BÁO cáo THỰC tập tốt NGHIỆP KHẢO sát HIỆU lực của CHẾ PHẨM THẢO mộc đến một số sâu hại CHÍNH TRÊN cây RAU ĐAY tại KHU THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM KHOA NÔNG lâm NGƯ NGHIỆP, TRƯỜNG đại học HỒNG đức, TỈNH THANH hóa - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG- LÂM- NGƯ NGHIỆP

HOÀNG HỮU KIÊN
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT HIỆU LỰC CỦA CHẾ PHẨM THẢO MỘC ĐẾN MỘT SỐ SÂU
HẠI CHÍNH TRÊN CÂY RAU ĐAY TẠI KHU THỰC HÀNH THỰC
NGHIỆM KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG
ĐỨC, TỈNH THANH HÓA

THANH HOÁ, NĂM 2017
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ NGHIỆP

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT HIỆU LỰC CỦA CHẾ PHẨM THẢO MỘC ĐẾN MỘT SỐ SÂU
HẠI CHÍNH TRÊN CÂY RAU ĐAY TẠI KHU THỰC HÀNH THỰC
NGHIỆM KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG
ĐỨC, TỈNH THANH HÓA

Người thực hiện: Hoàng Hữu Kiên
Lớp: K16-BVTV
Khóa: 2013-2017
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn Hoan

THANH HÓA, NĂM 2017

dẫn, thầy đã giành nhiều thời gian quý báu, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại Học Hồng Đức, Ban
chủ nhiệm Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, cùng các thầy giáo cô giáo trong khoa đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên do thời gian không có nhiều, với kinh nghiệm và tầm nhìn còn hạn chế
nên báo cáo thực tập không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý
chân thành của giáo viên hướng dẫn và các thầy cô giáo trong khoa, cùng toàn thể các
bạn trong lớp ĐH BVTVK16 Trường Đại Học Hồng Đức để tôi khắc phục được những
hạn chế của mình, đúc kết thêm kinh nghiệm trong học tập, cũng như sau này ra trường
công tác.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2017
Sinh viên

HOÀNG HỮU KIÊN
4


PHẦN 1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Thanh Hóa nằm trong khu vực Bắc Miền Trung nên khí hậu rất thuận lợi cho
canh tác rau xanh và là vùng có khí hậu thuận lợi cho dịch hại phát sinh, phát triển.
Thực tế cho thấy, dịch hại đã gây ra những thiệt hại rất lớn đối với sản xuất rau nói
riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung, chúng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng,
phát triển của cây trồng (làm rối loạn và đảo lộn các quá trình sinh lý, sinh hóa ),
hủy hoại các bộ phận của cây, gây độc, thoái hóa giống, giảm năng suất, có nơi còn
mất trắng. Vì vậy, thiệt hại kinh tế do dịch hại gây ra là rất lớn (giảm giá trị thương
phẩm hàng hóa, giảm chất lượng nông sản).

Xác định được một loại chế phẩm thảo mộc sản xuất từ tỏi,ớt và rượu có hiệu
lực đối với một số loại sâu hại chính trên cây rau đay, làm cơ sở xây dựng quy
trình sử dụng thuốc hiệu quả và an toàn, góp phần tăng năng suất, chất lượng và
hiệu quả sản xuất cây trồng.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được ảnh hưởng của chế phẩm thảo mộc sản xuất từ tỏi,ớt và rượu
đến sự sinh trưởng của cây rau đay.
- Đánh giá được ảnh hưởng của chế phẩm thảo mộc sản xuất từ tỏi,ớt và rượu
đến sự phát sinh phát triển của một số sâu hại chính trên cây rau đay.
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc sử dụng của chế phẩm thảo mộc sản xuất từ
tỏi,ớt và rượu đến hiệu quả kinh tế của cây rau đay tại khu thực hành thực tập khoa
Nông Lâm Ngư nghiệp.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả khảo sát của đề tài góp phần bổ sung và làm rõ lý luận về mối quan hệ
6


giữa biện pháp phòng trừ dịch hại với mức độ an toàn sản phẩm rau, góp phần
hoàn thiện quy trình phòng trừ một số loại sâu hại bằng của chế phẩm thảo mộc
sản xuất từ tỏi,ớt và rượu cho cây rau đay theo hướng sản xuất rau an toàn.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả khảo sát của đề tài là cơ sở khuyến cáo sử dụng các của chế phẩm thảo
mộc sản xuất từ tỏi,ớt và rượu để phòng trừ sâu hại chính trên cây rau đay, nâng
cao năng suất, hiệu quả kinh tế, tạo sản phẩm rau đay và góp phần bảo vệ môi
trường sinh thái.

