skkn một số kinh nghiệm trong công tác huy động XHHGD ở trường mầm non bãi trành năm học 2015 2016 và 2016 2017 - Pdf 43

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Đất nước ta đang thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, để đáp ứng
được yêu cầu cách mạng mới đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ mạnh cả về
số lượng và chất lượng.Vì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển của xã hội. Để làm được điều đó không có con đường nào tốt hơn
bằng công tác giáo dục. Chính vì vậy Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục và Đào
tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài” [1]; Nghị quyết Đại hội XI của Đảng một lần nữa đã tiếp tục khẳng
định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đồng thời xác định, định hướng
nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo. Đặc biệt, Nghị quyết số
29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chỉ rõ
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế” đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục
và đào tạo trong thời gian tới; các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển
giáo dục và đào tạo; định hướng các mục tiêu, đối tượng cần ưu tiên đầu tư từ
nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính để huy động
sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần
hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào
giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách
ưu đãi xã hội; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính
sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy
nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình
hình thực tiễn. Tất cả các chủ trương trên của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu của
giáo dục và Đào tạo là phát triển con người toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và năng lực nghề nghiệp... nhằm đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội
và tiến bộ khoa học công nghệ. Mục tiêu đó không thể tiến hành được nếu môi
trường gia đình và xã hội không lành mạnh, nếu kinh tế, khoa học công nghệ

Đề tài hướng tới là các giải pháp để huy động sự tham gia của các lực
lượng trong xã hội cho nhà trường
4.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát, điều tra thực trạng, phân tích, so sánh,
tổng hợp, thống kê ...
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
XHHGD là huy động mọi nguồn lực đầu tư khác từ các lực lượng xã hội,
các cá nhân cho GD, thực hiện Nhà nước và nhân dân cùng làm để phát triển
GD. Công tác GD, đặc biệt là GD thế hệ trẻ được giao cho một thiết chế chuyên
biệt- thiết chế GD.Thiết chế này bao gồm hệ thống các ngành học, bậc học mà
đơn vị cơ sở là nhà trường. Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong công tác
XHHGD bên cạnh các lực lượng xã hội với vai trò riêng mang tính đặc thù của
từng lực lượng xã hội đó. Chúng ta đã biết đầu tư cho GD là đầu tư cho phát
triển, vì vậy Đảng và nhà nước ta thường xuyên có những chính sách và giải
pháp để thúc đẩy nền GD nước nhà. “ Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động
viên các tầng lớp nhân dân xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của nhà
nước” [2]; XHHGD còn được chính phủ ta cụ thể hoá bằng “ Phương hướng và
chủ trương xã hội hoá công tác GD, y tế, văn hoá”[3]. Về phía ngành GD&ĐT
cũng đã có những quy định rất cụ thể về công tác XHHGD; "Mọi tổ chức, gia
đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, phối hợp với nhà
trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lành mạnh và an toàn"
[4].
Trong giai đoạn hiện nay XHHGD đã phát triển mạnh mẽ nhiều nơi trong
cả nước, đặc biệt là các vùng kinh tế phát triển. Điều đó càng chứng tỏ tính đúng
đắn của chủ trương này, nó như một giải pháp thực sự có hiệu quả cao trong
công tác phát triển GD &ĐT. Bởi lẽ chính nội dung đặc thù của XHHGD mang
bản chất rõ ràng: “ Bản chất của XHHGD là biến việc GD của một số người
2


khẩu. Nhà trường được thành lập từ năm 1991; Cán bộ quản lý của trường đã 2
lần thay đổi Hiệu trưởng. Qua 24 năm xây dựng và trưởng thành trường đã
chuyển địa điểm 2 lần, nhà trường đã có nhiều cố gắng trong quản lý chỉ đạo
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Hàng năm chất lượng mũi nhọn của
trường luôn đạt được ở mức khá trở lên.Tuy nhiên nhà trường vẫn chưa tạo được
ngôi trường thân thiện- xanh- sạch- đẹp.Trong quá trình xây dựng và trưởng
thành nhà trường đã chịu những tác động như sau:
2.2.Thuận lợi
Công tác XHHGD của nhà trường đã được Đảng,chính quyền địa phương,
Phòng GD&ĐT, UBND huyện quan tâm, bằng việc ra các văn bản hướng dẫn
thực hiện XHHGD; Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra các nhà trường thực hiện
công tác XHHGD đúng đường lối của Đảng, nhà nước; Công tác XHHGD đã và
đang ngày càng thấm nhuần sâu rộng hơn trong cấp uỷ Đảng, chính quyền và
toàn thể nhân dân, nhất là lực lượng cán bộ quản lý nhà trường của các bậc học.
3


