Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................2
I.1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................................2
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài...................................................................................4
I.3.Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................5
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu....................................................................................5
I.5.Phương pháp nghiên cứu............................................................................................5
II. PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................................6
II.1. Cơ sở lý luận.............................................................................................................6
II.2. Thực trạng................................................................................................................7
a.Thuận lợi, khó khăn..................................................................................................7
b.Thành công, hạn chế.................................................................................................8
c.Mặt mạnh, mặt yếu..................................................................................................11
d.Các nguyên nhân, các yếu tố tác động...................................................................12
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra..........................13
II.3. Giải pháp, biện pháp..............................................................................................16
a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp..........................................................................16
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.........................................18
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.........................................20
d.Mối quan hệ giữa giải pháp và biện pháp..............................................................24
e.Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.............................24
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu......25
III.PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ................................................................................26
III.1. Kết luận.................................................................................................................26
III.2. Kiến nghị...............................................................................................................27
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 1
không có kiến thức thì không có thể bình đẳng với các dân tộc khác được”. Trước yêu cầu phát
triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời nhằm thực hiện chính
sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, xoá dần
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 2
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
khoảng cách chênh lệch về giáo dục giữa “miền ngược và miền xuôi”, Đảng và Chính phủ rất
quan tâm, chú trọng đến công tác giáo dục cho đồng bào các dân tộc thiểu số, nhằm lấp dần
khoảng cách trên thì khâu duy trì sĩ số là rất quan trọng. Công tác quản lý ở trường Tiểu học,
việc duy trì sĩ số học sinh là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng. Duy trì tốt sĩ số học
sinh không những nâng cao được hiệu quả giáo dục mà đặc biệt hơn là tránh được tình trạng
học sinh bỏ học giữa chừng, những học sinh thất học là một mối nguy hại lớn cho xã hội: Các
em dễ dàng sa vào các tệ nạn xã hội, đặc biệt dễ bị kẻ xấu lôi kéo vào các tổ chức phản động.
Bên cạnh đó duy trì tốt sĩ số học sinh còn gắn liền với chất lượng dạy học và hiệu quả giáo dục.
Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá, nhận xét chất lượng hoạt
động của mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp và của tập thể nhà trường đối với trường học sinh chủ
yếu là dân tộc thiểu số. Vậy muốn có được kết quả như vấn đề nêu trên đòi hỏi phải phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như: Năng lực của giáo viên trong thực hiện công tác phối kết hợp tốt giữa
nhà trường, gia đình và xã hội. Sự phối hợp nhịp nhàng và đồng thuận tốt là tiền đề giúp cho
việc duy trì và phát triển sĩ số học sinh. Trường Tiểu học Dray Sáp mà tôi đang công tác là nơi
mà học sinh chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm trên 60% số học sinh của toàn trường.
Trường nằm cách Uỷ ban nhân dân xã gần 1km, có điểm trường phụ cách xa gần 8 km, giao
thông đi lại cũng gặp nhiều khó khăn. Đa số học sinh đều thuộc diện “hộ nghèo và cận nghèo”.
Đời sống của con em đồng bào còn nhiều thiếu thốn cả về vật chất, tinh thần, văn hóa văn
nghệ, các loại hình giải trí lành mạnh. Trong khi đó tệ nạn ngoài xã hội có nguy cơ len lỏi vào
học đường, học sinh không hứng thú trong học tập làm gia tăng tỉ lệ học sinh có nguy cơ bỏ
học giữa chừng là điều không tránh khỏi.Với trách nhiệm của một hiệu phó chuyên môn Tiểu
học. Tạo điều kiện cho học sinh trau dồi kiến thức. Đồng thời giáo viên phát huy tốt vai trò đối
với công tác chủ nhiệm lớp, nâng cao uy tín của giáo viên tiểu học, huy động được sự quan tâm
giúp đỡ của phụ huynh học sinh, sự ủng hộ nhiệt tình của cán bộ thôn, buôn…Có như vậy thì
hiệu quả học tập của các em sẽ được nâng cao. Cũng là cơ sở ban đầu cho việc hình thành và
phát triển đạo đức đúng đắn, lâu dài về mặt tình cảm,kĩ năng sống.
Tìm ra các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến học sinh có nguy cơ bỏ học. Đề xuất những
biện pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên đề tài tự xác
định cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh có nguy cơ bỏ học ở
Trường Tiểu Dray Sáp – Phân hiệu Buôn Kuôp.
- Đề xuất biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh năm học 2014 – 2015 và những năm
học tiếp theo.
