Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
LỜI GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây HDH Linux đang ngày càng trở nên phổ biến trong
trường học và môi trường công nghiệp. hệ Unix này, với chức năng và tính ổn định
cho phép nó tồn tại song song với các hệ điều hành thương mại khác. Hơn nữa, sự
phổ biến của mã nguồn Linux trên Internet đã đóng góp rất nhiều cho sự phổ cập của
linux. Điều này là lý do cho nhóm đã chọn đề tài nghiên cứu và phát triển các dịch vụ
mạng trên môi trường Linux.
Trên hết nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Phạm Nguyễn Huy Phương
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chúng em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Chúng em xin gửi đến qúy thầy cô khoa Công Nghệ Thông Tin lòng biết ơn sâu
sắc và ghi nhận sự chỉ dẫn, giảng dạy, hỗ trợ và giúp đỡ, cung cấp những kiến thức
qúy báu, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và góp ý trong suốt quá trình học tập cho sinh
viên chúng em thực hiện đề tài tốt nghiệp được thuận lợi.
Xin chân thành tỏ lòng biết ơn đến các bạn bè thân hữu đã động viên giúp đỡ
chúng tôi trong suốt thời gian học tập cũng như làm đề tài tốt nghiệp.
Báo cáo gồm 2 phần:
Phần 1: Tìm hiểu về hệ điều hành Linux
Phần 2: Các dịch vụ mạng
TPHCM, Ngày 13 tháng 06 năm 2008
Nhóm sinh viên thực hiện
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 1
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Lời nhận xét của GVPB
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
Tùy chọn...............................................................................................................................123
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 3
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Server: máy chủ.
SMB= Samba chương trình dùng chia sẻ tài nguyên giữa các Windows PC và
Linux PC.
MTA: Mail Transport Agent.
PC= Personal computer: máy tính cá nhân.
Point, mount_point: điểm truy cập, thường là thư mục, nơi mount các hệ thống
tập tin.
Mount: gắn kết các tập tin vào 1 point nào đó.
Umount: gỡ bỏ các tập tin đã được mount vào 1 point nào đó.
Phần này chủ yếu dành cho các nhà quản lý dự án công nghệ thông tin. Tuy không
thật cần thiết cho việc cài đặt và sử dụng Linux, nhưng nội dung của nó cũng có thể
bổ ích cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu về những chủ đề sau đây:
- Linux là gì?
- Tại sao Linux phát triển?
- Các bản phát hành Linux
- Lợi ích của Linux
- Ai phát triển Linux?
- Linux cộng sinh với Windows
- Thương mại hóa Linux
- UNIX và Linux
- Tác quyền và bản quyền Linux
1.1.Linux là gì?
Linux xuất hiện như một sản phẩm nguồn mở miễn phí và đến nay đã có thể sánh
vai với các hệ điều hành thương phẩm như MS Windows, Sun Solaris v.v. Linux ra
đời từ một dự án hồi đầu những năm 1990 có mục đích tạo ra một hệ điều hành kiểu
UNIX cài đặt trên máy tính cá nhân chạy với bộ vi xử lý Intel, tương hợp họ máy tính
IBM-PC (còn gọi tắt là PC). Từ lâu, UNIX đã nổi tiếng là một hệ điều hành mạnh, tin
cậy và linh hoạt, nhưng vì khá đắt nên chủ yếu chỉ dùng cho các trạm tính toán hoặc
máy chủ cao cấp.
Ngày nay Linux có thể cài đặt trên nhiều họ máy tính khác nhau, không chỉ riêng
cho họ PC. Qua Internet, Linux được hàng nghìn nhà lập trình khắp trên thế giới tham
gia thiết kế, xây dựng và phát triển, với mục tiêu không lệ thuộc vào bất kỳ thương
phẩm nào và để cho mọi người đều có thể sử dụng thoải mái. Khởi thuỷ, Linux xuất
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 6
Trang 7
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Linux không phải là đồ chơi sẵn có, nó được thiết kế nhằm mang đến cho người sử
dụng cảm giác cùng tham gia vào một dự án mới. Tuy nhiên thực tế cho thấy Linux
chạy tương đối ổn định và cho bạn một cơ may không tốn kém để học và sử dụng
UNIX, một họ hệ điều hành chuyên nghiệp hiện nay đang được rất nhiều người dùng
trên các máy chủ và trạm tính toán cao cấp.