Đội ngũ CBGVNV cơ bản trẻ, khỏe,100 % đã đạt đạt trình độ chuẩn trở
lên, đa số CBGVNV yêu nghề, luôn bám lớp, bám trường, đoàn kết; Môi trường
GD lành mạnh; Các đồng chí trong Ban giám hiệu đều là những người năng
động, sáng tạo, tận tụy, tâm huyết, luôn đi đầu trong mọi phong trào thi đua.
Hàng năm nhà trường đều có giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi cấp huyện, có
năm đã có học sinh và giáo viên giỏi cấp tỉnh.
2.3. Khó khăn
Sự nhận thức về XHHGD của một bộ phận không nhỏ cán bộ ban ngành
đoàn thể và nhân dân ở địa phương chưa thật sự sâu sắc, có khi còn mơ hồ cho
rằng XHHGD là nếu có tiền thì ủng hộ một ít, nếu không có thì thôi, tất cả là
trách nhiệm của nhà nước và của các nhà trường. Một số ít người hiểu đúng về
vấn đề XHHGD thì lực bất tòng tâm, vật chất không có; không có điều kiện
tham gia hội họp ở những chỗ, những nơi có thể góp ý tuyên truyền được cho



Sự chênh lệch chất lượng giữa khu chính và các khu lẻ cao
Tỷ lệ GV đạt loại khá trở lên theo chuẩn nghề nghiệp 70,3 %.
Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ năm cao, năm thấp, thiếu tính bền
vững..
Viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên 68,8 %. Danh hiệu lao động
tiên tiến 74,1 %. Xuất phát từ thực trạng chung này nhà trường đã áp dụng một
số giải pháp để thực hiện công tác XHHGD tại trường như sau:
3.Các giải pháp thực hiện xã hôi hoá giáo dục
Giải pháp thứ nhất: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý
luận, nâng cao nhận thức về công tác xã hội hóa giáo dục
Để làm tốt công tác XHHGD cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng
cao nhận thức về xã hội hóa giáo dục. Trong nhà trường, tham gia vào công tác
xã hội hóa giáo dục là các tổ chức, các cán bộ, giáo viên, nhân viên. Vì vậy, để
làm tốt công tác xã hội hóa, nhà trường phổ biến tới cán bộ, giáo, nhân viên một
số văn bản như: Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997- CP “Về phương hướng và
chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; Nghị định số
73/1999/NĐ-CP, Thông tư số 29 của BGD&ĐT “Quy định về tài trợ cho các cơ
sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” và một số văn bản hướng dẫn
của tỉnh về việc huy động XHHGD..giúp CBGV-NV hiểu được các nội dung về
công tác xã hội hóa đồng thời giáo viên nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề như:
+ Mục đích của công tác XHHGD là để xây dựng cộng đồng trách nhiệm
của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã
hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục của nhà trường. Công tác
này cũng góp phần mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực,
vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phát triển nhanh hơn, có
chất lượng cao hơn. Đây là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính
sách xã hội của Đảng và nhà nước bởi vì giáo dục là sự nghiệp lâu dài của toàn

