NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ CÁCH THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN TRƯỚC ÁP LỰC VỀ NƯỚC SẠCH TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ VĂN MÔN, HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

LÊ THỊ BÍCH THỦY

NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ CÁCH
THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN TRƯỚC ÁP LỰC VỀ NƯỚC
SẠCH TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TẠI XÃ VĂN MÔN, HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - Năm 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

LÊ THỊ BÍCH THỦY

NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ CÁCH
THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN TRƯỚC ÁP LỰC VỀ NƯỚC
SẠCH TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TẠI XÃ VĂN MÔN, HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ VÂN HUỆ

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Bích Thủy

ii


MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................ii
MỤC LỤC.................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT, CHỮ VIẾT TẮT...................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG.........................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH..........................................................................................vi
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................... 4
1.1. Các khái niệm và mối liên hệ giữa các khái niệm trong đề tài ........................ 4
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới .................................................. 10
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam ................................................... 16
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu......................................................................18
CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........... 21
2.1. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................... 21
2.2. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................ 25


Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
Liên Hợp Quốc

IPCC

Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

IUCN

Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

NNPTNT

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

TCCP

Tiêu chuẩn cho phép

TNMT

Tài nguyên và Môi trường

UBND




DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu...................................................................... 22
Hình 3.1: Sơ đồ các bên liên quan ứng phó với áp lực nước ở Văn Môn ................ 60

vi


MỞ ĐẦU
Theo đánh giá của World Bank [2007], Việt Nam là một trong năm nước sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu
(BĐKH) và mực nước biển dâng, đặc biệt là về số người chịu tác động. Biến đổi khí
hậu có những tác động nhất định đến tất cả các vùng địa lý, dân cư của Việt Nam,
từ miền núi tới hải đảo, nông thôn tới đô thị. Các cộng đồng dân cư ven biển Việt
Nam sẽ chịu tác động nhiều nhất do mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết
cực đoan. Trong khi đó người dân miền núi phải hứng chịu các trận lũ quét và sạt lở
đất do sự thay đổi về lượng mưa, và cộng đồng dân cư ven đô cũng chịu tác động
không nhỏ do sự kết hợp giữa các vấn đề của đô thị hóa và biến đổi khí hậu.
Bắc Ninh, một tỉnh nằm ở vùng ven đô của Thành phố Hà Nội, nơi có quá
trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Sự gia tăng dân số và dân cư tập trung cao
đặt ra nhiều thách thức cho tỉnh. Khó khăn và thách thức lớn nhất là việc đáp ứng
các dịch vụ cơ bản, cơ sở hạ tầng, các nguồn tài nguyên thiết yếu cho số lượng dân
số ngày càng gia tăng. Ven đô là khu vực chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn, do
vậy nó pha trộn các đặc điểm của nông thôn và đô thị. Sự pha trộn này, cùng với
nhu cầu về tài nguyên, năng lượng, cơ sở hạ tầng, dịch vụ luôn là những vấn đề điển
hình ở các khu vực đang trong quá trình đô thị hóa.
Trong bối cảnh BĐKH hiện nay, những tác động của BĐKH sẽ làm trầm
trọng thêm các vấn đề trên, đặc biệt là vấn đề về nước sạch. Khô hạn và mưa lớn có

BĐKH. Do vậy, nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương, thích ứng của cộng đồng dân
cư ven đô đối với các thay đổi môi trường và tác động của BĐKH được xem là một
yêu cầu cấp bách hiện nay trong việc xác định các yếu tố làm tăng tính dễ bị tổn
thương, các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư ven
đô và giảm thiểu đến mức tối đa các tác động tiêu cực. Từ những yêu cầu cấp thiết
trên, đề tài “Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và cách thích ứng của người dân
trước áp lực về nước sạch trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã Văn Môn, huyện
Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” đã được thực hiện. Đề tài sẽ đóng góp cho cơ sở lý luận
về mối liên hệ giữa tính dễ bị tổn thương và áp lực về nước sạch trong bối cảnh biến
đổi khí hậu; bước đầu xác định được các tác động, các yếu tố dẫn đến tính dễ bị tổn
thương với áp lực nước và cách thích ứng của người dân. Kết quả của đề tài sẽ là cơ