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 4
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
I.3.Đối tượng nghiên cứu
Học sinh Trường Tiểu học Dray Sáp ( Phân hiệu Buôn Kuôp ) – Xã Dray Sáp - Huyện
Krông Ana - Tỉnh Đăk Lăk.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Cùng với việc huy động tối đa học sinh trong độ tuổi đến trường hàng năm, thực hiện
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thì một vấn đề rất quan trọng khác là duy
trì sĩ số học sinh trong năm học cũng một trong những mục tiêu trong kế hoạch năm học và tiêu
chí thi đua của nhà trường và đối với giáo viên. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi mà
các em…. Vì vậy việc duy trì sĩ số học sinh đi học là nghĩa vụ không chỉ của Toàn ngành, của
toàn dân mà còn của cả hệ thống tổ chức chính trị.
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tạo những cơ
sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học cao hơn. Nhà trường Tiểu
học có vị trí, chức năng, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ
em, là nơi tổ chức một cách tự giác quá trình phát triển đúng đắn, lâu dài về tình cảm, trí tuệ,
thể chất và các kỹ năng học tập, rèn luyện của học sinh. Mục tiêu, nhiệm vụ của trường tiểu
học là đem đến cho trẻ em quyền được học tập, là làm cho trẻ em được hưởng thụ một nền giáo
dục tốt đẹp ở trường Tiểu học.
Việc duy trì sĩ số trong các trường học, là một chủ trương lớn của ngành giáo dục nhằm
cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng các cấp, đây là giải pháp có tính chiến lược nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục và bồi dưỡng những tài năng của đất nước.
Vì chỉ trên cơ sở của sự phát triển phong phú, hài hoà có tính toàn diện của nhân cách
thì tài năng con người mới có điều kiện nảy nở và phát triển một cách cơ bản và bền vững. Ở
những trường tiểu học việc duy trì tốt sĩ số học sinh, học sinh được giáo dục toàn diện, được
học đủ các môn học theo quy định, được thực hiện các hoạt động khác; đặc biệt các em được
học các thầy cô giáo có tâm huyết, có tay nghề và tinh thần trách nhiệm cao, các em có đầy đủ
các điều kiện và phương tiện học tập, các em được phát triển trong môi trường giáo dục đầy đủ,
lành mạnh. Trong điều kiện đó, mỗi học sinh sẽ được phát triển theo khả năng của mình để trở
thành học sinh giỏi và là tiền đề cơ bản để trẻ em tiếp tục phát triển sau này, các em sẽ là chủ
nhân tương lai của đất nước. Với xã Dray Sáp là xã còn nhiều khó khăn với phần đông là
đồng bào dân tộc , kinh tế còn nghèo, trình độ dân trí còn thấp.Cha mẹ học sinh cũng như các
em thì chưa xác định được việc học là quan trọng, dẫn đến học sinh có nguy cơ bỏ học nhiều,
với bản thân là một cán bộ quản lý, bản tôi luôn trăn trở về vấn đề này.
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 6
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
nhiệm vụ trọng tâm và là tiêu chí để đánh giá viên chức cuối năm học.
* Tổ chức bộ máy nhà trường :
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 7
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
- Hiệu trưởng: Bà Thái Thị Mai – Phụ trách chung
- Phó Hiệu trưởng: Bà Trần Thị Nguyệt – Chuyên môn
- Chủ tịch công đoàn: Bà Trần Thị Nguyệt
- Tổ trưởng tổ 1: Bà Bùi Thị Yến
-Tổ trưởng tổ 2: Bà Lê Thị Thanh Cảnh
-Tổ trưởng tổ 3: Bà Đỗ Thị Hồi
-Tổ trưởng tổ 4: Ông Võ Văn Bình
-Tổ trưởng tổ 5: Bà Đỗ Thị Liễu
*Khó khăn
Trường Tiểu học Dray Sáp là trường vùng sâu, vùng xa, có hai điểm trường cách xa
nhau gần 8 km, địa bàn dân cư rộng, nên việc xây dựng nề nếp, quản lý học sinh còn gặp nhiều
khó khăn. Học sinh dân tộc chiếm trên 50 %, đa số các em chưa xác định được việc học là quan
trọng. Điều kiện kinh tế gia đình học sinh còn thiếu thốn. Phần đa phụ huynh học sinh lại
không biết chữ nên không biết kèm con em khi ở nhà. Có một số học sinh lại chưa qua lớp
mẫu giáo, nên các em nói tiếng Việt chưa được thành thạo. Vì vậy các em rất khó khăn trong
việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng sống còn rất hạn chế. Nhiều em chưa biết tiếng kinh.
Trình độ dân trí thấp, đời sống còn rất nhiều khó khăn. Nhiều bậc cha, làm mẹ chưa hiểu
được tầm quan trọng của việc học, chưa làm tròn trách nhiệm, thiếu sự quan tâm đến con em,
còn khoán trắng cho nhà trường.
