Khóa luận: Đánh giá hiện trạng môi trường bãi rác Nam Sơn và đề xuất một số giải pháp khắc phục - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong hai thập kỷ gần đây, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã
phát triển nhanh trên mọi lĩnh vực, góp phần nâng cao đời sống cho người
dân. Tuy cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2008 đã làm cho
kinh tế thế giới chậm tăng trưởng song nhu cầu tiêu dùng của con người vẫn
không giảm, thêm vào đó dân số thế giới ngày càng gia tăng, đô thị hóa ngày
càng phát triển, tổng lượng hàng hoá tiêu thụ vẫn không ngừng tăng. Đi cùng
với sự tiêu thụ mạnh mẽ đó, cùng sự phát triển của các đô thị, các ngành sản
xuất kinh doanh và dịch vụ ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh
chóng, nó đã tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: chất thải sinh hoạt,
chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng,

Không ít những phế phẩm và phế liệu đã được tái chế và tái sử dụng,
nhưng lượng chất thải đó không đáng kể so với lượng đổ bỏ tại các bãi rác.
Các khu vực thải bỏ nhiều rác nhất là các thành phố lớn và các khu công
nghiệp. Rác thải từ các khu vực này thường được tập trung tại vùng ngoại
thành. Xung quanh các thành phố lớn thường có các bãi rác lớn, là nơi thu hút
chuột, ruồi, nhặng và các côn trùng gây hại, đồng thời cũng là nơi sinh sôi nảy
nở của các vi sinh vật gây bệnh cho con người. Vào những ngày nắng to, gió
lớn, bụi rác, túi nilông bay khắp nơi cuốn theo mùi hôi thối từ bãi rác. Trời
mưa kéo theo nước bẩn từ bãi rác gây ô nhiễm môi trường nước, đất.
Việc giải quyết mặt bằng cho các bãi rác đã và đang là vấn đề khó khăn và
nhạy cảm, những khu vực được chọn làm bãi rác thường là nơi thưa dân cư,
sao cho ảnh hưởng đến người dân là thấp nhất. Nhưng bãi rác thì không thể
tránh khỏi việc có tác động xấu đến dân cư xung quanh nếu không có biện
pháp quản lý và xử lý tốt. Ngoài việc gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
không khí, nước rỉ ra từ bãi rác có thể gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất
từ đó gây thiệt hại mùa màng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người dân. Bằng
1
chứng là nhiều bãi rác như Gò Cát (tp HCM), bãi rác chân núi Bông ở Vĩnh

hoạch, lựa chọn thiết kế, xây dựng để thải bỏ chất thải rắn.
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh: trước đây, những bãi chôn lấp được che đậy
chất thải vào cuối mỗi ngày vận hành được coi là bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
Hiện nay, bãi chôn lấp hợp vệ sinh được định nghĩa là bãi chôn lấp chất thải
rắn được thiết kế và vận hành sao cho các tác động đến sức khỏe môi trường
và cộng đồng được giảm xuống mức thấp nhất.[7]
Bãi chôn lấp an toàn là bãi chôn lấp được dùng để chôn lấp chất thải
nguy hại.
Bãi chôn lấp bao gồm các ô chôn lấp chất thải, vùng đệm và các công
trình phụ trợ khác nhau như trạm xử lý nước, khí thải, cung cấp điện nước và
văn phòng điều hành
Căn cứ vào hình thức chôn lấp cho đến nay đã tồn tại ba loại hình chôn
lấp chất thải rắn:
- Bãi hở
- Chôn lấp dưới biển
- Bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
1.1.1. Bãi hở
Bãi hở là bãi chôn lấp theo phương pháp cổ điển, rác được đổ lộ thiên
trên mặt đất, đã được áp dụng từ rất lâu. Cho đến nay phương pháp này vẫn
còn được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Phương pháp này có nhiều
nhược điểm:
- Làm mất mỹ quan.
- Là môi trường thuận lợi cho các loài động vật gặm nhấm, côn trùng,
vecto gây bệnh cho con người và động vật phát triển.
- Nước rỉ rác sinh ra từ các bãi rác hở làm bãi rác trở nên lầy lội, ẩm ướt, dễ
thấm xuống các tầng nước dưới đất và chảy vào hệ thống dòng chảy trên mặt do
không được thu gom. [7]
3
1.1.2. Chôn lấp dưới biển
Chôn lấp dưới biển là việc đổ rác xuống đáy đại dương. Việc chôn rác