7



* Bên cạnh những đóng góp tích cực với sự phát triển của sản xuất nông
nghiệp (SXNN) trên thế giới cũng đem lại những hệ lụy xấu, đặc biệt trong
vòng hơn 20 năm trở lại đây.
Sự đóng góp của thuốc BVTV vào quá trình tăng năng suất ngày càng giảm.
Theo Sarazy, Kenmor (2008 - 2011), ở các nước châu Á trồng nhiều lúa, 10
năm qua (2000 - 2010) sử dụng phân bón tăng 100%, sử dụng thuốc BVTV tăng
200 - 300% nhưng năng suất hầu như không tăng, số lần phun thuốc trừ sâu không
tương quan hoặc thậm chí tương quan nghịch với năng suất. Lạm dụng thuốc hóa
học bảo vệ thực vật còn tác động xấu đến môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe
cộng đồng phá vỡ sự bền vững của phát triển nông nghiệp. Lạm dụng hóa chất
BVTV làm tăng tính kháng thuốc, suy giảm hệ ký sinh - thiên địch để lại dư lượng
độc trên nông sản, đất và nước, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường, nhiễm độc
người tiêu dùng nông sản. Trong giai đoạn 1996 - 2000, ở các nước đã phát triển,
rất nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm, vẫn có tình trạng tồn tại dư lượng
hóa chất BVTV trên nông sản như: Hoa Kỳ có 4,8% mẫu trên mức cho phép, cộng
đồng châu Âu - EU là 1,4%, Úc là 0,9%. Hàn Quốc và Đài Loan là 0,8 - 1,3%. Do
những hệ lụy và tác động xấu của việc lạm dụng thuốc BVTV cho nên ở nhiều
nước trên thế giới đã và đang thực hiện việc đổi mới chiến lược sử dụng thuốc
BVTV. Từ “Chiến lược sử dụng thuốc BVTV hiệu quả và an toàn” sang “Chiến
lược giảm nguy cơ của thuốc BVTV”.
2.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thuốc BVTV cho rau ở Việt Nam
Nước ta là nước nông nghiệp nên việc dung các loại thuốc bảo vệ thực vật để
đảm bảo tránh khỏi các sâu bệnh gây hại là việc cần thiết. Việc dùng các loại thuốc
ngày càng tăng cao tuy nhiên lại sử dụng một cách bừa bãi, không đúng kĩ thuật.
9


Hầu hết thuốc BVTV tại Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Nếu như
trước năm 1985 khối lượng hóa chất BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 - 9.000
tấn thì trong 03 năm gần đây, hàng nămViệt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần. Các loại thuốc BVTV mà Việt Nam đang sử