Học sinh ở phân hiệu Buôn Kuôp, một số em thỉnh thoảng cha mẹ bắt ở nhà đi chăn bò.
Đến mùa vụ các em thường bỏ học đi làm nương, làm rẫy; vào những ngày mưa các em ít khi
đến trường nhưng chưa được sự phân tích, nhắc nhở của cha mẹ.
đến trường, đến lớp. Ngoài giảng dạy chính khóa, nhà trường còn tăng cường công tác phụ đạo
học sinh yếu ngay từ đầu năm học cho các em. Đồng thời, tổ chức dạy bù kiến thức cho học
sinh hay nghỉ học, quan tâm, thường xuyên giữ mối liên hệ giữa gia đình và giáo viên chủ
nhiệm để từ đó nắm được nguyên nhân vì sao học sinh đó thường xuyên không đến lớp.
Trường khó khăn, giáo viên không được hưởng bất kì một chế độ đãi ngộ gì, điều kiện
công tác sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn nhưng với lòng yêu nghề, thương yêu học sinh các thầy
cô luôn bám trường, bám lớp an tâm công tác.
Trường trang cũng đã trang bị thêm dụng cụ sinh hoạt, thể thao cầu lông, bóng đá... Qua
giao tiếp chú trọng tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc. Khuyến khích giáo viên tự
giác học tiếng Ê đê, Mnông để thuận lợi giao tiếp với học sinh phụ huynh và nhân dân trên địa
bàn. Hàng năm bổ sung cơ sở vật chất từ nguồn kinh phí nhà nước cấp, ngoài ra trường còn xây
dựng tủ sách, báo thường xuyên cho học sinh mượn sách báo các loại, tạo điều kiện sinh hoạt
nâng cao kiến thức, khám phá thế giới xung quanh, thu hút học sinh đến trường.
*Hạn chế
Trường TH Dray Sáp là trường với tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% học
sinh toàn trường với 189 em. Đóng trên 2 địa bàn cách xa trung tâm của huyện Krông
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 9
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
Ana.Riêng phân hiệu Buôn Kuôp là nơi tập trung hầu hết là đồng bào dân tộc, đồng thời cũng
là nơi năng động trong các hoạt động mà khách du lịch vô ra thường xuyên. Nhưng cũng là nơi
chịu sự tác động của xã hội về trình độ dân trí, người dân sống tương đối chủ yếu là làm nông,
thu nhập thấp. Đó cũng là điều làm ảnh hưởng đến xã hội có nguy cơ học sinh bỏ học và sự
phát triển và hình thành nhân cách của thế hệ trẻ từ những lệch lạc về ý nghĩa việc đi học và
kiếm tiền. Từ những thực tế đó mà tình trạng học sinh có nguy cơ bỏ học tham gia lao động sản
xuất cùng gia đình, học nghề, chuyển đi nơi khác...trên địa bàn huyện nói riêng và toàn tỉnh
Đak Lăk nói chung còn tương đối nhiều. Theo số liệu thống kê toàn xã Dray Sáp trong hai năm
kinh tế khó khăn, đặc biệt đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số, có lẽ việc thực hiện tốt công
tác giảng dạy giúp các em tiếp thu kiến thức không thôi thì chưa đủ. Bởi việc các em có được
kiến thức vững chắc không chỉ phụ thuộc vào việc dạy của người thầy, mà còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khách quan tác động. Trong đó, việc làm sao để các em đến trường thường xuyên
và đông đủ đã là không đơn giản rồi. Vốn quen sống tự do theo ý thích, lại chưa nhận thức
được tầm quan trọng của học hành nên với nhiều em khi bị đưa vào “khuôn khổ” thì quả là như
một “cực hình”... Chính vì điều này mà không ít em học sinh có ý định bỏ buổi, nghỉ học...
Những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học không còn diễn ra nhiều như trước, nhưng hiện
tượng nghỉ học cách nhật, đặc biệt là vào mùa vụ hay các dịp lễ tết vẫn luôn xảy ra. Là người
làm công tác quản lý, tôi hiểu rõ vấn đề cấp bách của công tác duy trì sĩ số, chống học sinh bỏ
học, bỏ tiết để nâng cao chất lượng giáo dục.
Nhà trường đã có những quan tâm đến đội ngũ giáo viên nhưng đôi khi chưa kịp thời,
dẫn đến giáo viên chưa nhiệt tình hết sức mình trong vai trò là một giáo viên chủ nhiệm lớp.