tổng thể của từng vùng, tỉnh, thành phố đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt, phải đảm bảo sự phát triển bền vững và phải xem xét toàn
diện các yếu tố sau:
- Các yếu tố tự nhiên
- Các yếu tố kinh tế xã hội
- Các yếu tố về cơ sở hạ tầng
- Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn BCL. [7]
 Các yếu tố tự nhiên
Địa hình: là một trong những yếu tố quan trọng khi xác định vị trí và xác
định chiều sâu nền đáy cũng như độ cao đê bao chống lũ của bãi chôn lấp.
Chọn địa điểm trên những vùng đất có địa hình trung bình đến hơi cao (so với
địa hình khu vực). [7]
Thủy văn: không nên đặt bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh vào khu vực
có tiềm năng nước ngầm lớn và phải cách xa thủy vực. Nếu điều kiện thủy
văn không thể thỏa mãn, bãi chôn lấp chất thải phải được lót bằng vật liệu
chống thấm ngăn ngừa chất gây ô nhiễm ngấm xuống nước ngầm và các
nguồn nước mặt lân cận. [7]
Địa chất công trình: địa chất tốt nhất là có lớp đất đá nền chắc và đồng
nhất, nên tránh những vùng đá vôi và tránh vết nứt kiến tạo, vùng đất dễ bị
dạn nứt. Nếu lớp đá nền có nhiều vết nứt và vỡ tổ ong thì điều cực kỳ quan
trọng là đảm bảo lớp phủ bề mặt dầy và thẩm thấu chậm. Vật liệu phủ bề mặt
thích hợp nhất là đất mịn để làm chậm quá trình rò rỉ, hàm lượng sét trong đất
càng cao càng tốt để tạo ra khả năng hấp phụ cao và thẩm thấu chậm. Hỗn
hợp giữa đất sét bùn và cát là lý tưởng nhất. Không nên sử dụng cát sỏi và đất
hữu cơ. [7]
Yếu tố tài nguyên khoáng sản: không nên xây dựng bãi chôn lấp chất
thải vào khu vực đang khai thác khoáng sản. Trong quá trình khảo sát địa chất
chuẩn bị cho xây dựng bãi chôn lấp chất thải phát hiện ra khoáng sản có giá
trị thì không được tiếp tục xây dựng bãi chôn lấp, phải báo cáo cơ quan có
5

môi trường thì rác thải được phân hủy và không gây ô nhiễm môi trường.
Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi
trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm. Các chất thải hữu cơ cùng với kim
loại nặng, vi sinh vật theo nước trong đất ngấm xuống phía dưới làm ô nhiễm
6
tầng nước ngầm.
Đối với rác không phân hủy như nhựa, cao su…nếu không có giải pháp
xử lý thích hợp thì chúng sẽ là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì của đất.
[4]
 Tác động tới môi trường nước
Phần lớn chất thải rắn, đặc biệt là chất thải hữu cơ, trong môi trường
nước sẽ bị phân hủy nhanh.
Tại các bãi rác, nước có trong rác được tách ra kết hợp với các nguồn
nước khác như: nước mưa, nước mặt hình thành nước rò rỉ. Nước rò rỉ di
chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng
như trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung
quanh.
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong
quá trình phân hủy sinh học, hóa học… nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong
nước rò rỉ khá cao:
- COD: từ 3000-45000 mg/l
- N-NH
3
: từ 10-800 mg/l
- BOD
5
: từ 2000-30000 mg/l
- TOC (cacbon hữu cơ tổng số): 1500-20000 mg/l
- Photpho tổng số từ 1-70 mg/l và lượng lớn các vi sinh vật
Đối với các bãi rác thông thường (đáy bãi không có lớp thấm, sụt lún

