Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa - Pdf 30

i

HÀ NỘI - Năm 2015

ii ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHAN VĂN KIÊN
ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI CÓ SỰ
THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BỐI
CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ QUẢNG
NHAM, HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH
THANH HÓA Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VÕ THANH SƠN



Tác giả Phan Văn Kiên

iv LỜI CAM ĐOAN

Tác giả làm luận văn cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng cá
nhân tác giả, các số liệu là trung thực, không sử dụng số liệu của các tác giả
khác chưa được công bố, các kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được
công bố. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

1.2. Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại tỉnh Thanh Hoá 7
1.3. Công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai tại Việt Nam và Thanh Hóa 10
1.3.1. Về chính sách phòng tránh giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu 10
1.3.2. Phương châm 4 tại chỗ trong Phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai 12
1.4. Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Quảng Xương 14
1.4.1. Nhiệt độ 15
1.4.2. Lượng mưa 15
1.4.3. Độ mặn 16
1.5. Tình hình đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.5.1. Cơ sở lý luận 17
1.5.2. Thực tiễn đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới 19
1.5.3. Đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại Viêt Nam 21
1.5.4. Đối tượng dễ bị tổn thương trong thiên tai 22
CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 24
2.1. Địa điểm, thời gian, đối tượng, nội dung nghiên cứu 24
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu. 24
2.1.2. Một số thông tin về kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 25
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 25
vi

2.1.4. Đối tượng nghiên cứu 25
2.2. Nội dung nghiên cứu 26
2.3. Phương pháp luận nghiên cứu 26
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 29
2.4.2. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng 29
2.4.3. Nội dung và tiến trình đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 35
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Đánh giá hiểm họa 39

Phụ lục 6. Danh sách các thành viên Đoàn đánh giá 95
viii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
BCH PCLB Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão
BĐKH Biến đổi khí hậu

Bảng 3.6 Thang điểm đánh giá kết quả phỏng vấn học sinh 52
Bảng 3.7 Hiện trạng chuẩn bị về vật tư, phương tiện tại chỗ 59
Bảng 3.8

Hiện trạng chuẩn bị về hậu cần tại chỗ 60
Bảng 3.9

Hiện trạng chuẩn bị về lực lượng tại chỗ 61
Bảng 3.10

Hiện trạng chuẩn bị về chỉ huy tại chỗ 63
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
STT TÊN HÌNH TRANG

Hình 1.1 Thống kê thiệt hại về kinh tế do thiên tai gây ra tại
Thanh Hóa (1996 – 2009)
9
Hình 1.2 Thống kê thiệt hại về người do thiên tai gây ra tại Thanh
Hóa (1996 – 2009)
9
Hình 1.3 Biểu đô theo dõi nhiệt độ trung bình năm qua các năm
(1980 – 2010)
15
Hình 1.4 Biểu đô theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các
năm (1980 – 2010)
16
Hình 1.5 Kết quả quan trắc biến thiên độ mặn trên sông Yên
(1980 – 2010)
17
Hình 2.1 Bản đồ xã Quảng Nham 24