Qua các năm học việc thực hiện một số biện pháp vận động học sinh ra lớp, duy trì sĩ
số, tôi cũng đã tự rút ra được những kinh nghiệm riêng cho bản thân. Vì thế,tôi đã chọn vấn đề
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 10
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
này để nghiên cứu, hy vọng chia sẻ với các bạn đồng nghiệp những giải pháp, kinh nghiệm của
mình.
c.Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Ban giám hiệu nhà trường trẻ, khỏe, có lòng yêu nghề, tâm huyết, tìm tòi, ham học hỏi,
cầu tiến bộ; có ý chí và tinh thần tự lực, tự cường.
Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, phối hợp tốt với
giáo viên bộ môn cũng như các giáo viên dạy thay trong công các vận động học sinh đi học
chuyên cần.
của mình. Nhận thức được vấn đề này, mới thấy được tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của gia
đình với việc hình thành nên đạo đức lối sống cho các em, không buông lơi hay phó mặc các
em cho nhà trường.
d.Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Địa bàn xã Dray sáp là một xã thuộc khu vực còn nhiều khó khăn, đặc biệt có Buôn
Kuôp với hơn 80% là đồng bào dân tộc thiểu số. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, chủ
yếu sống bằng nghề nông: Sản xuất với cây trồng chủ yếu là cà phê, lúa, mì cho thu nhập
thấp.Do kinh tế khó khăn nên các em phải ở nhà giúp cha mẹ công: Trông em, đi rẫy, chăn bò,
dẫn đến tình trạng các em hay vắng học vào những ngày mùa.
Sự nhận thức của cha mẹ học sinh: Cha mẹ học sinh nhận thức còn thấp, họ chưa thấy
được lợi ích lâu dài của việc học tập, họ cho rằng học chả làm ra tiền.Nhưng đi chăm bò, đi
mót, đi rẫy thì mới có tiền.Chính vì vậy cha mẹ bắt các em ở nhà để đi làm, nhất là các em học
sinh khối lớp 4, lớp 5 vì các em lớn hơn.
Tâm sinh lý học sinh: Các em học sinh tiểu học còn nhỏ, đang tuổi ăn, tuổi chơi, nên
không thích đi học gò bó, không được chơi thoải mái như ở nhà.
Giáo viên chủ nhiệm chưa làm hết vai trò, trách nhiệm của mình: Giáo viên đôi lúc chưa
chú trọng đến việc giúp HS đi học chuyên cần, nhiều khi chưa nhiệt tình, chưa động viên nhắc
nhở… Chưa gần gũi với các em, sự bất đồng về phong tục tập quán, ngôn ngữ. Hình thức tổ
chức các giờ dạy còn đơn điệu, nghèo nàn, dễ tạo sự nhàm chán, ít kích thích sự hứng thú học
tập của HS, gây tâm lí lo sợ cho các em mỗi khi kiểm tra bài, làm cho các em không thích đi
học và thường xuyên nghỉ học.
Chương trình học: Do các em là học sinh dân tộc, nên khi bước vào lớp một vốn Tiếng
Việt của các em còn ít, thậm chí có em còn chưa nói rõ. Nhưng khi giáo viên giảng bài thì lại
giảng bằng Tiếng Việt, dẫn đến việc tiếp thu bài gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó chương
trình thì lại học chung cùng một chương trình với các bạn. Phải chăng như thế là quá tải với
học sinh dân tộc.Một số buổi dạy phụ đạo về buổi chiều thì các em rất ít tham gia học dẫn đến
một số em không theo kịp chương trình. Đọc sai, viết sai, cô sửa, cô nhắc nhở nhiều dẫn đến tự
ái, buồn rồi nghỉ học.
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
trường.
Cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn: chưa có phòng hiệu bộ, phòng chức năng.
Phòng học ở phân hiệu thiếu và xuống cấp nặng, trường phải mượn phòng của Mẫu giáo để
giảng dạy.
Một số giáo viên chưa có ý thức xây dựng khối đoàn kết, chưa ủng hộ sự đổi mới cũng
như giải pháp thực hiện của Ban giám hiệu nhà trường.Thậm chí có giáo viên chủ nhiệm học
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 13
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
sinh nghỉ học gần chục ngày nhưng cũng không đến nhà học sinh.Điều đó cũng đã gây trở ngại
cho nhà trường trong việc thực hiện nhiệm vụ duy trì sĩ số học sinh.
