SKKN Một vài kinh nghiệm trong công tác thanh tra hoạt động sư phạm giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Kiên Giang - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC THANH TRA
HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TỈNH KIÊN GIANG"
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển và hội nhập, giáo dục và đào tạo luôn giữ vai trò vô cùng
quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển của mỗi cá nhân nói
riêng. Vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,
dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”. Để đạt được mục tiêu đề ra, ngành giáo dục và đào tạo
có vai trò vô cùng quan trọng và nhu cầu phát triển giáo dục là bức thiết.
Vì vậy, mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010- 2020 là: “Thực
hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng
hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo
dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực
hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về
số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội, phối
hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ. Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở
vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục và đào tạo. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng
một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế ”. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta
về phát triển giáo dục và đào tạo là nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn cho
các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở các vùng còn nhiều khó khăn.
Từ mục tiêu trên, vấn đề phát triển giáo dục và đào tạo ở những vùng được coi là
“Trũng về giáo dục” như đồng bằng sông Cửu Long là một trong những nhiệm vụ hết sức
khó khăn của ngành giáo dục và đào tạo toàn vùng. Trong đó quan trọng nhất là những
năm qua, các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ học sinh bỏ học khá
2

trong cả nước.
Đồng thời trong bối cảnh kinh tế - xã hội của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
đang phát triển đi lên, thì nhu cầu nguồn nhân lực ngày càng lớn. Trong khi đó giáo dục
trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn phát triển chưa tốt, hiện tượng học sinh bỏ
học càng nhiều, học sinh đến trường ít. Qua thực tiễn học sinh bỏ học trong tỉnh, cũng
như qua công tác quản lý giáo dục thời gian qua, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm
trong việc phòng, chống học sinh bỏ học ở các xã thuộc chương trình 135 của tỉnh.
Những kinh nghiệm này xin được trình bày qua sáng kiến kinh nghiệm có tên: “Biện
pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông khắc phục bỏ học ở các trường trung
học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang”.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Sáng kiến này nhằm mục đích nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quá trình giáo dục
học sinh trung học phổ thông khắc phục tình trạng bỏ học ở tỉnh Kiên Giang, đặc biệt ở
các trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135. Trên cơ sở đó, có những biện
pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông ở các trường trung học phổ thông thuộc
chương trình 135 khắc phục tình trạng bỏ học hiện nay được tốt hơn.
Khách thể nghiên cứu là quá trình giáo dục học sinh trung học phổ thông khắc phục
4
bỏ học, đối tượng nghiên cứu là các biện pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông
khắc phục bỏ học ở các trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên
Giang.
Bằng lý luận và thực tiễn giáo dục tôi cho rằng việc giáo dục học sinh trung học phổ
thông trong khắc phục bỏ học ở các trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh
Kiên Giang thời gian qua đã có những kết quả nhất định, song còn nhiều hạn chế. Nếu đề
xuất được những biện pháp phù hợp thì sẽ nâng cao giáo dục học sinh trung học phổ thông
khắc phục bỏ học ở các trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên
Giang. Phạm vi của sáng kiến này nhằm thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
- Nghiên cứu thực trạng học sinh trung học phổ thông bỏ học và thực trạng các biện