1.2.Tại sao Linux phát triển?
Trước hết, Linux phát triển vì là một trong những hệ điều hành miễn phí và có khả
năng đa nhiệm cho nhiều người sử dụng cùng lúc trên các máy tính tương thích với
PC. So với những hệ điều hành thương phẩm, Linux giúp bạn ít phải nâng cấp và lại
không cần trả tiền, cũng như phần lớn các phần mềm ứng dụng cho nó. Hơn nữa,
Linux và những ứng dụng đó được cung cấp với cả mã nguồn miễn phí mà bạn có thể
lấy về từ Internet, sau đó chỉnh sửa và mở rộng chức năng của chúng theo nhu cầu
riêng.
Linux có khả năng thay thế một số hệ điều hành thuộc họ UNIX đắt tiền. Nếu tại
nơi làm việc mà bạn sử dụng UNIX thì ở nhà bạn cũng thích sử dụng một hệ nào đó
giống như thế nhưng rẻ tiền. Linux giúp bạn dễ dàng truy cập, lướt qua các Website
và gửi nhận thông tin trên mạng Internet. Nếu bạn là một quản trị viên UNIX thì về
nhà bạn cũng có thể sử dụng Linux để thực hiện mọi công việc quản trị hệ thống.
Một nguyên nhân khác làm cho Linux dễ đến với người dùng là nó cung cấp mã
nguồn mở cho mọi người.
Chính điều này đã khiến một số tổ chức, cá nhân hay quốc gia đầu tư vào Linux
nhằm mở rộng sự lựa chọn ra ngoài các phần mềm đóng kín mã nguồn. Họ cho rằng,
mặc dù có dịch vụ hậu mãi nhưng không gì đảm bảo được rằng khi dùng các sản
phẩm đóng kín này trên Internet, các thông tin cá nhân hay quốc gia của họ có bị gửi
Tại sao có thể chọn Linux thay vì chọn một trong những hệ điều hành khác chạy
trên PC như DOS, Windows 95/98, Windows NT, hoặc Windows 2000 ?
Linux cung cấp cho bạn một môi trường học lập trình mà hiện nay chưa có hệ nào
sánh được. Với Linux, bạn có đầy đủ cả mã nguồn, trong khi đó các sản phẩm mang
tính thương mại thường không bao giờ tiết lộ mã nguồn.
Cuối cùng, Linux mang đến cho bạn cơ hội sống lại bầu không khí của cuộc cách
mạng vi tính trước kia. Cho đến giữa thập niên 1970, máy tính điện tử còn là sân chơi
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 9
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
riêng của các tổ chức lớn, chẳng hạn như chính quyền, tập đoàn doanh nghiệp và
trường đại học. Người dân thường đã không thể sử dụng những thành tựu kỳ diệu của
công nghệ thông tin.
Song với sự xuất hiện của bộ vi xử lý đầu tiên (1971) rồi máy tính cá nhân (1975),
mọi việc đã thay đổi. Thoạt tiên, đó là đất dụng võ của các tay hacker say mê vi tính.
Họ thậm chí có thể tự làm ra những máy tính cá nhân và hệ điều hành đơn giản,
nhưng các hệ này chưa làm gì được nhiều ở góc độ hiệu năng. Với kinh nghiệm tích
luỹ dần theo năm tháng, một số hacker đã trở thành nhà doanh nghiệp, rồi cùng với
khả năng tích hợp ngày càng cao của các vi mạch, PC đã trở thành phổ biến (rất tiếc
hiện nay xã hội thường nghĩ xấu về chữ "hacker", xin mời bạn xem thêm mục "Ai
phát triển Linux?" ở cuối chương này để phân biệt rõ hơn hacker và cracker là những
ai).
Ngày nay Linux đang làm một cuộc cách mạng ở lĩnh vực phần mềm hệ thống.
Linux là lá cờ tập hợp những con người không muốn bị kiểm sát bởi các hãng khổng
lồ nhân danh kinh tế thị trường để làm xơ cứng óc sáng tạo và cải tiến.