2


sở đầu vào cho việc xem xét ra quyết định của các nhà lập chính sách, chính quyền
địa phương trong việc thích ứng với các thay đổi môi trường và BĐKH.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Xác định các yếu tố dẫn đến tính dễ bị tổn thương của người dân nhìn từ góc độ
giới trước áp lực về nước sạch trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu.
2. Tìm hiểu cách thích ứng của người dân tại địa bàn nghiên cứu, các yếu tố tăng
cường hoặc hạn chế khả năng thích ứng của họ.
3. Xác định giải pháp giúp người dân thích ứng tốt hơn với áp lực về nước sạch.
Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận văn.
1. Yếu tố nào dẫn đến tính dễ bị tổn thương của người dân trước áp lực về nước
sạch trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu? Có sự khác biệt như
thế nào giữa nam và nữ giới?
2. Cách thích ứng của người dân tại địa bàn nghiên cứu là gì? Yếu tố nào tăng
cường hoặc hạn chế khả năng thích ứng của họ?
3. Làm thế nào để giúp người dân thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu?

hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển.
Một cách khái quát, BĐKH được thể hiện ở ba đặc trưng chủ yếu như sau: a. Nhiệt
độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng lên; b. Mực
4


nước biển dâng lên do sự tan băng ở các cực và các đỉnh núi cao; c. Các thiên tai và
hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán...) xảy ra với
tần xuất, độ bất thường và có thể cả cường độ tăng lên [Trương Quang Học và Trần
Hồng Thái, 2008].
Tính dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương có nhiều thay đổi trong 20 năm qua. Đã
có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại thành phần, yếu tố để đánh
giá tính dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính
dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau [Nguyễn Thanh Sơn và
Cấn Thu Văn, 2012]. Nghiên cứu trong bối cảnh BĐKH, tác giả sử dụng khái niệm
về tính dễ bị tổn thương được Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu [2001]
đưa ra. Theo đó, định nghĩa chính thức: “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một
hệ thống dễ bị ảnh hưởng hoặc không thể đương đầu với các tác động bất lợi của
biến đổi khí hậu bao gồm cả sự thay đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực
đoan. Tính dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ của các
biến đổi và dao động khí hậu mà một hệ thống bị phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả
năng thích ứng của hệ thống đó”. Như vậy, tính dễ bị tổn thương là hàm của phơi
nhiễm, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng, được mô tả theo công thức sau:
Tính dễ bị tổn thương = f (phơi nhiễm, độ nhạy cảm, khả năng thích ứng)
Trong đó:

gây ra những tác động nhất định đến nguồn cung cấp nước, từ đó tạo nên các áp lực
về nước ở nhiều vùng địa lý. Thực vậy, thay đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm thay đổi
chu trình nước tự nhiên theo từng vùng. Theo đó, hệ quả là dẫn đến sự thay đổi toàn
bộ thành tố của chu trình nước bao gồm ngưng tụ, bốc hơi, độ ẩm đất, nạp nước
ngầm và chảy tràn [Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012]. Sự thay đổi về chế
độ mưa ở một số khu vực có thể làm trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm nước
hay những thiệt hại do nước gây ra. Những khu vực vốn khô hạn có thể bị sa mạc
hóa nếu lượng mưa giảm đi qua các năm, trong khi những khu vực tập trung nhiều
mưa lớn lại phải chịu đựng các thiên tai như sạt lở đất, ngập lụt và gây ra những
thiệt hại nghiêm trọng. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu và dự báo
các ảnh hưởng của BĐKH đến hệ thống cung cấp nước của các lưu vực hay các
thành phố lớn. Đối với những khu vực đô thị hóa chịu sức ép về dân cư và các nhu
cầu về dịch vụ xã hội cơ bản như điện, nước, năng lượng, môi trường thì các tác
động này có thể làm leo thang các vấn đề về khan hiếm nước sạch và ô nhiễm nước.
Như vậy, các tác động của BĐKH sẽ thúc đẩy gia tăng áp lực nước.