Bản thân là một phó hiệu trưởng mới đảm nhận chức vụ được một thời gian ngắn nên
kinh nghiệm chưa nhiều, nên đôi khi trong giải quyết công việc còn mang tính học hỏi, vừa
làm, vừa học. Khi phân công chuyên môn cho giáo viên tôi yêu cầu giáo viên đi vào tìm hiểu,
phân tích, tổng hợp lí lịch trích ngang của học sinh để nắm được cụ thể gia cảnh của từng học
sinh. Những em có ý thức đạo đức tốt, được gia đình quan tâm đến việc học hành được sắp xếp
ngồi cạnh những em chưa tốt. Bên cạnh việc quan tâm hỏi han đến cuộc sống sinh hoạt, học tập
của học sinh. Tôi còn sắp xếp thời gian rảnh rỗi trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với các bậc phụ
huynh những mong có sự kết hợp hành động một cách thống nhất, có hiệu quả từ hai phía Nhà
trường và gia đình.Như trường hợp của em Trần Quốc Lợi , gia đình em khó khăn và bố mẹ bỏ
nhau, em phải ở với bà ngoại, bà thì già yếu, bệnh tật không có thời gian lo cho em nên em
thường xuyên nghỉ học để ở nhà phụ giúp gia đình. Tôi đã sắp xếp thời gian phối hợp với giáo
viên chủ nhiệm đến thăm gia đình em, vận động gia đình cho em đi học. Ngoài ra còn trường
hợp của một số em khác : Y’Đan Niê, H’Nuil Hlong,...cũng có hoàn cảnh rất khó khăn.
Bên cạnh đó tôi còn hướng cho giáo viên chủ nhiệm tạo điều kiện học sinh của mình
tham gia vào những hoạt động ngoại khóa bổ ích để hình thành cho các em lòng đoàn kết,
tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tình yêu thương giữa con người với con người, hướng
Đầu năm
Cuối kì 1
TSHS
Tỉ lệ %
TSHS
Tỉ lệ %
244
73,5
88
26,5
313
94,2
19
5,8
* Về đạo đức: Các em được cuốn hút, tham gia tích cực và các hoạt động chung của
trường, lớp, biết yêu quê hương đất nước, kính trọng ông bà cha mẹ và những người thân trong
bạn cùng trang lứa.
Ta nhận thấy vấn đề duy trì của học sinh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của
nhà trường, của xã hội. Tình hình bỏ học của học của học sinh gần đây đang là vấn đề mà
chúng ta phải đặt lên hàng đầu mà chủ yếu là tập trung và các nguyên nhân sau :
- Nhà trường xây dựng kế hoạch còn chưa thật sự cụ thể mà vẫn mang tính chất chung
chung. Công tác Đội chưa tổ chức tốt các phong trào vui chơi thiết thực, tổ chức các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp...để thu hút học sinh tham gia. Khuôn viên nhà trường còn chật
chội,thiếu chỗ bóng mát cho học sinh vui chơi.
- Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp chưa phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện cha mẹ học
sinh của lớp, còn thiếu quan tâm đến hoàn cảnh gia đình các em, đôi khi giáo viên cư xử còn
thiếu tế nhị làm xúc phạm đến lòng tự ái của học sinh. Học sinh như đã nói ở trên phần lớn các
em đi học không đúng độ tuổi, các em cũng chưa hiểu hết là “Học để làm gì ?”
- Không ít gia đình thiếu sự quan tâm đến việc học của con em mình, họ khoán trắng
cho nhà trường, chưa kể đến là một số gia đình còn nuông chiều con quá mức khi nào cũng cho
con mình là ngoan, là giỏi nhất nên dẫn đến thiếu sự phối hợp giữa gia đình – nhà trường – xã
hội. Những ảnh hưởng xấu tác động ngoài xã hội đến nhận thức của các em như : phim ảnh
không lành mạnh, các trò chơi điện tử , các chất gây nghiện....ảnh hưởng không nhỏ đến học
tập của các em.
II.3. Giải pháp, biện pháp
a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Đưa ra các giải pháp, biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường nhằm làm
tốt công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc trong công tác quản lý hoạt động day- học.
Xây dựng tập thể sư phạm thực sự đoàn kết; đội ngũ giáo viên, nhân viên có tinh thần
trách nhiệm cao với công việc; biết chia sẻ, gánh vác, giúp đỡ nhau vì nhiệm vụ chung, cùng
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 16
giản, dễ hiểu nhất. Cô trò cứ thủ thỉ với nhau, và tôi mừng khôn xiết khi em ấy ngập ngừng nói:
“Ngày mai em sẽ đi học cô ạ!”.Vậy là bước đầu tôi đã thành công rồi đấy!