Với Linux bạn sẽ khai thác được nhiều thế mạnh của UNIX. Trong số những hệ
điều hành thông dụng hiện nay, Linux là hệ điều hành miễn phí được nhiều người sử
Hai khái niệm hiện nay được đề cập rất nhiều là hệ thống mở (open system) và tính
liên tác (interoperability) đều gắn với khả năng của những hệ điều hành có thể liên lạc
với nhau. Phần lớn các hệ mở đòi hỏi phải thoả mãn tương thích tiêu chuẩn IEEE
POSIX (giao diện hệ điều hành khả chuyển). Linux đáp ứng những tiêu chuẩn ấy và
được lưu hành với mã nguồn mở.
1.5.Ai phát triển Linux ?
Nói chung, Linux là một hệ thống được xây dựng bởi các hacker và cho các
hacker. Mặc dù hiện nay trong xã hội từ hacker thường có hàm ý tiêu cực, song nếu
theo nghĩa ban đầu thì hacker không phải là tội phạm. Hacker tìm hiểu những gì có
bên trong một hệ thống cho đến từng chi tiết và có khả năng sửa chữa nếu hệ thống ấy
bị hỏng hóc. Đa số các hacker không xâm nhập hệ thống vì tiền bạc hoặc ác ý, mặc dù
sau này đã có những người vượt qua giới hạn ấy và bị tập thể các hacker gọi là
cracker (tin tặc) hay hacker mũ đen. Giới hacker cảm thấy bị xúc phạm khi mọi người
xem họ như lũ phá hoại và gọi chung là tin tặc.
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 11
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Thực ra, những hacker chân chính, còn gọi là hacker mũ trắng, rất có công trong
việc phát hiện kẽ hở của các phần mềm, giúp mọi người và chủ nhân của những phần
mềm ấy cảnh giác trước sự tấn công của giới tin tặc. Cũng nhờ công cuộc bảo vệ này
mà Linux và các ứng dụng Linux (nói rộng hơn là các phần mềm nguồn mở) càng
ngày càng an toàn hơn
Ngoài đời, phần lớn những người sử dụng UNIX chỉ được cấp cho một số trương
khoản với quyền hạn thu hẹp, do đó một người bình thường không thể thử nghiệm
đầy đủ các câu lệnh UNIX. Với Linux bạn có một phiên bản hoạt động tương tự
UNIX nhưng cho phép quản trị, sử dụng, vào ra thoải mái không giới hạn, một điều
lúc nào cũng nhất thiết làm như thế. Bạn phải xoá một phần ổ cứng chứa chương trình
và dữ liệu có sẵn trong đó. Hiện nay, việc cài đặt Linux mà không phân vùng lại ổ
cứng đã được giải quyết nhưng khi chạy vẫn còn chậm. Do đó khi dự định cài đặt
Linux bạn nên sao lưu ổ cứng ra vài ba bản.
Ổ cứng cũng cần phải còn đủ chỗ cho cả Linux và những hệ điều hành khác, bạn
phải quyết định cái nào giữ lại và cái nào bỏ đi. Bạn có nhiều lựa chọn để phân vùng
lại ổ cứng. Chẳng hạn bạn có thể dành chỗ riêng cho DOS và Linux, hoặc bạn chạy
một chương trình phân vùng ổ cứng mà không phải xoá các tệp có sẵn. Tuy nhiên rủi
ro mất dữ kiện khi cài đặt vẫn còn đó.
Khi phân vùng lại ổ cứng, bạn sẽ kiểm sát vùng đĩa dành riêng cho Linux hữu hiệu
hơn, và Linux cũng chạy tốt hơn. Dung lượng đĩa cứng dành cho Linux sẽ tuỳ vào
việc bạn muốn cài bao nhiêu ứng dụng và đó là phiên bản Linux nào. Bạn cần có ít
nhất 300 MB trống trên ổ đĩa cứng nếu muốn cài RedHat 7.2, chưa kể đến tất cả các
chương trình và dữ liệu mà bạn muốn giữ lại từ hệ điều hành trước đó. Nếu ổ cứng
của bạn còn nhiều hơn thì càng tốt.
Bạn cần phải học cách quản lý hệ thống Linux để trở thành quản trị viên hệ thống
(system administrator hoặc sys admin). Công việc của quản trị viên hệ thống bao
gồm: thêm bớt trương khoản cho những người sử dụng, đều đặn sao lưu dữ liệu, cài
đặt thêm phần mềm mới, thiết lập cấu hình hệ thống, và giải quyết các hỏng hóc.