và xã hội hoá triển khai trong thực tế rất cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa
phương và ngành giáo dục.
Giải pháp thứ hai: Tổ chức các buổi họp phụ huynh có hiệu quả.
Họp phụ huynh là việc làm bắt buộc của các cấp học, nhất là đối với bậc
học MN bởi đặc thù của trẻ tuổi MN là chưa thể đủ sức để hiểu và chuyển tải
được các vấn đề liên quan tới cha mẹ. Chính vì vậy nhà trường đã tiến hành họp
phụ huynh 3 lần trong năm học : Đầu năm học, giữa năm học và cuối năm học.
Nội dung của các lần tổ chức họp xoay quanh vấn đề CSNDGD trẻ của nhà
trường; Vấn đề phối hợp của phụ huynh ra sao để kết quả CSNDGD trẻ đạt kết
quả cao; Ngược lại nhà trường cần làm như thế nào để giúp phụ huynh yên tâm
gửi con đến trường MN mà không phải than phiền lo lắng về sức khoẻ, trí tuệ,
tình cảm, đạo đức của con. Quá trình họp nhà trường đã cố gắng tập trung vào
một số nội dung chính đó là:
Phổ biến kế hoạch tuyển sinh, mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
Chế độ sinh hoạt của trẻ trong thời gian ở trường, các nội quy cần thiết
phải thông báo cho phụ huynh biết và phối hợp với nhà trường.... Các chỉ tiêu
phấn đấu trong năm học cần đạt.Thống nhất một số nội dung, phương pháp
trong việc CSNDGD trẻ ở nhà, ở trường và ngoài xã hội.
Tuyên truyền về vai trò ý nghĩa của việc cho trẻ đi học MN đúng độ tuổi,
đi học chuyên cần, ý nghĩa sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi mầm non đối với
toàn bộ quá trình phát triển sau này của trẻ và đối với sự phát triển chung của xã
hội.
6


Tập trung tuyên truyền các kiến thức CSNDGD trẻ theo khoa học: Vệ
sinh phòng một số bệnh thường gặp ở trẻ, lịch tiêm chủng, chế độ dinh dưỡng,
cách cho trẻ ăn khoa học hợp lý, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh cá nhân,
một số nội dung dạy trẻ nề nếp vệ sinh văn minh trong học tập, vui chơi, ăn ngủ,
giao tiếp bà ứng xử thông thường trong cuộc sống, một số cách xử lý khi trẻ bị

tao ra sự thống nhất cao giữa nhà trường và phụ huynh. Biểu dương, cám ơn các
cá nhân, tổ chức đã tham công sức tham gia đóng góp ủng hộ cho trường....
Quá trình họp phụ huynh nhà trường luôn dành thời gian hợp lý để phụ
huynh tham gia tham luận một số kinh nghiệm xoay quanh các vấn đề sau:
Những biện pháp và kết quả trong sự phối hợp giữa phụ huynh với nhà
trường trong việc quản lý, chăm sóc giáo dục trẻ. Vai trò tác dụng của gia đình
trong việc hình thành và phát triển nhân cách trrẻ. Kinh nghiệm chăm sóc nuôi
dưỡng giáo dục trẻ (CSNDGD) trẻ ở gia đình sao cho trẻ ngoan, khoẻ mạnh và
7


thông minh. Những khó khăn gặp phải trong việc hiểu và chăm sóc nuôi dưỡng
giáo dục trẻ ở gia đình. Những đóng góp của phụ huynh về các ưu điểm, nhược
điểm của nhà trường. Nhờ đó mà phụ huynh có cơ hội nắm rõ hơn, sâu sắc hơn
về quan điểm GD của Đảng và vai trò, vị trí của giáo dục MN, về trách nhiệm
của gia đình trong CSNDGD trẻ. Từ đây đã tạo điều kiện rất lớn cho nhà trường
tiến hành nhiệm vu một cách thuận lợi hơn, kết quả được nâng dần lên.
Giải pháp thứ Ba: Làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ Đảng,
chính quyền giúp địa phương xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục MN.
Là một trường MN đóng trên đại bàn miền núi, kinh tế xã hội còn nhiều
bất cập, để cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương nắm bắt được tình hình
chung, từ đó đề ra định hướng lãnh chỉ đạo công tác GDMN, nhà trường đã báo
cáo tổng kết tình hình hoạt động của trường một cách khách quan, nghiêm túc để
thấy được những ưu, nhược điểm của trường đồng thời chỉ ra được những
nguyên nhân để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm.Trên cơ sở mục tiêu
GD của Đảng, Nhà nước nói chung; Kế hoạch phát triển GD từng năm học của
tỉnh, của huyện, tình hình thực tế của địa phương, của nhà trường nói riêng, cấp
uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã ban hành Nghị quyết, xây dựng chương
trình hành động thực hiện kế hoạch phát triển GD xã nhà phù hợp với điều kiện
của địa phương. Từ đó chương trình hành động của Đảng, chính quyền, đoàn