6


Thực tế, các đô thị ở Việt Nam vốn đã phải đối mặt với vấn đề áp lực nước
sạch. Theo nghiên cứu của Đào Thị Bích Vân [2015] một lượng đáng kể người dân
ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa tiếp cận được với nước sạch. Sự gia tăng dân số và
áp lực đô thị hóa đã dẫn đến gia tăng nhu cầu sử dụng nước, việc khai thác quá mức
nguồn nước ngầm và nước mặt đã dẫn đến suy thoái nguồn nước ở đây. Điều này
càng làm trầm trọng thêm áp lực nước sạch của thành phố trong hiện tại và tương
lai. Hơn nữa, theo kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường
[2012] công bố, nếu nước biển dâng 1 mét sẽ có trên 20% diện tích Thành phố Hồ
Chí Minh bị ngập và khoảng 7% dân số của thành phố chịu ảnh hưởng. Đây không
chỉ là vấn đề của Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Luis Neumann và cs
[2011] cũng chỉ ra thành phố Cần Thơ cũng chịu các áp lực nước trước tác động của

Tuy nhiên, ngoài sự phơi nhiễm và những thiệt hại, tính dễ bị tổn thương của
hệ thống tự nhiên hay hệ thống xã hội đối với áp lực nước sạch còn phụ thuộc vào
khả năng thích ứng của hệ thống đó. Đối với con người, chúng ta hoàn toàn có thể
lập ra những cách thích ứng tạm thời hay các kế hoạch thích ứng lâu dài với vấn đề
khan hiếm và ô nhiễm nước. Đối với các hệ thống tự nhiên, chúng ta cần có các kế
hoạch quản lý để ứng phó với những tác động của thay đổi môi trường và BĐKH.
Trong báo cáo của IPCC [2007] cũng chỉ ra sự thay đổi về nguồn nước không chỉ
tác động tới con người mà còn tác động tới các hệ sinh thái và những dịch vụ của
chúng. Báo cáo này cũng cho rằng tính dễ bị tổn thương với áp lực nước phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, ngoài các tác động của BĐKH mà còn phụ thuộc vào cách quản lý
các hệ thống lưu vực, các vùng đất ngập nước, lớp phủ thực vật, hạ tầng cơ sở cung
cấp nước, đặc điểm khí hậu, thủy văn khu vực...
Như vậy, việc nghiên cứu tính dễ bị tổn thương đối với áp lực nước sạch và
xây dựng các chương trình thích ứng là rất cần thiết để có thể đưa ra các giải pháp,
chiến lược ứng phó với những tác động từ áp lực nước sạch và BĐKH.
Giới và tính dễ bị tổn thương
Theo FAO [2006a], giới được định nghĩa là mối quan hệ giữa nam và nữ cả
về mặt nhận thức và vật chất. Giới không được xác định về mặt sinh học, như là các
đặc điểm sinh học của nam và nữ, nhưng được cấu thành về mặt xã hội. Theo
UNESCO [2003], giới ám chỉ những vai trò và trách nhiệm của nam và nữ giới

8


được tạo ra trong gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta. Khái niệm về giới
cũng bao gồm các đặc điểm, khả năng và hành vi của cả nam và nữ giới. Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam [2005] định nghĩa: giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và
mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ giới. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ
em trai, cho nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm
giới rất đa dạng và có thể thay đổi được. Nhìn chung, các định nghĩa trên đều có

việc ra quyết định tại gia đình và cộng đồng, điều này làm giảm năng lực ứng phó
của phụ nữ và các chiến lược thích ứng cũng kém hiệu quả hơn khi thiếu đi sự đóng
góp về quan điểm và ý kiến của nữ giới.
Thực vậy, chính nhờ vào kinh nghiệm từ công việc và đảm đương các gánh
nặng gia đình mà phụ nữ là những nhân tố quan trọng trong việc ứng phó, thích ứng
với các áp lực về môi trường và thay đổi khí hậu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng:
phụ nữ có nhiều tri thức truyền thống trong việc ứng phó với những thay đổi về thời
tiết trong nông nghiệp, cũng như trong việc tìm kiếm nguồn nước hay nhiên liệu
[Denton, 2002]. Với nguồn tri thức này, phụ nữ hoàn toàn có khả năng trong việc
ứng phó và thích ứng với thiên tai hay các vấn đề môi trường. Do đó, họ cần được
đào tạo, nâng cao nhận thức và được tham gia vào quá trình gia quyết định để nâng
cao khả năng thích ứng của bản thân và cộng đồng.
Tóm lại, nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng đối với rủi ro
môi trường, thay đổi khí hậu cần được lồng ghép khía cạnh giới để xác định được tính
dễ bị tổn thương của cả nam và nữ giới, tận dụng được lợi thế so sánh của họ trong việc
ứng phó, thích ứng với những tác động từ thay đổi của môi trường và khí hậu.
1.2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương
Có 3 trường phái nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương: (1) Chú trọng đến sự
tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm
họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các
đặc trưng tác động; (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên
quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao
gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa; (3) Kết hợp
cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa

10


đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội [Nguyễn



bản và các yếu tố quyết định tính dễ bị tổn thương có liên quan đến những nhà
hoạch định chính sách. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng còn nhiều hạn chế: (1)
tương đối chủ quan trong việc lựa chọn các chỉ số và trọng số của chúng, (2) tính
sẵn có của dữ liệu ở các mức độ khác nhau, (3) rất khó để kiểm tra và làm hợp lý
các đơn vị đo khác nhau [Deressa et al., 2009]. Hơn nữa, các nghiên cứu này mới
tập trung định lượng chỉ số mà chưa tập trung tìm ra các nguyên nhân dẫn tới tính
dễ bị tổn thương và cũng chưa xem xét vấn đề giới, mà những khía cạnh này sẽ
được phân tích trong nghiên cứu của tác giả. Ngoài ra, một cách tiếp cận khác là
phân tích tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng dựa vào cộng đồng (CVCA)
đã được Tổ chức Care International đề xuất. Cách tiếp cận này cung cấp các hướng
dẫn và công cụ cho việc thu thập, tổ chức phân tích thông tin về khả năng dễ bị tổn
thương của cộng đồng và năng lực thích ứng của cộng đồng trong đó đòi hỏi có sự
tham gia của các bên liên quan, kể cả các cơ quan quản lý và lập chính sách ở cấp
quốc gia và địa phương trong thực hiện thích ứng. Ý nghĩa cách tiếp cận này mang
lại là việc xác định được các chiến lược thích ứng mang tính khả thi và thực tiễn ở
các cộng đồng [Smit và Wandel, 2006]. Do vậy, nghiên cứu của tác giả sẽ sử dụng
cách tiếp cận này, thông qua làm việc trực tiếp với cộng đồng để xác định các yếu
tố dẫn tới những tổn thương và cách thích ứng của họ đối với các áp lực nước và
biến đổi khí hậu.
Theo hướng khác, một số nghiên cứu tập trung xác định các đối tượng dễ bị
tổn thương và các yếu tố thúc đẩy tính dễ bị tổn thương của họ. Các nhà sinh thái
nhân văn như Hewitt và Watts đã nỗ lực để giải thích tại sao nhóm người nghèo và
nhóm bị chịu thiệt thòi là những người gặp nhiều rủi ro nhất với các hiểm họa thiên
nhiên. Nhóm hộ nghèo thường sống những ở khu vực rủi ro hơn trong các vùng đô
thị (như vùng ven đô, gần kênh, mương), những khu vực này dễ gặp nguy hiểm do
hiện tượng lũ lụt, bệnh tật và các áp lực thường xuyên khác [Adger, 2006]. Ngoài
ra, phụ nữ cũng là đối tượng chịu nhiều ảnh hưởng hơn. Phụ nữ gặp nhiều rủi ro
hơn với các hiểm họa môi trường, do họ mang gánh nặng công việc trong việc phục

ba khía cạnh này.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chủ yếu tập trung cho các khu vực dân cư
ven biển, miền núi, nông thôn và đô thị, mà có rất ít nghiên cứu dành cho các vùng
ven đô. Ví dụ, nghiên cứu của Adger [1999] cho vùng ven biển của Việt Nam, nghiên

13


cứu của Piya và cs [2012] cho các hộ nông thôn miền núi ở Nepal, nghiên cứu
Adelekan [2007] về đánh giá tính dễ bị tổn thương do ngập lụt đô thị ở Nigeria... Đây
là một khoảng trống trong nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương hiện nay.
Mặt khác, các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương của cộng đồng đối với áp
lực nước vẫn còn rất ít. Một trong số đó là nghiên cứu của Huỳnh Thị Anh Phương
và Bernadette [2014] về tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của phụ nữ đối
với sự khan hiếm nước liên quan đến khí hậu trong nông nghiệp ở một vùng nông
thôn Việt Nam. Nghiên cứu này đã sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và
định lượng như phỏng vấn hộ, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu... Đặc biệt, nghiên
cứu đã xác định được tính dễ tổn thương, cách thích ứng và những yếu tố giới hạn
làm tăng tính dễ tổn thương và khả năng thích ứng của các nhóm phụ nữ khác nhau:
nhóm phụ nữ làm chủ hộ và phụ nữ có chồng làm chủ hộ hay theo nhóm kinh tế hộ
giàu, nghèo, trung bình. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào vấn đề khan
hiếm nước trong nông nghiệp và đối tượng nghiên cứu chủ yếu là phụ nữ. Trong khi
đó, nam giới cũng là đối tượng chịu tác động do những thay đổi môi trường và biến
đổi khí hậu do vậy phân tích trên khía cạnh giới cần xem xét vai trò của cả nam và nữ
giới trong việc ứng phó, thích ứng những tác động này.
Tóm lại, các nghiên cứu tính dễ bị tổn thương trên thế giới hiện nay được tập
trung vào các hệ thống tự nhiên hay xã hội khác nhau, và có nhiều phương pháp tiếp
cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Nhưng tựu chung lại các nghiên cứu
đều xem xét tính dễ bị tổn thương là hàm của phơi nhiễm, nhạy cảm và khả năng
thích ứng, xem xét nghiên cứu cả khía cạnh tự nhiên và xã hội của tính dễ bị tổn