Linux càng ngày càng phổ biến vì thế nguồn tài liệu hiện nay rất phong phú. Phần lớn
các bản phát hành Linux đều kèm theo hàng ngàn trang tài liệu. Có thể dễ dàng tìm
thấy những thông tin tương tự tại thư mục /DOCS trên các CD chứa Linux
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 13
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Internet. Ngoài ra Caldera còn phát triển phần mềm tương thích công nghệ WABI của
SunSoft, cho phép người dùng cuối chạy các ứng dụng Windows trên nền Linux.
1.8.UNIX và LINUX
Lịch sử Linux phát xuất từ UNIX và cụ thể liên quan đến Minix. Minix là một hệ
điều hành nhỏ kiểu UNIX, minh hoạ bộ sách giáo khoa rất nổi tiếng do Tannebaum
viết từ giữa những năm 1980. Minix đã từng phổ biến trên nhiều máy tính mini và
PC. Còn Bell Laboratories thuộc công ty AT&T là nơi hệ điều hành UNIX sinh ra,
song chính các tập thể và cá nhân khác đã cải thiện UNIX qua nhiều năm. Từ năm
1969, Thompson và các cộng sự ở Bell Laboratories đã phát triển UNIX, một hệ điều
hành rất linh động và phù hợp với nhiều yêu cầu khác nhau của giới lập trình. Khởi
thuỷ, hệ điều hành MULTICS của Viện MIT đã gợi ý cho Thompson viết được sản
phẩm của mình, nhưng sau này chỉ có UNIX trở thành một tiêu chuẩn công nghiệp
cho các hệ điều hành đa nhiệm và đa người dùng.
Năm 1978, Berkeley Software Distribution (BSD) thuộc Đại học Berkeley tại
California đã phát triển phiên bản UNIX đầu tiên của mình từ nền phiên bản UNIX
v.7 của AT&T, với ý đồ sao cho UNIX trở nên thân thiện hơn với người sử dụng.
Mặc dù không hoàn toàn tương thích với UNIX nguyên thuỷ của AT&T, phiên bản
BSD UNIX vẫn đạt được mục tiêu đề ra nhờ những tiện ích mới đã làm nhiều người
hài lòng.
Sau đó BSD đã phát hành FreeBSD, một phiên bản dành cho họ vi xử lý Intel 386
và phân phối khá hạn chế qua Internet hoặc CD-ROM, rồi các tác giả đã công bố bản
này trên tạp chí Dr. Dobb's. Hiện nay bản thương phẩm của FreeBSD đã trở thành
một hệ điều hành thông dụng tương tự như Linux.
UNIX System Laboratories (USL) là một công ty ra đời từ AT&T và đã từng triển
khai UNIX System V từ đầu thập niên 1980. Trước khi được Novell mua lại hồi năm
1993, USL sở hữu mã nguồn của tất cả các phiên bản xuất xứ từ UNIX System V.
tiếng bằng vài phiên bản UNIX khác, song chúng chạy rất tốt và có một thị phần đáng
kể.
Các công ty nói trên đều giữ bản quyền phiên bản UNIX của mình, trong khi DOS
và MS Windows thuộc về Microsoft. Vậy ai là chủ sở hữu của Linux?
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 16
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
1.9.Tác quyền và bản quyền Linux
Nói chung, Linux không phải là phần mềm công cộng, bởi vì các thành tố của nó
đã được nhiều người khác đăng ký tác quyền. Linus Torvalds giữ tác quyền về kernel
Linux. Công ty RedHat là chủ của phiên bản RedHat Linux, và Patrick Voldkerding
giữ tác quyền bản Slackware Linux v.v.