2
S, một chất có mùi
hôi thối khó chịu (mùi trứng thối) theo phản ứng sau:
2CH
3
CHCOOH + SO
4
2-
 2CH
3
COOH + S
2-
+ H
2
O +CO
2
S
2-
+ 2H
+
 H
2
S
Sunfit lại tiếp tục tác dụng với các catrion kim loại, ví dụ như sắt, tạo nên
màu đen bám vào thân, rễ hoặc cơ thể sinh vật.
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ, trong đó có chứa sunfua trong chất
thải để tạo thành các chất có mùi hôi đặc trưng như: Metyl mecaptan và axit
amino butyric.
CH
3

 R-CH
2
-COOH + NH
3
Trong điều kiện kỵ khí: các chất bị phân hủy thành các chất dạng amin và CO
2
.
R-CH(COOH)-NH
2
 R-CH
2
-NH
2
+ CO
2
Trong các amin mới được tạo thành có nhiều loại gây độc cho con người
và động vật. Trên thực tế, các amin được hình thành ở hai quá trình hiếu khí
và kỵ khí. Vì vậy, đã tạo ra một lượng đáng kể vi khuẩn, nấm mốc phát tán
vào không khí. [7]
Thành phần khí thải được tìm thấy ở bãi chôn lấp chất thải được thể hiện
ở bảng sau:
Bảng 1.1. Thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải bãi rác
Thành phần khí % thể tích
CH
4
45-60
CO
2
40-60
N

CH
4
0-3 5.2 88 5
3-6 3.8 76 21
6-12 0.4 65 29
12-18 1.1 52 40
18-24 0.4 53 47
24-30 0.2 46 48
30-36 1.3 50 51
36-42 0.9 51 47
42-48 0.4 50 48
Qua bảng trên cho thấy nồng độ CO
2
trong bãi chôn lấp chất thải khá
cao, đặc biệt trong 3 tháng đầu. Khí CH
4
được hình thành trong điều kiện
9
phân hủy kỵ khí, tăng nhanh từ tháng thứ 6 trở đi và đạt cực đại vào các tháng
30-36. Do vậy, đối với các bãi chôn lấp lớn đang hoạt động hoặc đã hoàn tất
công việc chôn lấp trong nhiều năm, cần kiểm tra nồng độ CH
4
để hạn chế
khả năng xảy ra cháy nổ.
 Tác động tới hoạt động sản xuất nông nghiệp
Một bãi chôn lấp chất thải khi không được quản lý tốt thì nguy cơ gây
hại cho nông nghiệp là rất rõ, chính bãi rác là nơi cư trú của chuột, một số loại
côn trùng gây hại. Để bãi chôn lấp có thể hoạt động được suốt ngày đêm cần
thiết phải có hệ thống đèn chiếu sáng, nhưng chính nó lại làm đảo lộn các quá
trình sinh trưởng, quang tổng hợp của cây trồng khu vực xung quanh và là tác