UNND, họp ban ngành đoàn thể, họp phụ huynh, khai giảng, sơ kết, tổng kết
năm học, hội thi ở trường, ngày tiêm chủng, lễ hội ở thôn bản...nhưng quan
trọng hơn là tuyên truyền bằng việc làm cụ thể, lợi ích thực tế, tấm gương tốt
gần gũi về những tổ chức, cá nhân đã tham gia ủng hộ XHHGD cho trường; Ví
dụ như: Ông Nguyễn Thanh Hùng ủng hộ 1.000.000đ; Ông Lê Quang Thuận
ủng hộ 3 cái quạt trần, bà Lê Thị Na ủng hộ 4 chậu cây cảnh; ông Đỗ Ngọc
Đoan ủng hộ 3m3 cát; ông Lê Thanh Bình ủng hộ 1 xe trâu phân chuồng, phụ
huynh khu lẻ Chôi Trờn ủng hộ 56 ngày công làm sân chơi, Bà Hà Thị Vân ủng
hộ 4 cái ghế gỗ cho trẻ ngồi, phụ huynh các khu khác ủng hộ cây hoa, cảnh và
công để cải tạo cảnh quan...
Thuyết phục trực tiếp và trong từng hoạt động, thuyết phục bằng tổ chức
và bằng vai trò cá nhân. Muốn vận động được cần gắn liền với tính lợi ích, gắn
với chức năng nhiệm vụ, về những quy định mang tính pháp luật, về tình cảm và
truyền thống, về dòng tộc, họ hàng. Để làm được việc này tôi đã cung cấp thông
tin đầy đủ, chính xác về đường lối, chính sách, chế độ, chủ trương, kế hoạch,
thực trạng, mục đích yêu cầu, kết quả cần đạt, thuận lợi và khó khăn, kinh phí
hiện có và các nguồn lực, nội lực của nhà trường để các lực lượng xã hội hiểu rõ
ràng, tường tận.Từ đó tổ chức bàn bạc, chủ động trong quá trình thực hiện và
cuối cùng mới có thể kiểm tra, đánh giá được.
Giải pháp thứ năm: Vận động các lực lượng xã hội chăm lo cho công
tác GD Mầm Non.
Là một trường Mầm non có nhiều điểm lẻ, nằm trên chiều dài gần 8 km,
đời sống bấp bênh trong khi nhu cầu công việc và đầu tư trang thiết bị đồ dùng
đồ chơi rất lớn, kinh phí nhà nước cấp thường xuyên không đủ đáp ứng 50% nhu
cầu hoạt động.Vì vậy nhà trường đã ký cam kết với các thôn, các ngành đoàn thể
về những hoạt động hỗ trợ cho trường MN.
Phối hợp với HĐND, UBND xã để lo xây dựng cơ sở vật chất cho các
điểm trường. Bí thư chi bộ, thôn trưởng ở thôn nào vận động bà con trong thôn
đó chăm lo công tác bảo vệ cơ sở vật chất, xây dựng các công trình phù trợ như
nhà vệ sinh, bể nước, xây tường rào, trồng cây xanh thay tường rào; trồng và