lượng thuốc Việt Nam sử dụng bằng 40% mức sử dụng TB của 4 nước lớn dùng
nhiều thuốc BVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) trong khi GDP của nước
ta chỉ bằng 3,3% GDP trung bình của họ. Theo PGS. Nguyễn Kim Vân, năm 2013
danh mục thuốc BVTV lên tới 1.643 hoạt chất, trong khi ở các nước khác chỉ 400600 loại như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malasia 400 - 600 loại. Sử dụng thuốc
BVTV bình quân đầu người ở Trung Quốc là 1,2 kg, ở Việt Nam là 0.95 kg (2010
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT RAU
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, diện tích trồng rau cả nuớc đến năm 2005
là 644 nghìn ha, năng suất đạt 150 tạ/ha và sản lượng trên 9,5 triệu tấn. Đã hình
thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng Sông
Cửu Long và Đông Nam Bộ. Trong đó, diện tích sản xuất rau an toàn mới chỉ
chiếm khoảng 10%. Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới ẩm nên sâu, bệnhvà cỏ
dại xuất hiện quanh năm. Để phòng trừ sâu, bệnh hại, nông dân chủ yếu dựa vào
biện pháp hóa học. Kết quả điều tra tại vùng rau chuyên canh của tỉnh Tiền Giang
cho thấy, tất cả nông dân đều sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật trong quá trình
sản xuất rau (Cục Trồng trọt, 2010).
Theo kết quả kiểm tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2009,
trong 25 mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc, có tới 44% mẫu rau có dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật, trong đó 4% có hoạt chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép. Kiểm tra
35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam, Cục BVTV phát hiện tới 54% mẫu có dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật, trong đó 8,6% mẫu được phát hiện có hàm lượng thuốc bảo
vệ thực vật đủ khả năng gây ngộ độc cho người sử dụng. Mới đây, trong số 24 mẫu
rau xanh lấy tại các cơ sở sản xuất rau Hà Nội, có mẫu rau cải xanh, dư lượng hoạt
chất thuốc Fipronil vượt 12,5 lần mức dư lượng tối đa cho phép (theo Kinh tế
11


Nông thôn, 2010) Một số hóa chất bảo vệ thực vật

bị cấm sử dụng như




70kg/người/năm. Cho tới nay tình hình sản xuất rau ngày càng phát triển về tổng
cả diện tich và số lượng qua bảng 2.1.1:
Bảng 2.1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
Năm

Diện tích(ha)

Năng xuất (kg/ha)

Sản lượng(tấn)

2005

16.694.482

140.107

233.901.546

2006

17.189.392

141.689

243.555.067

2007


(nguồn: FAOSTAT, 07/04/2012)
Qua bảng 1.1 ta thấy: tình hình sản xuất từ năm 2005 đến năm 2010 thì diện
tích rau đã tăng lên đáng kể, nhưng sản lượng rau và năng xuất lại bấp bênh
Về diện tích: từ năm 2005 -2009 diện tich trồng rau đã tăng từ 16.694.48217.878.556 ha; đến năm 2010 diện tích rau đã đạt lên 18.073.088 ha, đã tăng
1,09% so với năm 2009.
Về năng xuất: trong khoảng từ năm 2005 – 2006 năng xuất rau tăng 1.492 ha ,
nhung từ năm 2008 – 2010 thì năng xuất rau đã giảm đáng kể. Sản lượng rau thấp
nhất là năm 2010 giảm 4,28% so với năm 2009
Về sản lượng; trong 5 năm sản lượng rau cao nhất là năm 2008. Năm 2010 với
diện tích rau thấp nhất.
2.2.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
a) Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Với điều kiện khí hậu thuận lợi, tự nhiên đa dạng ngành rau Việt Nam phong
phú đa dạng về chủng loại
- Diện tích và sản lượng rau của việt nam ngày càng tắng
13


- Sản xuất rau ở Việt Nam đa phần đang còn nhỏ lẻ, phân tán, chất lượng không
đều, phẩm chất thấp nên dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp so với các nước trong
khu vực.
Bảng 2.2.2: Diện tích gieo trồng rau năm 2011-2012 Các tỉnh
Năm 2011
Cả nước
794.243
Miền Bắc
302.808
ĐBSH
127.808


Về sản xuất rau an toàn ở nước ta chưa được áp dụng rộng rãi, diện tích sản xuất
quy hoạch sản xuất rau an toàn còn rất hạn chế, cả nước đạt khoảng 8-8,5% trong
tổng diện tích trồng rau.
Tính cho tới nay thì diện tích rau an toàn của cả nước là 880.000 ha, tuy nhiên thì
diện tích rau an toàn chỉ đạt 10%. Con số này cho thấy người tiêu dung vẫn phải sử
dụng nhiều loại rau chưa đảm bảo chất lượng có nhiều nguy cơ tiềm ản cho con
người.
Qua tập hợp báo cáo của 46 Sở Nông nghiệp và PTNT đến hết tháng 9/2012.
Số diện tích đã được Sở Nông nghiệp và PTNT cấp Giấy chứng nhận đủ điều
kiện sản xuất rau an toàn theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày
15/ 10/ 2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định quản lý sản xuất, kinh doanh
rau, quả và chè an toàn là 6.310,9 ha.
14