1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu
 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Khu liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn (hay tên gọi ngắn gọn là bãi rác
Nam Sơn) là nơi tập trung xử lý rác thải lớn nhất của thành phố Hà Nội, có
quy mô 83 ha, nằm trên địa bàn 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ (huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội).
- Phía Bắc giáp xã Bắc Sơn
- Phía Đông giáp xã Hồng Kỳ
- Phía Nam giáp xã Hồng Kỳ
- Phía Tây giáp xã Nam Sơn.
Hồng Kỳ, Nam Sơn, Bắc Sơn là ba trong 26 xã ,thị trấn của huyện Sóc
Sơn, có tổng diện tích xấp xỉ 50km
2
. Cách thành phố Hà Nội 40km về phía
bắc.
Đại bộ phận diện tích của 3 xã Hồng Kỳ, Nam Sơn, Bắc Sơn nằm trong
khu vực trung du Bắc bộ với độ cao khoảng 20 đến 200m. Địa hình thấp dần
từ Bắc xuống Nam từ Tây sang Đông. [15], [16], [17]
Khí hậu:
Ba xã Hồng Kỳ, Nam Sơn, Bắc Sơn nói riêng và huyện Sóc Sơn nói
11
chung nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, với 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25
0
C. Lượng mưa trung bình năm
khoảng 1600-1700mm. Do vẫn chịu ảnh hưởng của biển nên lượng mưa cũng
như độ ẩm khá lớn, độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 79%. Độ ẩm này
thuận lợi cho quá trình phân huỷ rác đặc biệt là chất hữu cơ dễ phân huỷ. [15],

khoẻ cho nhân dân, giảm tải cho bệnh viện tuyến trên.
Tình hình kinh tế-xã hội:
80% dân số lao động trong ngành nông nghiệp và lâm nghiệp nên ngành
này chiếm tỷ trọng 60% tổng thu nhập. Với diện tích đất canh tác là 4005 mẫu
đất chủ yếu đất canh tác lúa 2 vụ và trồng hoa màu xen canh như ngô, lạc,
đỗ năng suất trung bình 5 tấn/ha.
Kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp là những hoạt động góp phần thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của 3 xã. Năm 2009 tổng thu nhập từ các hoạt động này
đạt trên 65 tỷ đồng. [15], [16], [17]
1.3.2. Quy trình hoạt động của Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn
Khu xử lý chất thải công nghiệp:
Diện tích dành cho xây dựng khu xử lý chất thải công nghiệp là 5 ha trên
đồi Phú Thịnh. Đây là một vị trí cao nhất của toàn khu Nam Sơn. Theo đặc
thù của khu xử lý này, một phần chất thải sau xử lý sẽ được chôn lấp, do vậy
nó được nối tiếp với các ô chôn lấp ở phần thấp hơn. Nhiệm vụ của khu này là
xử lý các thành phần độc hại trong chất thải công nghiệp. Một phần tro, cặn
bã sau khi xử lý sẽ được chôn lấp và một phần được chế biến thành vật liệu
xây dựng. Đối tượng phục vụ là các xí nghiệp công nghiệp ở Hà Nội và các
vùng lân cận. Công suất xử lý chất thải công nghiệp vào khoảng 30-35
tấn/ngày. [19]
Khu chôn lấp:
Theo kết quả dự tính khối lượng chất thải rắn được tiếp nhận ở Khu liên
hợp Nam Sơn đến năm 2020 là 15.305.045 tấn và lượng tích luỹ đến năm
2018 là 34.011.211m
3
(tính với khối lượng riêng của rác là 0,45 tấn/m
3
). Qúa
trình chôn lấp do các phương tiện đầm nén kỹ nên thể tích rác giảm đi 3,5 lần
là 9.717.489m