Nhưng nhiều tiện ích Linux lại có giấy phép công cộng GPL (GNU General Public
License). Quả thực, Torvalds cùng nhiều người đóng góp cho Linux đã đặt công trình
của mình dưới sự bảo vệ của GPL. Bạn có thể xem toàn văn GPL trên Internet hoặc
trong tệp mang tên "copying" của mọi bản phát hành Linux. Bản quyền ấy đôi khi
được gọi dí dỏm là Copyleft để đối lập chữ Copyright. GPL áp dụng cho phần mềm
thuộc phong trào GNU (cũng chơi chữ: GNU's Not UNIX) và FSF (Free Software
Foundation), cho phép tạo ra phần mềm tự do cho tất cả mọi người. Tự do hiểu là mỗi
người đều có quyền sử dụng phần mềm GPL và tùy thích chỉnh sửa nó theo nhu cầu
riêng của mình nhưng phải nhớ rằng không được giữ riêng bản chỉnh sửa ấy mà phải
phổ biến rộng rãi để cho người khác cùng sử dụng và tiếp tục thay đổi theo ý họ.
GPL cho phép tác giả chương trình được giữ tác quyền pháp lý; song tác giả phải
để cho người khác thao tác, thay đổi, và thậm chí bán chương trình mới được viết lại.
Tuy nhiên một khi đã bán đi rồi thì người bán không được cấm người mua thay đổi
được làm cho hệ điều hành này trở nên vượt trội hơn so với Windows.
Linux cho phép người dùng có thể cấu hình 1 server với đầy đủ các ứng dụng cơ
bản nhất của Internet
- Domain Name Service (DNS)
- Web Server
- Mail Server
- FPT Server
- SMTP Server
- Pop3 Server
- Firewall
1.10.4. Các ứng dụng web
Với sự bùng nổ các ứng dụng trên Internet, hệ điều hành Linux hỗ trợ một môi
trường lý tưởng cho các server ứng dụng.
Các hãng phần mềm nổi tiếng đều nghiên cứu để làm sao có thể cài các ứng dụng
của họ lên Linux
1.10.5. Các ngôn ngữ lập trình
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 18
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Hệ điều hành Linux được viết lại hoàn toàn từ đầu bằng ngôn ngữ C nhằm tránh
vấn đề bản quyền của Unix. Do đó ngôn ngữ lập trình C được hỗ trợ mạnh mẽ và khá
đầy đủ cho việc phát triển các ứng dụng mạng.
Tuy nhiên ngôn ngữ C không phải là sự lựa chọn duy nhất cho việc lập trình trên
Linux. Có nhiều ngôn ngữ lập trình khác cũng được hỗ trợ bởi Linux được liệt kê
dưới đây:
Ada, C, C++, Forth, Fortran, Icon, Java, Lisp, Modular 2, Modular 3,
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Modular Linux kernel bao gồm một kernel tối tiểu và một tập các modules có thể
được thêm vào khi kernel đang chạy để hỗ trợ các thiết bị và dịch vụ mới
1.11.3. Các chức năng của Kernel
Quản lý bộ nhớ.
Quản lý hệ thống file.
Xử lý các lỗi và ngắt.
Thực hiện các dịch vụ I/O.
Cấp phát tài nguyên hệ thống cho các người dùng
1.11.4. GNU-GPL project (GNU General Public License)
1.11.4.1. GNU-GPL là gì ?
GNU General Public License là một hình thức bản quyền cho phép đảm bảo việc
trao đổi tự do các phần mềm, đảm bảo các phần mềm là miễn phí đối với tất cả các
người sử dụng.
General Public License áp dụng cho hầu hết các sản phẩm của Free Software
Foundation's. Bạn có thể áp dụng GNU GPL cho phần mềm của bạn.
Giấy phép phần mềm mã nguồn mở (Open Source – OS) cho phép người dùng
đọc, truy cập, thay đổi và làm lại mã nguồn của một sản phẩm phần mềm (theo tổ
chức OSI – Open Source Initiative). Các giấy phép phần mềm được OSI phê chuẩn và
quản lý tại http://www.opensource.org. Xem thêm chi tiết trong
http://www.opensource.org/docs/osd-vietnamese.php/
Open Source mang ý nghĩa “tự do” nhiều hơn là “miễn phí”.
Mỗi loại giấy phép có những điều khoản quy định riêng. Ví dụ: BSD Licensing chỉ
dài 1 trang với 3 điều khoản cần phải tuân thủ nhưng trong khi đó thì Mozilla Public
License 1.1 dài đến 12 trang đề cập mọi thứ từ việc định nghĩa thuật ngữ đến cách
thức áp dụng giấy phép cho chính phủ.