thế giới, trong đó nặng nề nhất là các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển.
Tình trạng học sinh bỏ học tồn tại ở hầu hết các quốc gia, cho dù giàu hay nghèo, phát
triển hay đang phát triển và nhiều nước đã phải bỏ ra nhiều công sức và tiền của để cải
thiện tình trạng này nhằm giải tỏa những nguyên nhân dẫn đến việc bỏ học của học sinh
và đưa những em này trở lại nhà trường tiếp tục học bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Theo UNESCO công bố trong “Báo cáo giám sát toàn cầu giáo dục cho mọi người năm
2010”, tính ở khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam cùng với Philippin, Myanmar, Thái
6
Lan và Indonesia đang phải đối mặt với những thách thức lớn nhất về số trẻ em bỏ học.
Còn ở Việt Nam, tình trạng học sinh bỏ học đã có nhiều tác giả nghiên cứu, có thể
phân thành các nhóm sau:
* Nghiên cứu về quan điểm lý luận chung có các tác giả:
- Thái Duy Tuyên [Thái Duy Tuyên, Hiện tượng lưu ban bỏ học: thực trạng,
nguyên nhân, vấn đề và biện pháp. NCGD số 7/92;4-6].
- Đặng Vũ Hoạt (Đặng Vũ Hoạt, Một số quan điểm trong lưu ban, bỏ học. NCGD
số 7/92;1-3].
- Đặng Thành Hưng [Đặng Thành Hưng, Lưu ban, bỏ học: bản chất, nguyên nhân
và phương hướng ngăn ngừa, khắc phục. NCGD số 7/92;33-35].
- Trần Kiểm [Trần Kiểm, Cách tiếp cận trong việc mô tả xác định nguyên nhân bỏ
học. NCGD số 5/93;28-33].
- Nguyễn Sinh Huy [Nguyễn Sinh Huy, Vấn đề học sinh và việc điều chỉnh giáo
dục hiện nay. NCGD số 7/92;7-8].
- Phạm Thanh Bình [Phạm Thanh Bình, Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ
học. NCGD số 7/92;31].
- Trương Công Thanh [Trương Công Thanh, Về tình hình học sinh bỏ học và đề
xuất giải pháp khắc phục. TT Nghiên cứu GD Phổ thông - Viện Nghiên cứu giáo dục,
2009;2-3] …
Nhìn chung các tác giả đều đề cập đến bản chất của tình trạng lưu ban bỏ học; các
nguyên nhân dẫn đến tình trạng lưu ban bỏ học: Nguyên nhân từ phía nhà trường, xã hội,
gia đình và bản thân học sinh. Từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục trên bình diện quá

Muốn khắc phục tình trạng học sinh bỏ học cần quan tâm nghiên cứu biện pháp
quản lý của Hiệu trưởng, nhất là ở vùng thuộc chương trình 135 có nhiều đồng bào dân
tộc thiểu số cùng sinh sống như địa bàn tỉnh Kiên Giang.
2.2. Các khái niệm
2.2.1. Khái niệm biện pháp
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết những vấn đề, những công việc cụ thể trong
những điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu. Từ điển Tiếng Việt [29, tr. 62], Nhà xuất
bản giáo dục 1995.
Trong quản lý giáo dục, biện pháp là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể
quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết các vấn đề trong công tác
quản lý làm cho hệ thống quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra phù
hợp với quy luật khách quan.
Biện pháp quản lý cũng như cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lý. Đối
tượng quản lý giáo dục phức tạp đòi hỏi biện pháp quản lý phải đa dạng, phong phú, phù
hợp với đối tượng quản lý. Biện pháp quản lý có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một
hệ thống các biện pháp. Hệ thống các biện pháp giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các
phương pháp quản lý của mình.
Phương pháp quản lý thể hiện rõ tính năng sáng tạo của chủ thể quản lý trong các
tình huống và đối với mỗi đối tượng nhất định người quản lý phải biết sử dụng những
9
phương pháp nhất định. Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc rất nhiều ở sự lựa chọn
đúng đắn và áp dụng linh hoạt các biện pháp quản lý.
2.2.2. Khái niệm giáo dục
Giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng; giáo dục theo nghĩa hẹp là quá
trình tác động có mục đích, có hệ thống, liên tục của nhà sư phạm đến toàn bộ cuộc sống
của học sinh để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Giáo dục là quá trình hai
mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận của người được giáo dục. Giáo dục
là sự tác động và sự chuyển hóa từ yêu cầu bên ngoài, những yêu cầu của xã hội thành
những phẩm chất bên trong bền vững của cá nhân. Giáo dục được thực hiện trong nhà
trường và cả ngoài xã hội với những hình thức đa dạng và phương pháp phong phú.

