Phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo huyện cầu ngang, tỉnh trà vinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------

THẠCH THON

PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA HỘ NGHÈO
HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hồ Chí Minh - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------

THẠCH THON

PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA HỘ NGHÈO
HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số :60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN :GS-TS.NGUYỄN TRỌNG HOÀI

I.1. Những khái niệm về Biến đổi Khí hậu………………………….…………..9
I.2. Tổng quan các nghiên cứu về Biến đổi khí hậu…………………..……….10
I.3. Các khái niệm liên quan…………………………..………………………..16
I.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu……………………………...…………..25
I.4.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường…………………….………..25
I.4.1.1. Vị trí địa lý…………………………………..……………………………25
I.4.1.2. Khí hậu……………………………...……………………………………28
I.4.1.3. Thủy văn…………………………………………………………….……28
I.4.2. Các nguồn tài nguyên………………………………………………….…...28
I.4.2.1. Tài nguyên đất…………………………………………………..……......28
I.4.2.2. Tài nguyên nước……………………………………………………….…29
I.4.3. Thực trạng môi trường…………………………………………………..….29
I.4.4. Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội………………………………….….....30


I.4.4.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế…………………..…..30
I.4.4.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế………………………..…….…..30
I.4.4.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập…………………………...…...…32
I.4.4.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng……………………………………....33
I.4.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường……...34
I.4.5.1. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên………..…………………………..34
I.4.5.2. Đánh giá chung về điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường………….…..35
KẾT LUẬN CHƯƠNG I……………………………………………………..…37
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………..38
II.1. Nội dung nghiên cứu……………………………………………………….38
II.2. Khung phung tích………………………………………………….………39
II.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………….…………41
II.3.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu………………………….……….41
II.3.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế……………………….……………42
II.3.3. Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình và phỏng vấn sâu……………….…..42

Ký hiệu

Diễn giải

BĐKH:

Biến đổi khí hậu

ĐBSCL:

Đồng bằng sông cửu long

NN&PTNT:

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

LHQ:

Liên hợp quốc

TDBTT:

Tính dễ bị tổn thương


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Nhận thức của người dân về tần suất xuất hiện của BĐKH so với năm
2014 ……………………………………………………………………………....46
Bảng 3.2: Tần suất xuất hiện của BĐKH trong giai đoạn 2014- 2016…………...48
Bảng 3.3: Hiện trạng hộ nghèo trong canh tác nông nghiệp……………………...50

2014 hiện tượng thiên tai do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nước ta, đã gây thiệt
hại nặng nề và tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh. Các khu vực
bị ảnh hưởng đó là Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đông Bằng
Sông Cửu Long (ĐBSCL). Tính đến cuối năm 2014 đầu năm 2015 đối với
ĐBSCL do mùa mưa đến muộn và kết thức sớm, dòng chảy thượng nguồn Mê
Kông bị thiếu hụt, mực nước thấp nên xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm, nên đã
ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp. Do ảnh hưởng của xâm nhập mặn
năm 2014 đến năm 2016 nhiều diện tích cây trồng đã bị bởi biến đổi khí hậu, vụ
mùa thu đông diện tích bị thiệt hại khoảng 90.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng
xuất trong đó thiệt hại nặng nhất ở các tỉnh Kiêng Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu
diện tích khoảng 50.000 ha. Trong đó tỉnh Trà Vinh diện tích bị thiệt hại là 29.609
ha bao gồm lúa, hoa màu và thủy sản. Riêng vụ Đông Xuân năm 2015- 2016 tổng
diện tích bị thiệt cả khu vực ĐBSCL là 104.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng
xuất.
Trà Vinh là tỉnh có địa hình khá phức tạp với 65 km bờ biển là một trong
các tỉnh phải chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu, điển hình cụ thể năm
2014 chưa khắc phụ hậu quả của hiện tượng xâm nhập nặm để lại, phải tiếp tục