Số diện tích rau sản xuất theo hướng an toàn (nông dân đã áp dụng quy trình sản
xuất an toàn nhưng chưa được chứng nhận) là 16.796,71 ha.
Số diện tích đã được 20 tỉnh quy hoạch sản xuất rau an toàn là 7.996,035 ha.
c) Tình hình sản xuất rau tại Thanh Hóa
Thanh Hóa là tỉnh rộng tuy nhiên diện tích rau các loại chỉ đạt trên 35.000
ha,tổng sản lượng rau 402.578 tấn. Trong đó gần 300 ha vùng sản xuất rau an toàn
được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, tâp trung các huyện:
TP. Thanh hóa, Thiệu Hóa, Hoàng Hóa, Yên Định, Nông Cống…
Tính đến năm 2013 trên toàn tỉnh, diện tích trồng rau cả năm đạt 34.200 ha,
tổng sản lượng rau đạt 402.578 tấn, tăng 2.200 tấn so chu kì. (KẾ HOẠCH Sản
xuất ngành trồng trọt năm 2014, Phần thứ nhất ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN
XUẤT NGÀNH TRỒNG TRỌT NĂM 2013)
2.3. Tình hình sử dụng thuốc thảo mộc trong phòng chống sâu bệnh hại
Theo “Báo Thanh Niên” của Bùi Ngọc Long viết ra ngày 19/9/2010, gần hai năm

môi trường sinh thái, cân bằng hệ sinh thái, góp phần tăng độ phì nhiêu của đất, có
tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng
bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường như các loại thuốc
bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học khác. Theo tiến sĩ Dương Hoa Xô Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM - các chế phẩm sinh học ứng
dụng cho cây trồng hiện nay cơ bản được chia làm 3 nhóm sản phẩm với các tính
năng khác nhau: nhóm chế phẩm sinh học ứng dụng cho việc phòng trừ sâu bệnh
hại cây trồng; nhóm chế phẩm sinh học dùng cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh
học, phân hữu cơ vi sinh, chất kích thích tăng trưởng bón cho cây trồng; nhóm chế
phẩm sinh học dùng cho cải tạo đất, xử lý phế thải nông nghiệp. Trong đó, nhóm
chế phẩm sinh học ứng dụng cho phòng trừ sâu bệnh là nhóm sản phẩm được ứng
17


dụng khá rộng rãi và được ứng dụng sớm nhất trong lĩnh vực cây trồng. Theo Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong danh mục các loại thuốc BVTV có
nguồn gốc sinh học có gần 500 sản phẩm sinh học được phép lưu hành, trong đó có
300 loại thuốc trừ sâu và 98 sản phẩm thuốc trừ bệnh. Một số sản phẩm tiêu biểu
như chế phẩm từ nhân hạt cây nêm hiện nay đã được đưa vào ứng dụng rộng rãi
trong công tác BVTV, có hiệu lực phòng trừ nhiều loại sâu hại trên cây trồng như
lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây ăn trái, hoa kiểng. Loại thuốc có nguồn gốc
thảo mộc này không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng đến thiên
địch và không để lại dư lượng trên cây trồng. Thuốc tác động đến côn trùng gây hại
bằng cách gây sự ngán ăn, xua đuổi, ngăn sự lột xác của côn trùng cũng như ngăn
cản sự đẻ trứng là giảm khả năng sinh sản. Ngoài ra, hoạt chất Rotenone được chiết
xuất từ hai giống cây họ đậu là Derris elliptica Benth và Derris trifoliata có thể sử
dụng như một loại thuốc trừ sâu thảo mộc có tác dụng diệt trừ sâu rầy trên lúa, ốc
bươu vàng cũng như các loài cá dữ, cá tạp trong ruộng nuôi tôm. Đại học Cần Thơ
cũng đã nghiên cứu và đưa ra 2 chế phẩm sinh học Biobac và Biosar có khả năng
phòng trừ 2 bệnh thường gặp trên lúa là đốm vằn và cháy lá. Chế phẩm Biobac
được sản xuất từ một chủng vi khuẩn có sẵn ở địa phương, có khả năng tiêu diệt và

