Tiểu luận ô nhiễm môi trường biển việt nam dưới góc nhìn triết học - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH
*************
TIỂU LUẬN:
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Thành viên:
1. Nguyễn Việt Phong ( Nhóm trưởng)
2. Trần Ngọc Bích
3. Bùi Quý Thạch
4. Trần Thị Diễm Châu

TP.HCM, NĂM 2016


DANH SÁCH NHÓM
STT

Họ và tên

Mã số HV

Ghi chú

Công việc

1

Nguyễn Việt Phong


Trần Thị Diễm Châu

7701260460A

Thành viên

Giải pháp khắc phục ô nhiễm
biển VN, kết luận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.

Giáo trình triết học ( TS.Bùi Văn Mưa )
Dantri.com.vn
Kttvntb.gov.vn
Sonla.gov.vn
Thanthienmoitruong.com
Tinquangbinh.net
Khpl.moj.gov.vn
Bvmt.ubdt.gov.vn


tiếp với các miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi
trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa, là tuyến phòng thủ quan trọng của Việt
Nam.
Tuy nhiên thực tế chính những nhu cầu lợi ích đó của con người đã và đang làm
cạn kiệt dần nguồn tài nguyên biển và làm cho môi trường biển ngày càng ô nhiễm
một cách trầm trọng.
Nhận thấy tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, nhóm đã thực hiện
bài tiểu luận “Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam dưới góc nhìn triết học”. Hy vọng
bài tiểu luận đem lại một cái nhìn tổng quan về thực trạng của môi trường biển Việt
Nam hiện nay đồng thời tìm ra nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm giải
quyết vấn đề. Trong khi thực hiện còn nhiều sai sót, mong Thầy góp ý cho bài thảo
luận hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

6


Lý luận chung về cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả
1. Khái niệm nguyên nhân

I.

Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong
một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau thì gây nên một biến
đổi nhất định.
Tùy theo nức độ bao quát của khái niệm mà chúng ta có các khái niệm rộng hay
hẹp khác nhau. Trong đó phạm trù là khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những
thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ ản nhất của các sự vật hiện tượng trong một
lĩnh vực nhất định. Ví dụ: trong toán học có phạm trù “số”, “hình”, “điểm”; trong kinh

thể do nhiều nguyên nhân và một số nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả. Nếu các
nguyên nhân tác động cùng chiều thì có xu hướng dẫn đến kết quả nhanh hơn. Nếu cá
nguyên nhân tác động ngược chiều thì làm cho tiến trình hình thành kết quả chậm hơn.
Thâm chí triệt tiêu tác dụng của nhau. Ví dụ: gạo và nước đun sôi có thể thành cơm,
cháo,..tùy theo điều kiện nhiệt độ, mức nước,…
Giữa nguyên nhân và kết quả có tính tương đối, có sự chuyển hóa, tác động qua
lại tạo thành chuỗi liên hệ nhân – quả vô cùng vô tận.
Engels cho rằng: “Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa
là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định.
Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung
của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái
niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn
thay đổi vị trí cho nhau. Chuỗi nhân quả là vô cùng không có bắt đầu và không có kết
thúc. Một hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở
trong một quan hệ xác định cụ thể”
Ông cũng khẳng định: “Nguyên nhân và kết quả là những biểu tượng có ý nghĩa là
nguyên nhân và kết quả khi nào được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt, nhưng
khi ta xét trường hợp riêng biệt ấy trọng mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế
giới, thì nguyên nhân hội tụ lại quyện vào nhau trong biểu tượng về sự tác động qua
lại phổ biến trong đó nguyên nhân và kết quả luôn đổi chỗ cho nhau: cái ở đây hay
bây giờ là nguyên nhân, thì ở chỗ khác hay lúc khác lại trở thành kết quả và ngược
lại”.
Trong những quan hệ xác định, kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi
xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân. Sự ảnh hưởng đó có

8


thể diễn ra theo hai hướng. Hướng tích cực, tức là thúc đẩy sự hoạt động của nguyên
nhân. Hướng tiêu cực, tức là cản trở sự hoạt động của nguyên nhân.

đất làm rò rỉ mỏ dầu ở đáy đại dương cũng làm ô nhiễm biển.
1.2.

Nguyên nhân chủ quan
9


Những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường
và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp,
hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi
của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử
dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa
hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản
mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn
chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế...
trong việc bảo vệ môi trường.
Quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng
Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm
tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi
trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn
chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường.
Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với
công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc
kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các
cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức,
hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động
môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng
đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ
thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.