đột biến khó lường.
Trong công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, cộng đồng tại các địa
phương là nguồn lực tại chỗ hết sức quan trọng đóng góp và đảm bảo tính hiệu quả
và bền vững của công tác này. Điều này cũng được thể hiện rõ trong quan điểm của
Chính phủ tại Quyết định Phê duyệt Chiến lược phòng, chống thiên tai đến năm
2020: “Công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai thực hiện theo phương châm
nhà nước và nhân dân cùng làm, sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước, đồng
thời huy động mọi nguồn lực của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước”. Trong thời điểm hiện nay, nâng cao kiến thức và kỹ năng trong công
tác phòng tránh giảm nhẹ thiên tai là nội dung rất quan trọng đảm bảo hiệu quả công
tác phòng tránh giảm nhẹ thiên tai. Tuy nhiên, vì thiên tai mang tính đặc thù địa
phương, tính vùng miền nên phải có bức tranh thực tế và toàn diện. Để đạt được
mục tiêu nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng
đồng thì đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là hoạt động trước tiên và rất
quan trọng. Hoạt động này càng trở nên quan trọng khi biến đổi khí hậu đã tác động
mạnh làm gia tăng mức độ cực đoan của các loại hình thiên tai ở Việt Nam.
Hiện nay có nhiều nghiên cứu đánh giá rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến
đổi khí hậu được thực hiện khá nhiều tại Đồng bằng sông Cửu Long do IUCN tổ
chức [IUCN, 2012a], [IUCN, 2012b], [IUCN, 2012c], cũng như một số địa phương
2
vùng cao ở Việt Nam do CECI tiến hành [CECI, 2011]. Tuy nhiên, việc đánh giá
này chưa được thực hiện nhiều tại các vùng ven biển thuộc khu vực Bắc Trung Bộ
nói chung và Thanh Hóa nói riêng, nơi có nhiều thiên tai thường xuyên de dọa. Hơn
nữa, các đánh giá trước đó chủ yếu đặt nặng vấn đề tình trạng dễ bị tổn thương và
năng lực mà chưa chú trọng đến đánh giá hiểm họa và chưa xét đến các yếu tố trên
trong điều kiện biến đổi khí hậu đã tác động như thế nào tới cộng đồng đặc biệt là
đối với các đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Vì vậy chúng tôi chọn Thanh Hóa là

có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã Quảng Nham,
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa” nhằm xem xét tác động của các hiểm họa tự
nhiên, mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai của
cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thấy rõ được những thuận lợi và khó
khăn từ đó giúp cho người nghiên cứu đưa ra những đề xuất hoạt động để giảm nhẹ
tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng nhằm giảm mức
độ thiệt hại gây ra từ các hiểm họa tự nhiên đồng thời thích ứng tốt hơn với biến đổi
khí hậu tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ tình hình hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng
tránh, giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên quan điểm, nhận thức
của cộng địa phương tại vùng nghiên cứu.
- Đưa ra một sô đề xuất kiến nghị để giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và
tăng cường năng lực cho cộng đồng vùng nghiên cứu trong phòng tránh và giảm nhẹ
thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp nhất với nguồn lực của cộng đồng.
Nội dung nghiên cứu:
Nội dung chính của nghiên cứu bao gồm:
a. Xem xét những hiểm họa tự nhiên mà cộng đồng vùng nghiên cứu đang gặp phải
trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
b. Đánh giá những tình trạng dễ bị tổn thương, không an toàn mà cộng đồng đang
gặp phải khi đối mặt với những hiểm họa tự nhiên này.
c. Đánh giá năng lực để cộng đồng vùng nghiên cứu có thể phòng tránh, giảm nhẹ
thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
d. Đưa ra đề xuất giúp công tác phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng
đồng trên cơ sở thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng nghiên cứu đạt kết quả
tốt hơn.
4
5
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia hàng năm phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai
khác nhau, đặc biệt là bão và lũ lụt. Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm
có tới 750 người chết và mất tích, thiệt hại về tài sản ước tính tương đương khoảng
1-1,5% GDP [DMC – BNN&PTNT, 2011] đã tác động xấu đến nhiều mặt về phát
triển kinh tế, xã hội và môi trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng biệu
hiện rõ ở Việt Nam, thiên tai được dự báo là sẽ ngày càng khốc liệt, khó lường, gia
tăng cả về cường độ và tần suất khiến người dân, chính quyền và các thành phần xã
hội khác phải gánh chịu những rủi ro thiên tai lớn hơn bao giờ hết.
Theo thống kê của Ban chỉ đạo PCLBTW từ năm 1996 đến năm 2011, số
người chết do lụt bão có xu hướng gia tăng (180 người năm 2003 đến 474 người
năm 2008), đồng thời thiệt hại về kinh tế cũng có xu hướng tăng mạnh (từ 1589,7 tỷ
năm 2003 đến 18565,661 tỷ năm 2006) [Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo PCLB
Trung ương, 2013]. Điều này được lý giải là do tần suất và cường độ lụt, bão trong
những năm gần đây tăng lên và diễn biến rất phức tạp, khó dự báo và việc chủ động
phòng tránh còn hạn chế về nhiều mặt của nước ta.
Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến giảm thiểu rủi ro thiên tai
và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chính phủ đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ trong
việc giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định 172/2007/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2007 về
Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020
[Thủ tướng Chính phủ, 2007] và Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5 tháng 12 năm
2011 về Phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu [Thủ tướng Chính phủ,
2011] và sau đó cụ thể hóa bằng Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm
2009 về Phê duyệt Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai
dựa vào cộng đồng [Thủ tướng Chính phủ, 2009] và Quyết định số 1183/QĐ-TTg