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 17
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Tổ chức điều tra nắm hoàn cảnh của từng học sinh ngay từ đầu năm học: Phân công
những giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn và nhiệt tình trong công tác làm chủ
nhiệm các lớp. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác bàn giao lớp giữa giáo viên chủ nhiệm cũ cho
giáo viên nhận lớp mới, rà soát những học sinh học yếu kém có nguy cơ bỏ học , tìm hiểu hoàn
cảnh sống của gia đình, công việc thường ngày của học sinh ở nhà và kinh tế gia đình ....Theo
số liệu điều tra một số gia đình học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ năm học
2014- 2015, Nhà trường có 41 học sinh thuộc diện khó khăn trong đó có 04 học sinh là hộ
nghèo là những học sinh nghèo có nguy cơ bỏ học . Là Phó hiệu trưởng nhà trường, tôi đã cùng
giáo viên chủ nhiệm nắm bắt tình hình cụ thể ngay từ đầu năm để kịp thời tìm ra giải pháp, chỉ
đạo giáo viên chủ nhiệm lớp kết hợp cùng các ban ngành đoàn thể trong địa bàn tìm biện pháp
giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia học tập. Chỉ đạo giáo viên làm tốt công
tác chủ nhiệm lớp xây dựng mối quan hệ với gia đình học sinh ngay từ đầu năm học, điều tra
lập sổ theo dõi học sinh. Ngay từ đầu năm học mới trong những cuộc họp hội đồng , họp
chuyên môn của nhà trường ,kế hoạch đưa ra cho giáo viên chủ nhiệm là: nhắc nhở giáo viên
liên lạc thường xuyên với phụ huynh học sinh của lớp sẽ giúp cho chủ nhiệm nắm bắt rõ hơn về
biểu hiện của học sinh về ý thức học tập hàng ngày ở trường, ở nhà, kiểm tra những trang bị
cần thiết của học sinh trong học tập như : Đồ dùng học tập, sách giáo khoa, cặp sách tối thiểu
có hay không, đế báo lại cho nhà trường biết tìm biện pháp giải quyết kịp thời .Yêu cầu giáo
viên đến thăm gia đình PHHS và giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Một khi
hiểu rõ học sinh của mình hơn thì giáo viên chủ nhiệm sẽ có nhiều giải pháp thiết thực hơn để
tốt các hoạt động văn nghệ , thể dục thể thao, để các em có thời gian thư giãn, vui tươi trong
học tập, đoàn kết trong tập thể, hào hứng trong công việc, đây cũng chính là nội dung xây dựng
“ trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng
7 năm 2008 của Bộ Giáo Dục và đào tạo, tạo điều kiện cho học sinh khi đến trường được an
toàn, thân thiện, vui vẻ, tạo cho các em cảm giác “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” Tổ
chức cho học sinh chơi những trò chơi dân gian trong ngày khai giảng ,các đợt hội thao, hội
khỏe, các giờ sinh hoạt của trường, để thu hút học sinh tham gia hoạt động và thư giãn vui vẻ
sau những ngày học tập căng thẳng.
Đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn,cùng thảo
luận thống nhất ý kiến với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các nhà hảo tâm, hội khuyến học của
trường giúp đỡ học sinh quần áo, sách vở, dụng cụ học tập, tặng học bổng cho học sinh nghèo
vượt khó học giỏi. Một số em có hoàn cảnh mồ côi cha, mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, có hoàn cảnh
kinh tế khó khăn như các em : Y’Đan Niê lớp 4B, Nguyễn Quốc Khánh lớp 4A, Nguyễn Ngọc
Luận lớp 5A, H’Nuil Hlong lớp 4C. Bản thân tôi chỉ đạo, phối hợp tốt hình thức hoạt động của
Đoàn - Đội trong nhà trường, tổ chức Đoàn - Đội là một tổ chức mạnh để các em học sinh tham
gia rèn luyện ý thức. Hàng ngày các thành viên trong tổ tự quản theo dõi số học sinh nghỉ học
ở các lớp. Chỉ đạo cho Bí thư đoàn trường và Tổng phụ trách đội phải luôn là người sát cánh
cùng giáo viên chủ nhiệm lớp, cùng tổ chức các hoạt động như: Sinh hoạt thường kỳ ở chi
đoàn, sinh hoạt liên chi đội và các hoạt động đoàn đội để thu hút học sinh trong sinh hoạt thi
đua. Nhờ vậy mà phong trào của lớp ngày càng có nhiều tiến bộ vượt bậc.Tổ chức sinh hoạt
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 19
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
văn nghệ, thể dục thể thao vào các ngày lễ lớn để thu hút học sinh trong nhà trường và ngoài xã
hội cho các em thấy đi học vui hơn và có ích hơn ở nhà.