thể tấn công vào trường MN...
Phối hợp với dân quan tự vệ, ban đại diện cha mẹ học sinh để phòng
chống bão lụt khi cần thiết.
Tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn,
các tổ chức, các cá nhân quan tâm đến công tác GDMN để xin hỗ trợ đầu tư
mọi mặt cho nhà trường. Ví dụ tham mưu với trường cấp 3 cho học sinh lao
động san mặt bằng của trường, trường cấp 2 cho học sinh góp cây cọc để rào
khuôn viên khu lẻ, phụ huynh tham gia lao động để xây dựng cảnh quan môi
trường, làm nhà để xe, ủng hộ cây hoa, cây cảnh cho các lớp trồng, tranh ảnh,
sách truyện thiếu nhi, đóng góp đồ chơi cho trẻ chơi, học liệu cho cô giảng bài,
kinh phí để mua sắm giá góc, trang trí phòng nhóm… Nhà thầu chỗ trợ vật liệu,
thợ xây hỗ trợ công để xây dựng sân khấu, bồn hoa…Các thôn thì ủng hộ đóng
góp để kéo đường điện, mua sắm quạt điện, xây nhà vệ sinh, làm sân chơi cho
các nhóm lớp ở tại các thôn đó.Tổng tiền mặt huy động được trong 2 năm học
đạt gần 243.160.000.000 đ. Số tiền so với xã hội tuy không lớn lắm nhưng nếu
để tất cả các việc đó chỉ mình nhà trường là điều không thể làm được. Trông vào
ngân sách nhà nước cấp thì không có; Mỗi cá nhân, tổ chức, đoàn thể một cách
giúp đỡ, góp gió thành bão, tạo được môi trường và tiềm lực rất lớn như một
đòn bẩy kích cầu cho công tác CSNDGD trẻ của nhà trường từng bước đi lên.
Đối với điều kiện một trường MN đóng trên địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó
khăn, nhà nước đầu tư thường xuyên không đủ thì đây quả là món quà hết sức
lớn lao và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Giải pháp thứ năm: Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ và phân
công hợp lý giáo viên chủ nhiệm làm cầu nối thường xuyên giữa trẻ với nhà
trường, giữa nhà trường với cộng đồng.

10


Nhà trường thường xuyên tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên

nhất đến trẻ, là nhân vật trung tâm liên kết các lực lượng GD, là người trực tiếp
xây dựng lớp. Do vậy tôi đã chú ý phân công giáo viên chủ nhiệm nhóm lớp
phù hợp. Cụ thể biết tiếng Thái thì giao chủ nhiệm lơp có nhiều trẻ là người dân
tộc Thái. GV biết tiếng Mường thì giao chủ nhiệm lớp có nhiều trẻ người
Mường…GV có tay nghề giỏi thì phân vào các lớp điểm để nhân rộng điển hình
tiên tiến cho GV khác học tập hoặc phân vào lớp khó khăn hơn để xây dựng
phong trào.Tôi đã trực tiếp bồi dưỡng GV một số thủ thuật làm công tác chủ
nhiệm như: Cách tìm hiểu trẻ, hoàn cảnh gia đình trẻ, phương pháp vận động
quần chúng, chia sẻ với phụ huynh, tuyên truyền các kiến thức về CSNDGD trẻ,
cách tổ chức các ngày lễ, ngày hội trong năm học cho trẻ, cách đánh giá trẻ, kinh
nghiệm bồi dưỡng trẻ học yếu, bồi dưỡng trẻ đi thi cấp huyện, cấp tỉnh, cách làm
cho phụ huynh tin tưởng, cách làm cho trẻ luôn yêu quý cô…khi trẻ yêu quý cô
11


giáo cũng đồng thời GV chiếm được tình cảm và sự tin tưởng của các bậc phụ
huynh vì chúng ta biết rằng tình cảm có quy luật lan truyền.Ở đây con yêu cô thì
cha mẹ quý cô, tin cô, sẵn sàng ủng hộ cô giáo mọi công việc liên quan đến việc
CSNDGD trẻ ở trường.
Mọi GV đều được nhà trường tạo điều kiện để có thể hoàn thành nhiệm
vụ được giao một cách tốt nhất. Đó chính là một hình thức tuyên truyền có tác
dụng cao nhất, hiệu quả nhất về vai trò ý nghĩa của bậc học MN đến cộng đồng.
Dân gian thường có câu tiếng lành đồn xa. Nghìn lời nói cũng không bằng một
việc làm.
Giải pháp thứ sáu: Xây dựng kỷ cương nề nếp làm việc; tiếp tục đổi
mới nội dung và phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ, thực hiện
tốt các phong trào thi đua; các cuộc vận động nhằm nâng cao chất lượng
CSNDGD trẻ toàn diện. Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích
cực.
Xa xưa ta đã từng nghe câu nói của ông bà để lại: “ Trăm nghe không


nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tính kỷ luật, tính tự giác, ý thức tự
học hỏi nâng cao nhận thức mọi mặt, tư thế tác phong sư phạm…
Về kỷ cương học tập và vui chơi: Nhà trường phổ biến rất cụ thể cho
phụ huynh và GV biết phải thường xuyên tổ chức và cho trẻ tham gia vào các
hoạt động qua đó nhắc nhở trẻ, giúp trẻ có cơ hội rèn luyện các yêu cầu cơ bản
về mọi mặt như: Lễ phép, ngoan ngoãn, đoàn kết, yêu cô, yêu bạn, giữ gìn vệ
sinh chung, giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, có ý thức bảo vệ môi trường, không vứt
rác bừa bãi, biết quan tâm đến nhiệm vụ chung, có thói quen văn minh trong
giao tiếp và sinh hoạt như: Nói năng từ tốn, thưa gửi, dạ vâng, không nói trống
không, không gật đầu, biết cảm ơn, xin lỗi đúng lúc…Thường xuyên phối hợp
thực hiện tốt cả ở gia đình và ở trường sẽ hình thành ở trẻ kỹ năng sống có văn
hoá, văn minh, đó là những nét tính cách làm cho nhân cách của trẻ phát triển
toàn diện hơn. Tạo được sự khác biệt rõ ràng giữa trẻ được đi học MN và những
trẻ chưa được đi học MN. Đó cũng là một cách để tuyên truyền về chất lượng
hoạt động của nhà trường trong xã hội một cách tốt nhất.
Song song với công tác xây dựng nề nếp, kỷ cương, nhà trường còn đặc
biệt chú ý đến khâu chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp CSNDGD trẻ như :
BGH chỉ đạo đôn đốc GV áp dụng nội dung các chuyên đề đổi mới nội dung
phương pháp mới nhất vào quá trình CSNDGD trẻ. Quá trình thực hiện chỉ đạo
cho GV lựa chọn các phương pháp linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều
kiện của địa phương và thực tế nhận thức của trẻ trong từng lớp, từng bài học cụ
thể. Bên cạnh đó trường đã tăng cường chỉ đạo GV thiết kế và nhà trường đầu
tư kinh phí để xây dựng môi trường hoạt động phong phú, tạo sự hấp dẫn mới lạ
cho trẻ trong mỗi lần khám phá. Đối với trẻ mỗi ngày đến trường là một ngày
vui.
Việc thực hiện các cuộc vận động, chủ đề của mỗi năm học đều được nhà
trường tổ chức triển khai và thực hiện một cách nghiêm túc. Bắt đầu từ việc tiếp
thu sau đó là thành lập ban chỉ đạo, triển khai đền CBGVNV, phối hợp với
BCHCĐ xây dựng chương trình hành động, phân công nhiệm vụ cho từng thành

bén nhiều lúc phải hết sức kiên trì nhẫn nại, có khi phải nhún nhường, song tất
cả các công việc đó đều là nhiệm vụ của người quản lý trường học đặc biệt là
quản lý nhà trường MN, loại hình trường học có nhiều đặc biệt và phụ thuộc
nhiều thứ ở cộng đồng.Tất cả cho việc XHHGD đạt kết quả như mong muốn
nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ CSNDGD trẻ mầm non.
Để làm tốt được XHHGD còn có rất nhiều giải pháp, biện pháp thực hiện,
tuy nhiên đây là những giải pháp chính, giải pháp nòng cốt mà tôi đã vận dụng
trong thời gian qua. Quá trình thực hiện tôi đã áp dụng các giải pháp một cách
linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với đặc điểm chung của địa phương và đặc điểm
riêng của từng thôn bản, từng tổ chức, cá nhân và tình hình của nhà trường. Nhờ
đó mỗi giải pháp đều phát huy được thế mạnh và tác dụng riêng tạo nên sức
mạnh tổng hơp: Sức mạnh của XHHGD trong trường MN, làm cho các hoạt
động của nhà trường được tiến hành thuận lợi hơn và từng bước đạt được kết
quả tốt đẹp.Cụ thể được thể hiện như sau:
4. Kết quả đạt được sau khi áp dụng các giải pháp
Mọi công việc của nhà trường đã được tất cả các lực lượng ở địa phương
tham gia tích cực.Từ việc huy động trẻ ra lớp, trẻ bán trú, duy trì tốt sĩ số, tỷ lệ
trẻ chuyên cần, công tác phổ cập GDMN trẻ 5 tuổi, chăm sóc giáo dục trẻ theo
khoa học, giáo dục vệ sinh phòng bệnh, khám sức khỏe, tham gia các ngày hội,
lễ, hội thi ở trường, giáo dục kỹ năng sống….đến việc tham gia hiến kế cho nhà
trường trong quản lý GD, ủng hộ, cổ vũ về mặt tinh thần, vật chất, ngày công lao
động để xây dựng cảnh quan môi trường cũng được đông đảo tổ chức, cá nhân
nhiệt tình ủng hộ.Trong 2 năm trường đã nhận được sự ủng hộ 775 ngày công,
nhiều hiện vật, và 243.160.000 đ để tu sữa chữa nhỏ CSVC, mua sắm bổ sung
trang thiết bị và xây dựng các công trình phù trợ như: Sân chơi bồn hoa, cổng
trường và nhà vệ sinh tự hoại khu lẻ; Vườn cổ tích, hệ thống vòi phun nước tự
động cho vườn cổ tích, vườn rau khu trung tâm..Trong lúc ngân sách nhà nước
chưa thể đáp ứng đủ cho các nhu cầu của GD thì nguồn lực này càng trở nên vô
giá. Đây là một giải pháp tôi xác định phải làm lâu dài. Nhờ vậy mọi điều kiện