động ứng phó với biến đổi khí hậu. Kịch bản Biến đổi khí hậu đã được Bộ Tài
nguyên và Môi trường xây dựng năm 2009, được bổ sung, cập nhật chi tiết cho các
vùng năm 2012 là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương
trình hoạt động ứng phó phù hợp. Việt Nam cũng đã triển khai một số chương trình
nghiên cứu về ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai có hiệu
quả. Trong đó, tăng cường tính chủ động và tích cực của cộng đồng để chủ động
ứng phó với những ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu thông qua giảm
7
thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng bám sát
phương châm bốn tại chỗ là vấn đề quan tâm hàng đầu trong chiến lược và hành
động của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trên thực tế, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất bởi thiên tai và biến đổi khí hậu. Theo Tổng quan Báo cáo Phát triển Con
người của UNDP: Nếu nhiệt độ trái đất tăng lên 3 – 4
0
C có thể khiến cho 330 triệu
người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt trong đó khoảng 22 triệu người
Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng
[
UNDP, 2007 - 2008
]. Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt
Nam 2012, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng
sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên
2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố
Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng
sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9%
dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh

một con lũ từ 7 đến 10 ngày và lũ lên nhanh, xuống cũng rất nhanh.
Trong lịch sử ở Thanh Hoá đã xảy ra 45 điểm vỡ đê trên sông lớn và 13 điểm
vỡ đê sông nhỏ. Lũ bão lớn đã xảy ra vào các năm 1927, 1944, 1962, 1973, 1980,
1996 và gần đây nhất là năm 2005 và 2007. Vào năm 2005, Thanh Hoá liên tiếp
chịu ảnh hưởng của 4 cơn bão, 5 đợt lũ trên các triền sông và 1 đợt lũ quét tại huyện
Quan Hoá đã gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho các vùng trong tỉnh. Trong đó có
hai cơn bão số 6 và số 7 đã liên tiếp đổ bộ vào Thanh Hoá trong các ngày 19/9 đến
27/9/2005 với sức gió giật cấp 11, trên cấp 11 kèm theo mưa to đến rất to. Vào năm
2007, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5 đã gây ra mưa lũ lớn, xảy ra tổ hợp lũ
đặc biệt lớn trên tất cả các sông, làm tràn và vỡ nhiều tuyến đê sông, gây thiệt hại
nặng nề ước tính khoảng 1100 tỷ đồng [Trường Đại học Thủy lợi, 2012].
Bão và lũ lụt đã gây ra rất nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho
người dân tỉnh Thanh Hoá. Ngoài ra, nó còn gây ra nhiều khó khăn về điều kiện ăn
ở, vệ sinh môi trường, nguy cơ dịch bệnh cho người dân và hàng ngàn đồng ruộng
bị nhiễm mặn do nước biển tràn vào phải mất rất nhiều tiền của, công sức qua nhiều
năm mới có thể khôi phục và cải tạo lại được. Số liệu thống kê của Sở NN - PTNT
Thanh Hóa, trong vòng 14 năm gần đây (1996 – 2009) đã có tất cả 324 người bị
chết và tổng giá trị thiệt hại kinh tế ước tính 4500 tỷ đồng.
9