các hoạt chất vừa thỏa mãn đầy đủ nhu cầu trong nước, vừa xuất khẩu ra nước
ngoài, nhưng thuốc trừ sâu bằng thảo mộc vẫn được coi trọng. Ở Nga người ta vẫn
sử dụng thuốc trừ sâu bằng loại cây Anabasin, ở Mỹ vẫn dùng thuốc trừ sâu bằng
loại cây Ryani, những năm gần đây diện tích trồng cúc trừ sâu ở một số nước có
tăng nhưng vẫn không đủ để cung cấp cho nhu cầu trừ sâu trong nông nghiệp và
trong y tế. Trong những năm của phong trào nhảy vọt ở Trung Quốc, thuốc trừ sâu
bằng thảo mộc đã được đề cao và được sử dụng rất rộng rãi, thu được kinh nghiệm
phong phú. Nông dân Trung Quốc đã phát hiện ra hàng trăm loại cây sẵn có ở địa
phương, chế biến bằng những phương pháp đơn giản, dùng làm thuốc trừ sâu rất
công hiệu, do đó đã dập tắt kịp thời những nạn sâu hại quan trọng, không cho
19


chúng lan tràn phá hại mùa màng.
Như vậy rõ ràng là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy thuốc trừ sâu từ các hoá
chất có phát triển mạnh mẽ, dần chiếm vai trò chủ chốt trong các hóa chất để bảo
vệ cây trồng, nhưng trong một số trường hợp nhất định nó vẫn chưa thay thế được
thuốc trừ sâu bằng thảo mộc. Tại nhiều nước trên thế giới, thuốc trừ sâu bằng thảo
mộc vẫn có một vị trí nhất định trọng các loại thuốc trừ sâu và được sử dụng song
song với các loại thuốc trừ sâu khác.
2.4 Đặc điểm chung của thuốc trừ sâu thảo mộc
Thuốc trừ sâu thảo mộc là một trong nhưng loại thuốc trừ sâu sinh học BVTV
được điều chế từ các loại cây hay nhiều bộ phận của cây có chứa chất độc hại. các
chế phẩm thảo mộc này không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng
đến thiên địch và không để lại dư lượng trên cây trồng. thuốc tác động đến côn
trùng gây hại bằng cách gây sự ngán ăn, xua đuổi, ngăn sự lột xác của côn trùng
cũng như ngăn cản sự đẻ trứng gaimr khả năng sinh sản.
-

Ưu điểm:

Theo Amy Cohen(2009) tỏi được đánh giá cao như loại gia vị và tính chat y
học. giá trị của như là thuốc trừ sâu trong công tác trồng rau hữu cơ
Theo Saly Odum (2008) tỏi là thuốc trừ sâu tự nhiên tuyệt vời. nó có tính diệt
nấm và kiểm soát rất tốt sâu bệnh, đẩy lùi và loại trừ côn trùng như mối, rệp.
2.5.2. Thành phần có trong ớt
Trong quả ớt có hoạt chất cay là Capsaicin đó là một amid của vinilyl amin
(Metholxi-3-hydroxy-4-benzylamin) và một axit chưa no ở (axit methyl-7-octen5-carbonic). Capsaicin kết tinh thành vẩy hoặc hình phiến màu trắng nóng chảy ở
nhiệt độ khoảng C và có thể thăng hoa được . Capsaicin tan trong ether, dầu hỏa,
cồn và các dung môi khác. Nó rất ít tan trong nước đun sôi, nhưng lại tan trong các
dung dịch kiềm loãng. Capsaicin có tác dụng xua đuổi con trùng.
2.6. Đặc điểm sinh thái, nhu cầu dinh dưỡng của cây rau đay
21


