năm 2009
(Nguồn: BNN&PTNT;Cục nuôi trồng thủy sản 2009)
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
11
2.2.2. Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam
Ở Việt Nam cá rô phi được nuôi từ những năm 1950, ban đầu là loài rô
phi đen (O.mossambicus) được nhập vào Việt Nam từ Thái Lan. Đây là loài
cá ăn tạp, có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở cả môi trường nước ngọt và
nước lợ nhưng lại có rất nhiều nhược điểm như thành thục sớm, chậm lớn, có
màu đen xẫm, cỡ cá nhỏ, chịu đựng điều kiện nhiệt độ thấp kém, năng suất
nuôi có giá trị thương phẩm thấp nên giá trị kinh tế của loài này thấp.
Đến năm 1973, cá rô phi vằn (O.niloticus) được nhập vào nước ta từ
thủy vực khác nhau từ Bắc vào Nam.
Từ năm 2002, Bộ thủy sản (cũ chưa sát nhập) mới phát động phong
trào nuôi cá rô phi xuất khẩu. Năm 2003, sản lượng cá rô phi nuô của cả nước
mới hỉ đạt khoảng 30 nghìn tấn và chỉ xuất gần 120.000 USD phi lê cá rô phi
đông lạnh, chiếm vị trí rất khiêm tốn so với các nước xuất khẩu khác (TQ
xuất khẩu hơn 85 triệu USD-Bộ thủy sản cũ). Trong thời gian, cá rô phi được
định hướng là một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam. Tuy nhiên, khả năng cung cấp nguyên liệu của nước ta hiện nay chưa
đáp ứng được nhu cầu cho chế biến xuất khẩu do kích cỡ cá nuôi còn nhỏ.
Đến năm 2010, Việt Nam có thể sản xuất được 200.000 tấn cá rô phi thương
phẩm, trong đó khoảng 50% xuất khẩu.
Theo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2006 - 2015,
Bộ Nông nghiệp và PTNT đặt ra mục tiêu mở rộng diện tích nuôi cá rô phi là
59.159 ha, sản lượng đạt 300.000 - 350.000 tấn/năm trong đó tiêu thụ nội địa
chiếm 70% và 30% giành cho xuất khẩu. Hàng loạt các đề tài nghiên cứu, các
dự án thí điểm nuôi cá rô phi đã được tiến hành ở Miền Nam, miền Bắc và đã
đạt được một số thành tựu khả quan về sản xuất giống, nâng cao chất lượng
giống, sản xuất thức ăn cho cá rô phi và kỹ thuật nuôi cá rô phi thương phẩm.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
13
2.3. Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống
2.3.1. Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống trên thế giới
Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường
ao nuôi mà không cần tác nhân kích thích sinh sản. Ban đầu nguồn cá rô phi
giống cung cấp cho nuôi thương phẩm được lấy từ tự nhiên [60]. Do nhu cầu
con giống ngày càng cao người ta tiến hành sản xuất giống cá rô phi. Có hai
và việc kiểm soát mật độ thả dễ dàng người nuôi cá rất quan tâm đến sử dụng
các đàn cá rô phi đơn tính đực. Nuôi cá rô phi đơn tính do cá không có khả
năng sinh sản, giúp kiểm soát được quần đàn cá trong ao, cá có thể tận dụng
tốt dinh dưỡng cho sinh trưởng. Để tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực có
nhiều phương pháp khác nhau: (a) Chọn cá đực, cá cái riêng biệt dựa vào
khác biệt hình thái bên ngoài giữa cá đực và cá cái, (b) chuyển giới tính bằng
hormone, (c) phương pháp lai xa và tạo cá siêu đực [60], [62], [63], [64], [66].
Tạo ra đàn cá đơn tính đực băng cách loại bỏ cá cái dựa vào quan sát bộ
phận sinh dục ngoài bằng mắt thường là phương pháp sơ khai, đơn giản, tốn
nhiều nhân công, chỉ thực hiện khi đã phân biệt rõ cá đực, cá cái bằng hình
thái ngoài (khi cá đạt cỡ 5-10g/con). Sự chính xác phương pháp này thấp và
phụ thuộc tay nghề của người chọn [50], [67], [68]…Theo Mires (1995) [57]
đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Israel trong những năm 1970.
Tuy nhiên, hiện nay rất ít cơ sở sản xuất giống sử dụng phương pháp này để
sản xuất cá rô phi đơn tính đực [58].
Sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng cho ăn hormone được áp dụng
rộng rãi trên thế giới trong vòng 20 năm gần đây, cá rô phi 5-7 ngày tuổi sau
khi tiêu hết noãn hoàng được cho ăn thức ăn có trộn hormone (thường dùng
17α-Methyltestosterone, liều lượng 60mg/kg thức ăn) trong khoảng thời gian
21 ngày. Công nghệ này tương đối đơn giản, dễ áp dụng và đầu tư thấp hơn so
với phương pháp lai xa và chọn cá đực bằng tay. Kết quả ổn định, tạo đàn cá
có tỷ lệ đực khá cao đạt 92%-100%. Hiện công nghệ này được áp dụng khá
phổ biến trong sản xuất rô phi đơn tính đực ở Thái Lan, Phillippines, Braxil,
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
15
Israel, trung quốc [54], [64]. Tuy nhiên những lo ngại về ảnh hưởng của