Hình 1.1. Thống kê thiệt hại về kinh tế do thiên tai tại Thanh Hóa

Hình 1.2. Thống kê thiệt hại về người do thiên tai tại Thanh Hóa
Nguồn: [Trường Đại học Thủy lợi, 2012]

Bên cạnh đó ảnh hưởng của biển đổi khí hậu và nước biển dâng đã dẫn tới
làm gia tăng hạn hán cục bộ và xâm nhập mặn cho nhiều địa phương ven biển của


Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012].
Như vậy, với nhiều văn bản quy định công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên
tai tại Việt Nam nhưng nội dung còn rời rạc, chưa có một văn bản tổng thể được
luật hóa để phòng tránh, giảm nhẹ tất cả các loại thiên tai một cách thống nhất và
hạn chế sự chồng chéo về trách nhiệm từ đó làm tăng tính hiệu quả của công tác
này. Trước yêu cầu đó Quốc hội đã thảo luận và ban hành Luật Phòng chống, giảm
nhẹ thiên tai ngày 19 tháng 6 năm 2013. Luật này đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5
năm 2014.
11
Tại tỉnh Thanh Hóa, trước tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến
hết sức phức tạp trên địa bàn tỉnh, Chính quyền và người dân tỉnh Thanh Hoá đã có
nhiều nỗ lực trong việc ứng phó với những thách thức do thiên tai và biến đổi khí
hậu. Năm 2008, UBND tỉnh đã thiết lập Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược
quốc gia về ngăn ngừa, ứng phó và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. Kế hoạch thực
hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2010 –
2015 tầm nhìn 2020 cũng đã được Sở Tài nguyên và Môi trường (DONRE) xây
dựng và được UBND tỉnh phê duyệt. Gần đây nhất là Kế hoạch thực hiện Chương trình
Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng do Sở NN và PTNT xây dựng đã được xem
xét và phê duyệt năm 2012. Tất cả các chương trình trên đã bắt đầu được thực hiện.
Hiên nay, tỉnh Thanh Hoá có các Ban chỉ huy phòng, chống lụt bão (PCLB),
Ban tìm kiếm cứu nạn (TKCN) chịu trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân Tỉnh
(UBND) điều hành và phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về lĩnh vực này.
Những chuyển biến nói trên chứng tỏ rằng Chính quyền tỉnh Thanh Hoá đã
nhận thức được tầm quan trọng của giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến
đổi khí hậu trong chiến lược phát triển của mình. Tuy nhiên, trong các cuộc phỏng

- Khoản d, Mục 7, Điều 10, Chương 3 Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày
16/1/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Phòng chống
lụt bão sửa đổi nêu rõ “Các địa phương vùng thường xuyên bị bão, áp thấp nhiệt
đới, lũ lụt cần tổ chức tập huấn, diễn tập cho các lực lượng trực tiếp làm công tác
phòng, chống lụt, bão, cứu hộ, cứu nạn; chủ động xây dựng phương án đối phó, huy
động mọi nguồn lực trên địa bàn theo phương châm “4 tại chỗ: chỉ huy tại chỗ, lực
lượng tại chỗ, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ” để đối phó và khắc phục hậu quả của
lụt, bão.”
- Trong nội dung của Nguyên tắc chỉ đạo thứ 3, Quyết định 172/2007/QĐ-TTg
ngày 16/11/2007 về việc Phê duyệt Chiến lược Phòng chống giảm nhẹ thiên tai đến
năm 2020 nêu rõ: “Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai phải
được thực hiện đồng bộ, theo giai đoạn và có trọng điểm, vừa có tính cấp bách,
vừa có tính lâu dài. Công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai phải thực hiện
theo phương châm “4 tại chỗ” (vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, lực
lượng tại chỗ) và chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương
và hiệu quả. Công tác khắc phục hậu quả phải kết hợp với khôi phục và nâng cấp,
bảo đảm sự phát triển bền vững của từng vùng và từng lĩnh vực.”
13
- Đặc biệt Khoản 3, Điều 4, Luật Phòng chống thiên tai 2013 có ghi rõ “Phòng,
chống thiên tai được thực hiện theo phương châm bốn tại chỗ: chỉ huy tại chỗ; lực
lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ.”
Chính vì vậy, khi đánh giá năng lực của người dân, tác giả đã chọn khả năng
thực hiện phương châm 4 tại chỗ để xác định mức độ năng lực phòng tránh thiên tai
và sử dụng hiểu biết của cộng đồng về đặc điểm của các loại thiên tai, biện pháp
ứng phó và hiểu biết về biến đổi khí hậu tại địa phương để xác định tình trạng dễ bị
tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu của đối tượng nghiên cứu.
Phương châm bốn tại chỗ trong phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai có thể được