với điều tra
Tỷ lệ trẻ ra lớp so với
61,9
67,3
+ 5,4
số trẻ có trong địa bàn
Tỷ lệ trẻ chuyên cần
88,4
98,9
+10,5
của trẻ 5T
Tỷ lệ trẻ chuyên cần
81,1
88,3
+ 7,2
của trẻ dưới 5 tuổi
Tỷ lệ trẻ bán trú so với
46,7
85,2
+38,5
tổng số trẻ ra lớp
Chất lượng chăm sóc giáo dục đại trà trên trẻ
Chất
lượng
nuôi
Năm học
Năm học
Tăng (+)
dưỡng
2014-2015


46,9

26,7

- 20,2

Chưa đạt

4,2

0,2

-4

15


Chất lượng đội ngũ
Nội dung
Giáo viên có giờ dạy giỏi
Tỷ lệ CBGV tham gia viết
SKKN
Loại Khá và Xuất sắc theo
chuẩn NN GVMN
Loại trung bình

Năm học
2014-2015
55,6

+21,8
thành tốt nhiệm vụ trở lên
Viên chức xếp loại hoàn
31,2
9,4
- 21,8
thành nhiệm vụ
Danh hiệu Lao động tiên
74,1
90,6
+16,5
tiến
Từ kết quả đó đã góp phần cải thiện điều kiện làm việc của bộ máy, điều
kiện CSNDGD trẻ và các hoạt động khác trong nhà trường theo chiều hướng
tích cực, CBGV thấy vui vẻ hơn khi thực hiện nhiệm vụ, phụ huynh tin tưởng
hơn khi gửi con đến trường, bắt đầu có một số phụ huynh ở các xã lân cận đưa
con đến xin học ở trường nhà, phụ huynh xã nhà không có ai đưa con đi học ở
xã khác; Môi trường cảnh quan trong trường được cải thiện khang trang hơn, các
điểm trường đều được rào khuôn viên, trồng cây xanh, khu trung tâm đã được
xây tường rào, có cổng, biển trường đúng quy cách, môi trường hoạt động của
trẻ ngày càng phong phú, đa dạng theo hướng xanh- sạch-đẹp,an toàn. Có được
kết quả đó là nhờ vào sự ủng hộ đóng góp tích cực của hàng nghìn công lao
động do phụ huynh trường nhà và học sinh cấp 2, cấp 3 xã Bãi Trành đã giúp đỡ;
Cùng với đó là sự hỗ trợ kinh phí của doanh nghiệp xây dựng Dương Minh, các
đoàn thể, cơ quan trong địa bàn cùng các bậc phụ huynh đóng góp, sự phối hợp
chặt chẽ của hội cha mẹ học sinh trong mọi hoạt động của nhà trường. Bên cạnh
đó là nguồn kinh phí đầu tư rất lớn của ngành GD&ĐTcùng với nguồn ngân
sách Huyện đã tạo nên sự thay da đổi thịt cho nhà trường trong năm học qua.
Tổng kinh phí và nhân lực huy động được quy ra tiền = 2.322.160.000đồng,
trong đó ngân sách xã là 1.800.000.000 để đền bù đất, 279.000.000 để mua thiết