Từ những kế hoạch cụ thể trong nhà trường để duy trì sĩ số học sinh, điều trọng tâm là
việc tìm ra những nguyên nhân, cách vận dụng linh hoạt sáng tạo trong các giải pháp, trong tổ
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
khi có học sinh bỏ học thì giáo viên chủ nhiệm cần phải thông báo ngay cho Ban giám hiệu nhà
trường đồng thời sắp xếp thời gian gặp trực tiếp phụ huynh để trao đổi các thông tin cùng nhau
tìm các giải pháp phối hợp tốt hơn đưa học sinh trở lại trường. Liên lạc thường xuyên với phụ
huynh học sinh sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm nắm bắt rõ hơn về thời gian biểu cũng như các
thói quen, sở thích và tính cách của từng học sinh. Khi hiểu rõ giáo viên chủ nhiệm sẽ có nhiều
giải pháp giúp học sinh của mình chuyên cần hơn trong việc học tập cũng như duy trì sĩ số của
lớp tốt hơn.Thông qua sổ liên lạc để báo tình hình học tập cho gia đình.
+ Phối kết hợp với chính quyền địa phương: Giáo dục học sinh, vận động học sinh bỏ
học ra lớp: Khi có học sinh trong lớp bỏ học thì người giáo viên chủ nhiệm là người đầu tiên
phải tìm hiểu rõ nguyên nhân: Tìm hiểu về hoàn cảnh kinh tế gia đình, biện pháp giáo dục
trong gia đình, nhu cầu hứng thú và thói quen của học sinh trong gia đình…trực tiếp xuống
thôn, buôn, đến gia đình học sinh bỏ học vận động học sinh trở lại trường, những trường hợp
khó vận động thì cần phối hợp với nhà trường và các lực lượng xã hội từ đó tìm giải pháp thích
hợp nhằm sớm đưa học sinh trở lại trường.
+ Thực hiện tốt giờ sinh hoạt lớp: Trong tiết sinh hoạt lớp cuối tuần, yêu cầu giáo viên
cần chuẩn bị nội dung và phân tích kỹ những mặt ưu và cũng rất nghiêm khắc với những vi
phạm nội quy của nhà trường, luôn luôn biểu dương các em đi học đều, không nghỉ học, để
động viên khích lệ: dùng phần thưởng nhỏ như: vở,bút ,…. Để khen thưởng, động viên các
em.
+ Sự phối hợp với các giáo viên bộ môn và giáo viên dạy thay: Việc phối hợp với các
giáo viên bộ môn cũng như các giáo viên dạy thay là hết sức quan trọng nhằm theo dõi sĩ số
học sinh qua đó có kế hoạch điều chỉnh cũng như động viên các em bỏ học giúp các em học tập
tốt hơn.
Hàng tháng qua buổi các buổi sinh hoạt chuyên môn đều sơ kết theo tổ chấm chéo với
nhau nhằm mục đích ngăn chặn và dập tắt những biểu hiện xấu của các em khi vừa chớm nở
với biểu điểm, có biên bản sinh hoạt lớp do thư ký ghi chép. Cuối tháng chuyên môn, tổ khối
cùng xếp loại thi đua.
viên chủ nhiệm cần phối kết hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, tổ chức chính trị xã hội các
cấp, các phương tiện thông tin đại chúng. Cá biệt có những phụ huynh nhận thức sai lầm “Học
cũng chẳng để làm gì” Một số học sinh và phụ huynh học sinh có suy nghĩ chưa chín chắn,
kiếm tiền lo cuộc sống trước mắt, chưa nghĩ tới tương lai lâu dài cho cuộc sống mai sau. Một
bộ phận nhân dân còn có cuộc sống rất khó khăn, gia đình nghèo. Một tỷ lệ lớn học sinh bỏ học
nằm trong diện này. Các em phải nghỉ học để phụ giúp gia đình hàng ngày. Một số theo bạn bè
đi khỏi địa phương tìm kiếm việc làm nơi khác.