phương tiện, tài sản, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội theo
sự điều động của người có thẩm quyền. Ngoài ra còn có tổ chức, cá nhân tình
nguyện tham gia hỗ trợ hoạt động phòng, chống thiên tai theo sự chỉ huy của người
có thẩm quyền tại cộng đồng.
d. Chỉ huy tại chỗ: Thiên tai có tính đặc thù đối với từng địa phương do đó
công tác phòng tránh giảm nhẹ thiên tai có tính chất riêng của từng địa phương cụ
thể. Vì vậy, việc chỉ huy tại chỗ từ trước, trong và sau thiên tai là một yêu cầu khách
quan và cấp thiết. Các thành phần tham gia chỉ huy tại chỗ cấp cơ sở là cán bộ Ban
PCLB xã, tiểu ban PCLB thôn, đại diện các tổ chức đoàn thể tại xã, thôn kể cả lực lượng
xung kích trên địa bàn tham gia hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp để phòng
tránh giảm nhẹ thiên tai một cách chủ động thường xuyên và liên tục. Riêng đối với hộ
gia đình, người chỉ huy chính là chủ hộ, người thông minh, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và
chịu trách nhiệm về sự an toàn về tính mạng và tài sản của gia đình.
1.4. Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Quảng Xương
Quảng Xương có những nét đặc trưng về khí hậu, thủy văn của vùng ven
biển tỉnh Thanh Hóa do đó sự thay đổi của các yếu tố thời tiết khí hậu như: nhiệt độ,
độ ẩm, lượng mưa là rất được quan tâm theo dõi. Chính vì vậy, mà tại xã Quảng
Thịnh, huyện Quảng Xương, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh đã đặt 01 trạm khí
tượng để đo đạc và cập nhật các yếu tố biến động về khí tượng, thủy văn cho các xã
thuộc huyện Quảng Xương trong đó có xã Quảng Nham. Theo Kế hoạch hành động
ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Thanh Hóa [Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh
Hóa, 2012] cho thấy sự biến động các yếu tố khí hậu, thủy văn trong 30 năm (1980 –
2010) tại Quảng Xương được ghi nhận như sau:
15
1.4.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ trong 30 năm qua có xu thế tăng lên, nhiệt độ trung bình trong
10 năm gần đây phổ biến tăng từ 0,1 – 0,4

C; mùa hè năm 2010, nhiều đợt nắng nóng gay gắt,
nhiệt độ tối cao tuyệt đối dao động từ 40 – 43
o
C .
Không khí lạnh có nhiều biểu hiện bất thường, mùa lạnh đến sớm hơn (cuối
tháng tháng 8 đã xuất hiện), số đợt nhiều hơn, cường độ không mạnh như nhiều năm
trước đây song lại có những năm xuất hiện rét đậm rét hại kéo dài mang tính lịch sử
như năm 2008, 2010 và 2011.
1.4.2. Lượng mưa
Tổng lượng mưa năm trong 30 năm trở lại đây có xu thế giảm, đồng thời có
nhiều biểu hiện khác với quy luật thông thường nhiều năm, trong mùa khô ít mưa

Trích đoạn Lịch thiờn tai mựa vụ Tổ chức xó hội, chớnh quyền Chuẩn bị về chỉ huy tại chỗ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status