Việt Nam.
Các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, trên 37.000 ha đã được khai thác để
đưa vào nuôi trồng thủy sản (chiếm 30-35% diện tích nước mặn lợ) phần lớn các cơ sở
đã đi vào nuôi trên quy mô công nghiệp, dẫn tới các nơi cưu trú sinh vật, bãi đẻ, bãi
giống bị hủy diệt, dịch bệnh tràn lan. Bình quân 1 ha nuôi tôm sẽ thải ra môt trường 5
tấn chất thải rắn và hàng chục nghìn m 3 nước thải trong một vụ nuôi. Việc khai thác
hải sản bằng mìn, sử dụng hóa chất độc hại làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn thủy sản,
gây hậu quả nặng nề cho vùng sinh thái biển.
11


2. Hậu quả ô nhiễm biển Việt Nam
2.1.
Làm suy giảm chất lượng nước biển

Ô nhiễm biển gây ra sự mất cân bằng nước. Các chất hữu cơ, các chất rắn lơ
lửng như Si, NO3, NH4, PO4…không được phân hủy, vẫn còn lưu lại trong nước với
hàm lượng lớn dẫn đến sự mất dần sự tinh khiết ban đầu làm chất lượng nguồn nước bị
suy giảm nghiêm trọng. Ở các cảng đều phải đối mặt với nước đục do liên quan đến
hoạt động của tàu thuyền ra vào cảng, nạo vét luồng lạch, đổ phế thải. Nổi cộm nhất là
ô nhiễm dầu. Mặt dầu loang ngăn chặn không khí hoà tan vào nước nên hàm lượng ô
xy trong nước thấp, trung bình 3,3-10,9mg/l vào mùa khô và 0,16-6,1mg/l vào mùa lũ,
trong khi đó nhu cầu ô xy rất cao, cần tới 13,6-31mg/l. Nước thải sinh hoạt và công
nghiệp đổ xuống biển chưa qua xử lý nên chỉ số vi trùng học luôn ở mức cao
2.2.

Ảnh hưởng tới sinh vật biển

Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá
hủy gây tổn thất lớn về đa dạng vùng bờ. Có khoảng 85 loài hải sản ở mức độ nguy

còn có thể làm hư cả tế bào gốc, sinh dị tật, có thể gây ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau
nữa.
III.

Các giải pháp để tránh ô nhiễm dưới góc nhìn triết học.

Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng tình hình ô nhiễm biển ngày
càng trầm trọng hơn, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất cũng như
sức khỏe của con người. Việc khắc phục tình trạng này không phải là vấn đề một sớm
một chiều mà nó đòi hỏi cần phải có một chiến lược lâu dài và sự đóng góp công sức
của toàn xã hội.
Trước hết, nâng cao nhận thức của các đối tượng về việc giải quyết hài hòa các
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Tích cực tuyên truyền, phát huy giá trị
truyền thống của việc thích ứng, ứng xử, giao hòa tốt đẹp với thiên nhiên của con
người Việt Nam. Xây dựng, hoàn thiện và đầu tư các môn học về vấn đề môi trường
cho hệ thống các nhà trường với phương pháp dạy học thực hành, thực nghiệm qua
thực tế…phù hợp các lứa tuổi, bậc học của học sinh, sinh viên để coi “tự nhiên như
người mẹ”, môi trường sống là “thân thể vô cơ” của mình
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những
chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lí hình sự) phải thực sự đủ mạnh để đủ
sức răn đe các đối tượng vi phạm. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản
lí môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế,
đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp và thân
thiện hơn với con người.
13


Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường
(thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn,
nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp,

KẾT LUẬN
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự
vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân. Nhưng không
phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân. Nhiệm vụ của nhận thức
khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư
duy để giải thích được những hiện tượng đó.
Ph. Angghen nói “Hoạt động của con người là hòn đá thử vàng của tính nhân
quả” . Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện
tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện
tượng đó xuất hiện. Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên
nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động
thực tiễn chủ thể cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên
nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan,
nguyên nhân khách quan... Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các
nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động
tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.
Ô nhiêm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng là một minh
chứng cho sự tác động qua lại của cặp phạm trù nguyên nhân-kết quả. Từ những hành
động vô ý thức, vô trách nhiệm, xem thường pháp luật, vì lợi ích cá nhân bỏ qua lợi
ích cộng đồng, xã hội đã dần đến hậu quả là nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng,
lượng sản vật mà thiên nhiên ưu đãi bị thiệt hại, giảm sút mạnh.
Việc vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả trong triết học vào đời sống
thực tiễn là yếu tố quan trọng nhằm tìm hiểu, phân tích các nguyên nhân để từ đó có
thể tìm ra biện pháp tối ưu khắc phục các nguyên nhân tiêu cực đã dẫn đến hậu quả
không tốt nhằm đem lại đời sống – xã hội tốt đẹp hơn.

15


16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status