trình hành động về XHHGD, phải làm cho cộng đồng thấm nhuần sâu sắc được
chủ trương XHHGD, biến mục tiêu phấn đấu của nhà trường cũng là mục tiêu
phấn đấu của cộng đồng.
Hiệu trưởng nhà trường cần xây dựng kế hoạch XHHGD sát đúng với
điều kiện hiện có của địa phương. Tích cực tham mưu cho lãnh đạo địa phương
và các ban ngành đoàn thể về nhiệm vụ XHHGD trong cả giai đoạn, trong từng
năm học; Tham mưu kế hoạch XHHGD tổng thể các nhiệm vụ, cụ thể từng công
việc, phân kỳ để tham mưu. Tổ chức thực hiện XHHGD phải mềm dẻo, từ tốn;
linh hoạt, khéo léo; không nóng vội, ôm đồm một lúc quá nhiều việc gây quá tải
về khả năng đáp ứng sẽ phản tác dụng.
HT phải là người có bản lính chính trị vững vàng, Kiến thức, kỹ năng
quản lý giỏi, khả năng phân tích, nắm bắt tình hình; biết dự đoán, dự báo nhanh.
Biết nắm bắt thời cơ. Có khả năng làm chủ hoàn cảnh, xử lý tốt các vấn đề phát
sinh, có tâm huyết, chính kiến rõ ràng, năng động, nhạy bén, giám nghĩ giám
làm, táo bạo và quyết tâm thay đổi, giám đương đầu với những khó khăn thách
thức đặt ra trong quá trình làm công tác XHHGD, giám chịu trách nhiệm trước
Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương cũng như trước ngành Giáo dục cấp
trên. Biết bố trí sắp xếp những việc cần XHHGD ngay, việc phải XHHGD lâu
dài, dần dần, những việc cần XHHGD đồng thời tiến hành một lúc, các điều
kiện cần và đủ để tiến hành XHHGD có thể cho hiệu quả tốt, từ đó lựa chọn kết
hợp mềm dẻo, linh hoạt trong quá trình tổ chức thực hiện để đạt được mục đích
đặt ra. Người cán bộ quản lý phải không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức, phẩm
chất, năng lực và nghệ thuật quản lý, kỹ năng thuyết trình, giao tiếp.
17


XHHGD ở trường MN chỉ thực sự có hiệu quả khi đảm bảo chất lượng
CSNDGD trẻ và đảm bảo công khai minh bạch đầy đủ, kịp thời trước toàn dân;
Đặc biệt là phải quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực huy động được có
như vậy mới có thể làm tốt công tác huy động XHHGD.

Đối với UBND huyện
Việc ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện công tác XHHGD cần thực
hiện ngay sau khi Sở GD&ĐT ban hành để các trường thực hiện kịp thời và phát
huy tốt hiệu quả của công tác XHHGD.
Đối với địa phương
Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trong
toàn xã hội về quan điểm "GD là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mọi
nhà, mọi người, mọi tổ chức cá nhân, là việc làm thường xuyên, liên tục suốt

18


đời". Không nên xem nhiệm vụ XHHGD là của nhà nước, của riêng ngành giáo
dục.
Làm tốt hơn nữa công tác XHHGD để có thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cho
các trường học.
Trên đây là một kinh nghiệm của cá nhân tôi đã áp dụng trong quá trình
thực hiện công tác XHHGD tại trường MN Bãi Trành, kính mong được Hội
đồng khoa học cấp trên, bạn đọc đang quan tâm đến vấn đề này góp ý để giúp
tôi có thể hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao./.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ

Bãi Trành, ngày 10 tháng 03 năm 2017
Tôi xin cam kết bản SKKN là của chính bản
thân, không coppy, sao chép của người khác.
Người viết SKKN

Vương Thị Quang
Hứa Thị Ái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status