2

gánh chịu đợt xâm nhập nặm năm 2015 và nặng nề hơn là đợt xâm nhập nặm năm
2016 cả khu vực ĐBSCL, gây thiệt nghiêm trọng đến cây trồng, vật nuôi ảnh đe
dọa đến cuộc sống của người dân.
Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa
hai sông lớn là sông Tiền và sông Hậu,có diện tích 2.341 km2, có bờ biển dài
65km,Trà Vinh là 01 trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí
hậu và nước biển dâng.
Theo kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố nếu mực nước
biển tăng lên 1m vào năm 2100 thì có đến 45,7% diện tích đất tự nhiên của Trà

cho các dự án thuộc Chương trình bố trí dân cư vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn
còn rất hạn chế.
Là một tỉnh chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong thời gian qua, tỉnh
đã huy động nhiều nguồn kinh phí trong và ngoài nước để triển khai các dự án
nghiên cứu và đề xuất các giải pháp ứng phó BĐKH, chú trọng tuyên truyền, nâng
cao nhận thức cộng đồng. Tăng cường khả năng ứng phó, thích ứng của cộng đồng
ven biển dễ bị tổn thương nhất trước BĐKH.Hàng năm, tỉnh đều quan tâm bố trí
nguồn đầu tư từ ngân sách cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, các
chương trình mục tiêu cụ thể như: trồng rừng, nâng cấp hệ thống đê, phòng chống
sạt lở.
Ngoài ra tỉnh còn đang thực hiện các dự án: Dự án “Thích ứng với BĐKH
khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Trà Vinh- Bến Tre”, thời gian thực
hiện 06 năm (2014 – 2020); địa điểm thực hiện dự án là 30 xã nghèo của 07 huyện
trong tỉnh.Từ nguồn tài trợ của Chương trình Nông nghiệp thích ứng với BĐKH
dành cho nông dân sản xuất nhỏ lẻ của IFAD, ngân sách đối ứng và đóng góp của
người hưởng lợi.Các dự án trồng rừng:Dự án Đầu tư, xây dựng và phát triển bền
vững rừng phòng hộ tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2014 – 2015, trồng mới 250 ha rừng
phòng hộ ven biển.
Tình hình biến đổi khí hậu tại Trà Vinh diễn ra mạnh mẻ và chịu ảnh hưởng
nặng nhất là các huyện: Duyên hải, Trà cú và Cầu ngang. Trong đó huyện Cầu
ngang là huyện chịu ảnh hưởng nặng nhất của hiện tượng hạn hán và xâm nhập
mặn. Đặc biệt là từ năm 2014 đến nay huyện Cầu ngang phải gánh chịu những
thiệt hại rất nặng nề từ hiện tượng xâm nhập mặn làm cho sản xuất của bà con bị


4

ảnh hưởng nghiêm. Điển hình như vụ lúa đông xuân năm 2016 tổng diện tích sản
xuất nông nghiệp bị thiệt hại do xâm nhập mặn gây ra tại huyện Cầu ngang trên
40% là 3..384 ha. Trong đó, tại 2 xã là Nhị trường và Trường thọ của huyện là bị

các chính sách nhằm phát triển kinh tế bền vững đồng thời sử dụng hiệu quả các
nguồn tài trợ ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc tế.
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tỉnh Trà Vinh vẫn chưa
được kéo giảm, theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ
tướng Chính phủ, số hộ nghèo 35.506 hộ, chiếm 13,23% so với tổng số hộ toàn
tỉnh, huyện Cầu Ngang là một trong những huyện có tỷ hộ nghèo cao, chiếm
17,02%, năm 2015, cao hơn so với số hộ nghèo chung của cả tỉnh. Đây là vấn đề
rất bức thiết đối với địa phương, vì vậy việc phân tích, đánh giá, đồng thời nghiên
cứu đưa ra những giải pháp đồng bộ nhằm hạn chế tác động do biến đổi khí hậu
và khả năng thích ứng của hộ nghèo có hiệu quả trên địa bàn huyện Cầu Ngang,
tỉnh Trà Vinh trong những năm tới là hết sức cần thiết. Xuất phát từ ý nghĩa đó
cũng chính là nguyên nhân hình thành nên đề tài: “Phân tích khả năng thích ứng
của hộ nghèo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu”
2. Mục tiêu nghiên cứu
-Mục tiêu chung:
-Phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà
Vinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gợi ý chính sách nhằm nâng cao khả năng
thích ứng của hộ nghèo tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
-Mục tiêu cụ thể:
-Phân tích hiện trạng nghèo giai đoạn 2014- 2016 trong bối cảnh tác động
của hạn hán, xâm nhập mặn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
-Phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo thông qua 05 nguồn vốn sinh
kế của hộ nghèo tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Hiện trạng hộ nghèo diễn biến như thế nào trong bối cảnh hạn hán, xâm
nhập huyện Cầu Ngang , tỉnh Trà Vinh như thế nào?
-Khả năng thích ứng của hộ nghèo như thế nào sau các tác động hạn hán,
xâm nhập mặn tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh?
4. Phạm vi nghiên cứu


hạn hán, xâm nhập mặn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đề tài sử dụng phương
pháp phân tích so sánh, phương pháp phân tích định tính dựa trên số liệu thu thập