với chính cộng đồng địa phương. Ví dụ, Reid và cs [2009] đã tổng quan cách tiếp
cận này. Theo đó, họ kết luận: để có thể thành công, các chương trình thích ứng dựa
vào cộng đồng sẽ cần phải đảm bảo được sự tham gia của cộng đồng trong việc xác
định các ưu tiên, lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các hoạt động thích ứng. Như
vậy, khi sự tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển hay kế hoạch ứng phó
bị giới hạn sẽ là một nguyên nhân làm tăng tính dễ tổn thương và giảm khả năng
thích ứng trước các tác động của sự thay đổi môi trường và BĐKH.

15


Về hướng nghiên cứu, nhiều nghiên cứu thích ứng không chỉ tập trung vào
thích ứng của cộng đồng nói chung mà cũng xem xét khả năng thích ứng của các
nhóm người nghèo, các nhóm chịu thiệt thòi. Ví dụ, Dulal và cs [2010] đã đưa ra
những khảo sát về khả năng của nhóm người nghèo ở vùng Koshi Tappu, Nepal
thích ứng với BĐKH, đặc biệt chú ý đến các nguồn lực sinh kế để duy trì khả năng
ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan liên tục xảy ra. Nghiên cứu này đã
xác định được khả năng thích ứng của cộng đồng dựa trên phân tích các nguồn vốn
về tài nguyên, con người, tài chính... mà họ có và quyết định tới các lựa chọn sinh
kế của họ. Nghiên cứu này cũng đã xác định được các yếu tố thể chế, chính sách
hạn chế khả năng thích ứng của họ. Tuy nhiên, nghiên cứu còn hạn chế là chưa xem
xét đến khía cạnh giới và phương pháp sử dụng chủ yếu là phỏng vấn theo bảng hỏi
mà không sử dụng kết hợp với các phương pháp phỏng vấn sâu hay thảo luận nhóm
để thông tin được củng cố hơn.
Tóm lại, từ việc tổng quan các nghiên cứu ở trên, tác giả đã lựa chọn cách
tiếp cận phân tích tính dễ tổn thương và thích ứng dựa vào cộng đồng trong nghiên
cứu này, trong đó sử dụng một bộ các công cụ và phương pháp cả định tính và định
lượng. Từ đó, nghiên cứu sẽ xác định được các yếu tố cả về mặt tự nhiên và xã hội
hạn chế hay tăng cường tính dễ tổn thương và khả năng thích ứng của một cộng
đồng ven đô đối với áp lực nước sạch, và xem xét cả góc độ giới. Từ những phân

hơn nam giới vì khả năng và mức độ tiếp cận nguồn lực sinh kế thấp hơn. Nhưng
nghiên cứu này cũng có hạn chế như chưa xem xét đến các khía cạnh xã hội như
thích ứng về thể chế, tiếp cận tài nguyên và quyền tham gia vào các kế hoạch,
chương trình phát triển ở địa phương.
Theo báo cáo “Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng
tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề và xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, Sóc
Trăng” do IUCN [2012] thực hiện đã áp dụng một khung phương pháp luận chung
bao gồm các công cụ và phương pháp đánh giá tổng hợp từ CARE International và
UNDP với sự tham gia của cộng đồng. Nghiên cứu này đã cung cấp các thông tin về
tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của các cộng đồng dân cư do ảnh hưởng
của thiên tai và BĐKH. Nghiên cứu mới chỉ tập trung vào phân tích rủi ro, mức độ
nhạy cảm của sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, sử dụng đất. Ngoài xem xét tác động

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status