+ Là một người quản lý bản thân tôi luôn tham gia vào các buổi họp Phụ huynh học
sinh, các buổi sinh hoạt cộng đồng , tuyên truyền Luật Giáo dục, biểu dương những tấm gương
vượt khó học tập, những gia đình hiếu học.... từng bước làm chuyển biến và nâng lên nhận thức
của nhân dân về trách nhiệm của gia đình đối với việc học tập của con em được quy định trong
Trần Thị Nguyệt – Phó hiệu trưởng trường TH Dray Sáp
Trang 22
Một số kinh nghiệm trong công tác duy trì sĩ số học sinh dân tộc
Luật Giáo dục cũng như mục đích học tập của con em họ là “Học để lập thân, lập nghiệp, để
thoát nghèo. Đặc biệt chú ý đến các đối tượng cận nghèo, tái nghèo hoặc những hộ nghèo mới
phát sinh nằm ngoài diện miễn giảm được quy định theo các văn bản hiện hành. Thông báo
sớm, công khai đến học sinh để các em yên tâm học tập. Huy động các nguồn tài trợ từ nhiều
phía để có kinh phí giúp đỡ học sinh. GVCN các lớp làm tốt công tác tư tưởng cho học sinh,
xây dựng khối đoàn kết thương yêu đùm bọc chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau giúp các em yên tâm
trong học tập. Nhà trường chủ động phối hợp với các đoàn thể tuyên truyền, giáo dục trong
nhân dân để họ nâng lên nhận thức và thấy được trách nhiệm của mình đối với việc quản lý và
giáo dục con em. Phát huy vai trò của GVCN, ban cán sự lớp và tổ chức Đoàn Đội đi sâu tìm
hiểu từng học sinh, thương yêu gần gũi, đồng cảm, chia sẻ đặc biệt đối với các em, gạt qua sự
bực dọc, coi học sinh như người thân trong gia đình. Quan tâm, chia sẻ, động viên kịp thời với
những tiến bộ của các em dù là nhỏ nhất. Với những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt thì giáo
viên cũng phải có phương pháp giáo dục đặc biệt cho từng em, cảm hoá các em bằng tình
thức” , “Đố vui khoa học”, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các trò chơi dân
gian, giáo dục ngoài giờ lên lớp… để tạo niềm vui, tạo sức thu hút của nhà trường đối với các
em. BGH trường tham mưu, đề xuất với UBND các cấp và ngành chức năng làm tốt công tác
quản lý, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy định của các dịch vụ điện tử; có biện pháp
xử lý nghiêm khắc nếu sai phạm. Ngay sau khi nhận được báo cáo học sinh nghỉ học không có
lý do của GVCN cần chỉ đạo giáo viên gặp học sinh và phụ huynh tìm hiểu nguyên nhân, động
viên thuyết phục các em trở lại trường. Báo cáo kịp thời với chính quyền địa phương, các ban
nghành đoàn thể để tìm biện pháp giải quyết. Chú ý vai trò của GVCN trong những lần vận
động ban đầu là rất quan trọng, vừa đảm bảo tính kịp thời, vừa có những tác động tâm lý tích
cực đến học sinh và phụ huynh tạo cơ sở tốt cho những lần vận động tiếp theo.
d.Mối quan hệ giữa giải pháp và biện pháp
Các giải pháp nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau và không thể tách
rời, điều đó được thể hiện trong xây dựng kế hoạch của người quản lý. Thực tế cho thấy giải
pháp này hỗ trợ cho giải pháp khác, thành công của việc làm này góp phần dẫn đến thành công
của việc làm khác. Vì vậy, không nên tách rời thực hiện từng giải pháp một mà luôn phải thực
hiện đồng bộ, phối hợp nhịp nhàng xuyên suốt trong cả năm học và trong quá trình làm công
tác giáo dục mà trọng tâm ở đây là vấn đề duy trì sĩ số học sinh dân tộc.
e.Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Sau 2 năm áp dụng cách làm trên. Năm học 2012 – 2013; 2013 – 2014 , tỉ lệ học sinh
dân tộc có nguy cơ bỏ học như sau:
( Số liệu học sinh Cuối năm học 2012 – 2013 )
Năm học
2013 -2014
Đầu năm
T. số
DT
347
190
Tỉ lệ
100 %
Từ cách làm trên, tôi đã mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm với tất cả giáo viên được các
thành viên trong hội đồng sư phạm mạnh dạn áp dụng vào công tác chủ nhiệm và nhận thấy
việc duy trì sĩ số của toàn trường đạt kết quả cao ở hầu hết các khối lớp.
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Nhìn lại kết quả trên, bản thân tôi rất vui mừng vì mình đã cơ bản thực hiện tốt kế hoạch
năm học đã đề ra.
+ Đối với học sinh: Đã tạo niềm tin nơi các em, em nào cũng ham thích học tập, gắn bó
với trường lớp hơn, thích được đến lớp mỗi ngày.
+ Đối với trường, các ban nghành: Góp phần làm phong phú thêm kinh nghiệm công tác,
phổ biến kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau giữa các trường có nhiều học sinh dân tộc trong địa bàn
huyện nói riêng và toàn tỉnh nói chung, thì thiết nghĩ sẽ giảm thiểu tình trạng học sinh có nguy
cơ bỏ học, vận động học sinh bỏ học đi học lại.
Kết quả:
* Tập thể:
- Chi bộ: Đạt trong sạch, vững mạnh
- Nhà trường: Được UBND Huyện khen
- Công đoàn: Đạt Vững mạnh
- Chi đoàn, Liên đội: Đạt Vững mạnh
* Cá nhân:
- Chiến sĩ thi đua cơ sở: 03
- Giáo viên giỏi cấp huyện: 02
- Lao động tiên tiến: 16/33.
* Học sinh:
- Danh hiệu học giỏi cấp huyện: 11 em ( đạt trên tổng số 24 em tham gia )
- Học sinh giỏi: 41, tỷ lệ 12.3 %