7

được. Trên cơ sở đó phân tích mức độ ảnh hưởng, nguyên nhân, khả năng thích
ứng và thích ứng của các hộ gia đình.
7.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu luận văn trình bày các nội dung quan trọng được kết
cấu như sau:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Trong chương này tác giả sẽ giới thiệu các khái niệm, quan điểm liên quan
đến vấn đề biến đổi khí hậu, cũng như các nghiên cứu trước có liên quan về biến
đổi khí hậu. Đồng thời tác giả cũng sẽ giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu
huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Gồm các mục chính sau:
I.1: NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I.2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I.3: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
I.4: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này tác giả sẽ trình bày các nội dung cần nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu, đồng thời dựa vào sự nghiên cứu của mình cùng với tình hình
thực tế tại địa bàn nghiên cứu huyện Cầu Ngang tác giả đưa ra khung phân tích để
làm cơ sở phân tích ở chương sau. Gồm các mục chính sau:
II.1: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
II.2: KHUNG PHÂN TÍCH
II.3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trong chương này tác giả sẽ trình bày các kết quả có được từ khảo sát thực

bàn nghiên cứu như: điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội, kinh tế, cũng như các
nguồn tài nguyên huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
I.1. Những khái niệm về Biến đổi Khí hậu
Theo Công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu đã định
nghĩa “Biến dổi khí hậu là “những ảng hưởng có hại của Biến đổi khí hậu”, là
những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có
hại đáng kể đến thành phần, khả năng thích ứng hoặc sinh sản của các hệ sinh thái
tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội hoặc
đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,
thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo. Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ
hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất, cùng với
biến đổi khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kỳ nhất định.
(UNFCCC, 1992).
Người nghèo là đối tượng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng trước sự biến đổi
khí hậu do tình trạng ấm dần lên của trái đất. Đây là nhận định của nhà khoa học
hàng đầu thế giới nghiên cứu về biến đổi khí hậu - ông Rajendra Pachauri, Chủ
tịch Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu của Liên hợp quốc (LHQ) tại hội
thảo về “ Biến đổi khí hậu và các sự kiện khí hậu cực đoan tại Việt Nam” diễn ra
tại Hà Nội ngày 17 tháng 08 năm 2012.


10

Theo ông Pachauri, khí hậu biến đổi sẽ tác động đến hai lĩnh vực là y tế và
nông nghiệp. Đối với lĩnh vực y tế, các đợt thời tiết nóng bức làm giảm sức khoẻ
con người, thậm chí dẫn đến tử vong. Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng ở
những nước nghèo, nơi các cơ sở hạ tầng y tế vẫn còn yếu kém hay thiếu các
phương tiện cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho người dân khi nhiệt độ tăng cao.

biết trong suốt 30 năm vừa qua, mực nước quan trắc dọc theo bờ biển Việt Nam có
dấu hiệu gia tăng, Bộ Tài nguyên và Môi trường ước tính đến năm 2050 mực nước
biển sẽ gia tăng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1 mét. Với nguy cơ
này, Việt Nam sẽ chịu tổn thất mỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% tổng sản
phẩm nội địa GDP). Nhiều nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng – Thuỷ văn
và Môi trường. Viện Khoa học thuỷ lợi miền Nam đều có những nghiên cứu liên
quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long.
Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu - IPCC (2007) qua phân tích
và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ
được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông
Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai
Cập). Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc – UNDP (2007) đánh giá: “khi
nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân
mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10%
thu nhập quốc nội. ĐBSCL sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển”.
Hanh và Furukawa (2007) dựa vào những ghi nhận ở trạm đo thuỷ triều ở
Việt Nam để kết luận về những bằng chứng của sự dâng lên của mực nước biển:
trung bình mỗi năm mực nước biển ở Việt Nam đã tăng trong khoảng 1,75 – 2,56
mm/năm.
Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn,
Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp
chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu
khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040. Kết quả mô
hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động
sau (Tuan and Supparkorn, 2009):
+Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C.
+Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%.