2
, cao độ mặt đê bao +15m, cao độ đáy bãi
trung bình +9,2m, dung tích ô 3 bằng 141.288m
3
.
+ San nền khu xử lý nước rác (cạnh ô số 2): 7.464m
3
.
+ Đê bao quanh các ô chôn lấp rác được đắp từ độ cao thiên nhiên hiện
nay đến độ cao nhiệt kế trong giai đoạn 1 là +15m.
+ Đáy bãi được thiết kế phẳng có độ dốc 1%, như vậy nước mưa và nước
rác chảy vào các mương thu nước sau đó chảy về hố tập trung và được bơm
lên khu xử lý nước rác.
+ Mương thu nước rác có kích thước B x H = 800 mm x 750 mm (B:
chiều rộng của mương thu, H: chiều cao của mương). Tường mương xây gạch
đặc chịu tải xe 30 tấn.
+ Ngoài ra tại các chân đường đê bao giữa 2 ô chôn lấp đặt cống bê tông
D1000 nối giữa 2 mương của 2 ô kề nhau.
+ Các lớp đất ở đáy ô chôn lấp phân bố không đồng đều, để đảm bảo
ngăn nước rác không thấm xuống các lớp đất phía dưới, không gây ô nhiễm
14
nguồn nước ngầm. Đồng thời tạo dung tích của các ô chôn lấp chất thải lớn
nên thời gian hoạt động của bãi chôn lấp sẽ tăng.
- Giếng thu thoát khí:
Để đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành các ô chôn lấp, tránh gây
cháy nổ, trong các ô chôn lấp đặt các giếng thu thoát tán khí. Tổng số giếng
thu thoát khí giai đoạn 1 là 18 cái, các giếng bố trí cách đều. [19]
Trạm xử lý nước rác:
Với công suất xử lý 500m
3

Phỏng vấn bán chính thức là phương pháp được tiến hành với các nhóm
cộng đồng khác nhau trong địa phương: cán bộ phòng tài nguyên môi trường
huyện Sóc Sơn, phòng kỹ thuật và điều độ Xí nghiệp quản lý chất thải Nam
Sơn, lãnh đạo và nhân dân địa phương các xã Hồng Kỳ- Nam Sơn - Bắc Sơn,
huyện Sóc Sơn. Kết hợp giữa quan sát và phỏng vấn, thảo luận trực tiếp với
người dân, từ đó kiểm tra thông tin và tổng hợp thông tin.
16
Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề liên quan đến: nguồn nước
mặt, nước ngầm người dân đang sử dụng, tình hình sản xuất nông nghiệp, các
bệnh xuất hiện trong mấy năm gần đây đối với người dân đang sinh sống trong
khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tác động gây ra bởi bãi rác Nam Sơn.
Tiến hành phỏng vấn bán chính thức các đối tượng có thể chuẩn bị từ trước (cán
bộ địa phương và công nhân viên phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sóc
Sơn, cán bộ phòng kỹ thuật và điều độ Xí nghiệp quản lý chất thải Nam Sơn)
hoặc gặp ngẫu nhiên (chủ yếu là người dân địa phương). [20]
2.2.4. Phỏng vấn chính thức
Phỏng vấn chính thức là phương pháp được tiến hành thông qua phiếu
điều tra với các đối tượng có chọn lọc và chuẩn bị từ trước, nhằm mục đích
thu thập thông tin từ người dân về vấn đề ảnh hưởng của ô nhiễm nước bởi
bãi rác Nam Sơn, từ đó kết hợp với quan sát thực tế để đưa ra những nhận
định khách quan. Các đối tượng được chọn bao gồm phụ nữ (40 người), nam
giới (20 người) sống trong khu vực đã được khoanh vùng ảnh hưởng và một
số hộ lân cận khu vực đó. [20]
2.2.5. Phương pháp lấy mẫu và phân tích tại phòng thí nghiêm của cơ sở
Các mẫu nước được lấy và bảo quản, phân tích theo đúng tiêu chuẩn Việt
Nam (TCVN: 1995) và theo phương pháp trong phòng thí nghiệm. Phương pháp
lấy mẫu nước, bảo quản và phân tích mẫu nước được trình bày như sau:
Cách lấy mẫu nước
Tiến hành theo tiêu chuẩn 5999: 1995
- Dụng cụ hoá chất