Khoa CNTT – 05CDTH2
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 21
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
• Integrity of The Author’s Source Code: Có thể có hạn chế chỉ cho phép thay đổi
mã nguồnt hông qua các patch (chứ không được tự ý thay đổi), hoặc nếu thay đổi
phải đổi qua tên khác. Đây là điểm khác với GNU GPL.
• No Discrimination Against Fields of Endeavor: Không được phân biệt đối xử với
cá nhân hay nhóm người nào trong quá trình phân phối phần mềm mã nguồn mở.
• Distribution of License: quyền đối với phần mềm được tiếp tục chuyển đến những
người nhận phần mềm.
• License Must Not Be Specific to a Product: Các quyền đối với phần mềm được
tiếp tục thực hiện không phụ thuộc vào các phân phối (distribution) chứa phần
mềm.
• License Must Not Restrict Other Software: Các sản phẩm khác đi cùng Open
Source không nhất thiết phải tuân theo yêu cầu của Open Source.
• License Must Be Technology-Neutral: License không được bắt buộc gắn kết với
bất kỳ công nghệ hay kiểu kết nối nào.
Chú ý: Bruce Perens Đã viết các quy định trên cho "The Debian Free Software
Guidelines".
Sau đó ông đã bỏ đi các phần đặc trưng cho Debian-specific và xây dựng thành
"Open Source Definition.“
Open Source và GNU GPL thường kết hợp với nhau:
Ethereal is Open Source software released under the GNU General Public License
2................................................................Cài đặt và cấu hình Linux
2.1.Thao tác chuẩn bị
Bạn sẽ tìm thấy sau đây các thông tin cần thiết trước khi cài đặt bất cứ bản phát
có những phần cứng thay đổi mà chưa được Linux biết đến. Mặc dù nhiều phần cứng
có thể đã thay đổi bằng các linh kiện “nhái” hoặc tương thích Intel, song không phải
tất cả những phần cứng ấy đều chạy được với Linux.
Mục tiêu: Nắm được một số yêu cầu cần thiết nhằm phục vụ tốt trong quá trình cài
đặt.
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 23
Đề tài: Nghiên cứu & phát triển các dịch vụ mạng trên môi trường Linux
Yêu cầu phần cứng: (Tối thiểu)
- CPU 386 hoặc mới hơn.
- Dung lượng bộ nhớ: 16MB
- Dung lượng ổ cứng:
~ 100MB nếu chỉ sử dụng Console Mode (~1000MB nếu cài RedHat 9.0)
~ 500MB nếu sử dụng Graphic Mode (~1500MB nếu cài RedHat 9.0)
- Ổ CD-ROM
- Ổ đĩa mềm 1.44MB
Yêu cầu phần mềm:
Bộ cài đặt RED HAT Linux 9.0 (6 disks: CD1-CD6)
Đĩa mềm khởi động Linux
2.2.Tạo đĩa mềm khởi động
Mục tiêu: Tạo đĩa mềm khởi động Linux trong trường hợp không thể khởi động từ
đĩa CD-ROM hoặc ROM-BIOS không hỗ trợ khởi động từ CD-ROM.
Các bước tiến hành:
Kiểm tra có tập tin “boot.img” trong thư mục Images của CD1 không?
Thực thi “rawrite.exe” để ghi “boot.img” này ra đĩa mềm.
Tiến hành khởi động từ đĩa mềm vừa tạo.
bố hệ thống tệp qua NFS. Bạn phải biết đường dẫn của hệ thống tệp này, cũng như
địa chỉ IP của máy, hoặc tên của máy nếu có DNS.
• FTP (File Transfer Protocol) là một giao thức truyền tệp qua mạng LAN hoặc
WAN. Việc cài đặt qua FTP yêu cầu phải có đĩa mồi và đĩa phụ trợ.
• Cài đặt Linux từ ổ đĩa cứng cũng cần đĩa mồi và các đĩa phụ trợ nói trên. Trước
tiên phải tạo ra thư mục mang tên Linux, sau đó sao chép thư mục tương ứng từ
CD cùng với tất cả các thư mục thứ cấp (subdirectory) vào thư mục Linux.
Bạn có thể sử dụng các lệnh DOS sau đây để thi hành việc cài đặt:
cd\Linux
xcopy/s e:\Linux
Khoa CNTT – 05CDTH2
Trang 25