12


13

ở những vùng dễ ngập lụt là cao hơn-song khả năng sống trong những ngôi nhà kiên cố,
vững chắc thì thấp hơn
+2007: Công bố Chiến lược Quốc gia về Phòng chống, Thích nghi và Giảm
nhẹ Thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007). Theo chiến lược này thì mục tiêu là Huy
động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ
thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và
tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá,
góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc
phòng, an ninh. Đồng thời chiến lược củng chỉ ra một số nhiệm vụ và giải pháp
cần thực hiện từ năm 2008 đến năm 2020 về phòng chống, thích nghi và giảm nhẹ
thiên tai như: Xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách, Hoàn
thiện tổ chức, Xã hội hoá và phát triển nguồn nhân lực, Nguồn tài chính, Nâng cao
nhận thức của cộng đồng, Phát triển khoa học công nghệ về phòng, chống và giảm
nhẹ thiên tai, Củng cố hệ thống đê điều, hồ đập, Nâng cao năng lực cứu hộ, cứu
nạn, Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế. Và chỉ đạo cụ thể cho từng vùng, từng
khu vực những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện.
+2008: Công bố Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi
Khí hậu. Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 của Thủ tướng Chính
phủ (Thủ tướng Chính phủ, 2008). Theo Quyết định này thì chương trình mục tiêu
quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 là
giai đoạn khởi động ( 2009-2010), giai đoạn 2 là giai đoạn triển khai ( 2011-2015),
giai đoạn 3 là giai đoạn phát triển ( sau 2015) với mục tiêu là đánh giá được mức
độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong
từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó
hiệu quả với biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm
bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế
theo hướng các-bon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm

cuộc gặp gỡ của Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và Thủ tướng Việt Nam
Nguyễn Tấn Dũng. Viện này là thành viên đầu tiên của các Viện DRAGON (Delta
Research and Global Observation Network– Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng và
Quan trắc Toàn cầu). Trong bài phát biểu ra mắt Viện, Bà Trợ lý Ngoại trưởng
Hoa Kỳ Anne Murray nhấn mạnh đây là cơ sở nghiên cứu khoa học đầu tiên liên


15

quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu của Việt Nam và cơ sở nghiên cứu khoa học
đầu tiên của Hoa Kỳ nằm ngoài lãnh thổ của nước này. Năm 2009, trường Đại học
Cần Thơ đầu tiên đưa môn học “Biến đổi Khí hậu và Khả năng Thích ứng” vào
chương trình giảng dạy Thạc sỹ.
Ngày 27/3/2009 Uỷ ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ đã thành lập Ban
Chỉ đạo dự án “Ứng phó với Biến đổi Khí hậu tại Thành phố Cần Thơ” do một
Phó Chủ tịch Tỉnh làm Trưởng Ban. Uỷ Ban đang chuẩn bị phê duyệt Chương
trình Mục tiêu của Thành phố Cần Thơ Ứng phó với Biến đổi Khí hậu (gọi tắt là
Chương trình 158).
Đầu năm 2009, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại
học Cần Thơ đã có dự án hợp tác với tổ chức JIRCAS của chính phủ Nhật Bản để
bước đầu triển khai các hoạt động thí điểm cho Cơ chế Phát triển Sạch (Clean
Development Mechanism – CDM). Mục tiêu của dự án là tìm các biện pháp giúp
người dân giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính ở địa phương.
Trung tâm Học viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam (AITCV) đã phối hợp
với Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã tổ chức một buổi
Seminar cum Study Tour tại thành phố Cần Thơ ngày 31/3/2009 cho các quan
chức cấp Bộ của Bangladesh. Hai bên đã trao đổi về các tác động của biến đổi khí
hậu lên cơ sở hạ tầng nông thôn của giữa hai vùng đồng bằng và tham quan một
vùng công trình hạ tầng có nguy cơ hư hỏng do lũ lụt và nước biển dâng ở Cần
Thơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status