Cr
3+
ở 3 khoảng đo với 3 bước sóng khác nhau đã được cài sẵn trong máy.
+ Chuẩn bị mẫu và đo: Cho và kít (lọ thủy tinh chuyên dùng để đo COD)
mẫu trắng 2 ml nước cất khử ion và các mẫu cần đo, mỗi kít 2 ml nước mẫu
rồi đậy nắp lại. Đưa kít mẫu trắng và các mẫu cần đo đun trên máy AL 38 ở
nhiệt độ là 148
0
C trong 2 giờ và lấy ra để nguội ở nhiệt độ phòng.
Cách xác định tổng chất rắn lơ lửng (TSS):
- Nội dung: Sấy mẫu ở nhiệt độ 105
0
C cho đến khi khối lượng không đổi
và xác định sự thay đổi khối lượng trong quá trình sấy.
- Dụng cụ:
Cân phân tích với độ chính xác đến ± 0,0001 gam
18
Tủ sấy điều chỉnh được nhiệt độ ± 1
0
C.
Hộp nhôm và nắp có đường kính 65 mm, cao 30 mm.
Bình hút ẩm có chứa chất hút ẩm trong vòng 4 giờ tính từ khi nhiệt độ
của tủ sấy đạt 105
0
C.
- Các bước tiến hành
Sấy hộp nhôm và nắp ở nhiệt độ 105
0
C trong vòng 30 phút sau đó để
nguội trong bình hút ẩm, đem cân chính xác đến 0,0001 gam.

Bước 2: Quy trình xử lý rác thải bằng EM và BOKASHI
 Xử lý rác thải bằng EM:
- Tỉ lệ pha chế: Pha loãng tỉ lệ 1/5 dung dịch EM thứ cấp với nước làm
dung dịch phun xử lý rác. Tuỳ theo điều kiện thời tiết, dung dịch EM có thể
được pha với nồng độ dung dịch đậm đặc hơn.
- Áp lực phun 2 – 4kg/cm
2
, lưu lượng 25 – 30m
3
/h và đảm bảo chỉ tiêu
0,6 lít EM thứ cấp cho 1 tấn rác.
- Ngoài công tác phun EM xử lý rác, mỗi ngày cần phải sử dụng xe ô tô
tưới rửa đường phun bổ sung EM thứ cấp để khử mùi tại những nơi sau:
+ Hồ sinh học chứa nước rác: 400 lít
+ Cầu rửa xe: 100 lít
+ Hố tụ nước rác: 200 lít
 Xử lý rác thải bằng BOKASHI:
- Bokashi được rắc trải đều trên bề mặt diện tích rác cần được xử lý. Tại
những mép biên cần phải hất xa.
- Đảm bảo chi tiêu: 0,246kg/1 tấn rác.
20
* Chú ý: Đối với ô chôn lấp chuẩn bị đưa vào sử dụng đổ rác phải được
rắc lớp Bokashi trải đều trên toàn bộ bề mặt diện tích đáy bãi.
Bước 3: Quy trình phủ đất đóng bãi
 Phủ bãi:
- Sau mỗi lớp rác được san gạt đầm nén đúng quy định tạo độ dốc thoát
nước (chiều dày mỗi lớp đất không quá 2m).
- Chiều dày lớp đất phủ 0,15 – 0,2m.
- Định mức đất phủ bãi : 0,15m
3