2.6.1. Đặc điểm sinh thái
Rau đay (Corchorus olitorius L), thuộc họ Gai (Tiliaceae). Cây bụi cao 6070cm, màu đo đỏ, ít phân nhánh. Lá có phiến hình trái xoan nhọn hay tù ở gốc, có
răng, dài 5-9cm, có 3-5 gân gốc. Hoa vàng ở nách lá, xếp 3 cái một trên một cuống
chung ngắn; cuống hoa cũng ngắn. Quả hình trụ, dài 5cm, nhẵn, có 10 đường lồi.
Hạt hình quả lê, tiết diện ngang có hình 5 cạnh. Rau Ðay chứa 78,3% nước; 5,3%
protid; 0,8% lipid; 2,5% cellulose; 10,6%; dẫn xuất không protein, 2,5% khoáng
toàn phần, 5,5mg% calcium và 1,6mg% phosphor. Quả chứa vitamin C. Hạt chứa 2
digitalin glucosid là corchoroside A và corchoroside B, một chất đắng là
corechorin. Lá Ðay quả dài có chất nhầy dịu nên dùng ăn bổ, lợi tiêu hoá, nhuận
tràng, giải nhiệt và lợi tiểu. Toàn cây có vị đắng, tính lạnh, có độc; có tác dụng
kháng viêm, cầm máu, giải nóng mùa hè, hoạt trường, lợi sữa, sinh tân dịch, khỏi
táo bón, làm cho dễ đẻ và mát máu, an thai. Hạt đay quả dài có vị đắng, tính nóng,
không độc, có tác dụng chuyển máu, bổ tim
Ở Việt Nam rau Đay có 2 loại: rau đay đỏ và rau đay trắng. Rau đay đỏ lá nhỏ,
trái tròn, sức sống yếu, trồng chậm lớn. Rau đay trắng lá to , trái dài bên trong có
nhiều ngăn đầy hột sức sinh trưởng khỏe và nhiều nhớt hơn đay đỏ

cao hơn đáng kể hơn so với các loại rau khác.
+ Trong 100g lá đay còn chứa 800 micrograms folacin-ca (ở 75% độ ẩm)

hoặc3.200 microgram folacin so trọng lượng khô (Chen và Saad, 1981).
-

Hạt đay chứa11,3-14,8% dầu trong đó có 16,9% palmitic, 3,7% stearic,

1,8% behenic, 1,1% lignoceiic, 9,1% oleic, 62,5% linoleic, và 0,9% linolenic acid
cũng như nhiều chất vi lượng như B, Mn, Mo, Zn. (Watt và Breyer-Brandwijk,
1962, Sharaf et al, 1979).
-

Lá đay giàu betacaroten, sắt, canxi, vitamin C. Các loài đay có tính hoạt hóa

chống ôxi hóa trong cơ thể với một lượng đáng kể α-tocopherol (vitamin E) tương
đương.
2.7. Các loài sâu hại chính trên rau đay
Ngoài sâu xanh, sâu khoang, rau đay hay bị các loại sâu chích hút làm lá xoăn
và vàng như rầy xanh, bọ trĩ và nhện trắng. Phòng trừ chủ yếu là chăm bón đầy đủ,
23


khi sâu tấn công rau đay với mật độ cao thì có thể phun thuốc, bọ trĩ dùng các
thuốc Fastac, Polytrin, Admire . Với nhện thì dùng Feat, Abafax, Ortus…
PHẦN 3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Giống: rau đay cao sản
- Một số loài sâu hại chính trên cây rau đay.

100

-

-

-

mục
Đạm ure
Kali sulfat
Lân supe

12 – 15
7,2 – 8,5
9

20
50
100

10
20
-

110
20
-

10

Ngư nghiệp, trường Đại học Hồng Đức.
- Thời gian: thí nghiệm được tiến hành từ tháng 2/2017 đến tháng 05/2017.
- Phạm vi nghiên cứu: hiệu lực của chế phẩm thảo mộc sản xuất từ tỏi,ớt và rượu
đến sâu hại trên rau rau đay.
3.3.2. Bố trí thí nghiệm
3.3.2.1. Công thức thí nghiệm

Bảng 1. Công thức thí nghiệm
-

TT
CT1 (Đối chứng)
CT2
CT3

Công thức thí nghiệm
Phun nước lã
1 kg ớt +1kg tỏi + 1 lít rượu
1kg tỏi + 1kg ớt + 2 lít rượu

Pha chế thuốc và cách sử dụng:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status