- Kết cấu của ống thu khí:
+ Vỏ bên ngoài là thùng phuy cũ (200 lít) được đục thủng ở 2 đầu, xung
quanh được khoan các lỗ tổ ong đường kính 2 cm và sơn trắng đỏ. Tại một
đầu được gia công các giá định vị thùng, phục vụ cho công tác lắp ghép khi
lắp đặt ống thu khí.
 Lắp ống thu khí:
+ Khi bắt đầu đưa ô chôn lấp vào hoạt động: cố định ống thoát khí xuống
ô chôn lấp. Đắp đất xung quanh ống thu, chiều cao của ống thoát khí so với
đáy bãi phải từ 3m – 4m, sau đó đổ đá sô bồ vào bên trong ống thoát khí cho
tới khi đá cách mặt ống là 20cm, có thể lắp đặt bổ sung khi có lớp rác đã chôn
lấp.
+ Chiều cao của ống thoát khí được nâng dần theo từng lớp rác.
+ Khi kết thúc đổ rác (khi đóng bãi): Chiều cao của các ống thoát khí
phải cao hơn mặt bãi từ 50-60 cm.
 Thoát khí khi đóng bãi tạm thời:
- Ngoài các ống thoát khí được lắp đặt khi vận hành ô chôn lấp, trên bề
mặt ô chôn lấp được bổ sung thêm các lỗ thoát khí bằng ống nhựa khoảng
cách giữa các ống thu khí là 10m.
- Kết cấu của ống:
+ Chiều dài ống: 1,3m
+ Đường kính ống: 100mm
22
- Cách lắp đặt:
+ Khi sử dụng gầu máy đào và cọc đường bằng thép đường kính 120mm
để chọc các lỗ thông khí theo phương thẳng đứng, sâu xuống lớp rác dưới lớp
đất phủ bãi từ 1,3 – 1,5m. Khoảng cách giữa các lỗ thoát khí là 15m.
+ Lắp đặt các ống nhựa đường kính 100mm vào lỗ thu khí, sâu xuống
1m. Đầu kia cao hơn mặt đất 30cm.
+ Đóng các cọc tre, đường kính 30mm bên cạnh các ống nhựa mới được
chôn chặt, dùng dây thép buộc ống nhựa vào cọc tre để tránh bị gẫy, vỡ.

Các bờ bao tiếp theo được lắp giật cấp và so với bờ bao đắp trước 2m. [20]
3.1.2. Công tác xử lý hoá chất
 Công tác phun hoá chất diệt ruồi:
- Phạm vi phun: Phun toàn bộ bãi chôn lấp, khu dân cư lân cận và những
nơi thường thấy xuất hiện ruồi, muỗi,…
- Định lượng: Tuỳ vào từng chủng loại hoá chất sử dụng thực tế để định
lượng đảm bảo phun duy trì trên toàn bộ phạm vi cần phun.
- Nội dung công việc cụ thể:
+ Pha loãng hoá chất theo đúng hướng dẫn sử dụng.
+ Xác định vị trí phun và hướng gió.
+ Đứng tại nơi đầu gió và hướng vòi phun chúc xuống 15
o
cách xa 1,5m
đối với nơi cần phun.
+ Di chuyển theo dọc bờ bao, mép taluy rác hoặc phụ tịnh tiến vào trong
theo lượt, mỗi lượt có độ dài 10-15m.
+ Trong khi phun điều chỉnh áp lực phun để tạo thành sương.
 Công tác rắc vôi bột:
- Vị trí rắc: Tại các mép taluy rác mới, dọc bờ bao ô chôn lấp rác đang sử
dụng và bề mặt đã được phủ đất để nhằm hạn chế phát sinh ruồi, muỗi,…
- Khối lượng: 600kg vôi bột/tuần và rắc định kỳ 2 lần/tuần.
- Khi rắc phải: xác định hướng gió, phải rắc đều trên bề mặt. [20]
3.1.3. Công tác xử lý nước rỉ rác
Các loại và liều lượng hóa chất sử dụng xử lý nước rỉ rác trong 1 tuần
được thể hiện qua bảng 3.1.
24
 Các bước hoạt động
Bước1: Công tác bơm nước đầu vào
- Nước rác từ hồ chứa được bơm hút và đẩy qua song chắn rác đặt ở
miệng hố thu để loại bỏ rác có kích thước lớn hơn 1 - 1,5cm sau đó nước rác

- Nước thải sau khi qua bể Selecter được bơm lên bể UASB. Tại đây các
chất hữu cơ và một phần N-NH3 và N-NOx sẽ được khử thành CH
4
, H
2
S, N
2
và H
2
O. Bước xử lý này sẽ giảm tải cho xử lý sinh học hiếu khí tiếp theo.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status