Vậy theo hai tác giả bỏ học là hiện tượng không nên có, cố gắng khắc phục mọi
nguyên nhân để không nên có học sinh bỏ học. Cách đây 20 đến 25 năm, nước ta không
có học sinh bỏ học nếu có thì con số đó rất ít và thường là do nhà trường buộc phải cho
“thôi học” trong một thời gian để giáo dục học sinh. Ngày nay không giống như trước,
học sinh bỏ học là do nhà trường buộc phải “đuổi học” và có cả những học sinh đã tự ý
bỏ học. Đặng Thành Hưng đã tự nói về việc bỏ học hiện nay như sau:
“ Trong tình hình hiện nay, tỉ lệ bỏ học một mặt vẫn phản ảnh mặt chất lượng của dạy
học - giáo dục, mặt khác mang bản chất của quá trình điều chỉnh, tự điều chỉnh nhu cầu giá
trị cả ở bình diện cá nhân lẫn cộng đồng…Hiện tượng bỏ học làm nảy sinh những vấn đề
11
sâu xa có tính chất xã hội cần được các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội cấp cao quan
tâm xem xét”.
Vậy khái niệm bỏ học được hiểu ở từng giai đoạn phát triển xã hội khác nhau.
Trước đây bỏ học là hiện tượng không đáng ngại lắm, bây giờ vấn đề này là một vấn đề
mà toàn xã hội đặc biệt quan tâm.
* Khắc phục bỏ học: Hiện chưa có tác giả nào chính thức định nghĩa cụ thể, nhưng
theo Thái Duy Tuyên [ Hiện tượng lưu ban, bỏ học…;15], khắc phục tình trạng học sinh
bỏ học gồm có:
- Trong nhà trường:
+ Điều chỉnh nội dung chương trình giảng dạy.
+ Cải tiến phương pháp dạy sát với đối tượng.
+ Xem lại cách đánh giá.
+ Cung cấp đủ giáo viên.
+ Bồi dưỡng học sinh yếu, kém.
+ Đầu tư hợp lý cho giáo dục.
+ Địa phương cho giáo viên đất, tạo điều kiện vật chất động viên tinh thần.
- Gia đình:
+ Quan tâm đến việc học tập của con cái, quản lý chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho các em.
+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

bỏ học của học sinh trung học phổ thông.
Cũng hiểu theo cách này, biện pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông ở các
trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang được hiểu là cách
làm, cách giải quyết những vấn đề, những công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu khắc
phục bỏ học của học sinh trung học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang.
2.2.4.2. Những nhân tố tác động đến việc bỏ học của học sinh trung học phổ thông
bao gồm các nhân tố sau:
- Về phía xã hội: Trong tiến trình phát triển, bên cạnh những nhân tố tích cực, xã
hội đã có những tác động tiêu cực đến nhà trường và thông qua đó tác động đến học sinh
như ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, xu hướng tự do kinh doanh, tự do làm
giàu không cần trình độ học vấn cao, đời sống giáo viên thấp, sự phân hóa xã hội diễn ra
mạnh mẽ, tình trạng học cao vẫn không có việc làm hoặc không phù hợp với trình độ sản
xuất còn lạc hậu, bệnh duy ý chí vẫn còn trong một số cấp lãnh đạo trong việc đề ra mục
tiêu và chính sách giáo dục.
- Về phía nhà trường: Nhà trường là một bộ phận của xã hội nên phải thích ứng với
sự biến đổi của xã hội từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức tổ chức quản lý
giáo dục. Mặt khác, bản thân quá trình giáo dục cũng chưa mang đậm màu sắc nhân văn,
nội dung giáo dục chưa thiết thực phù hợp với lợi ích người học. Nhà trường trở nên kém
14
hấp dẫn, khiến một số học sinh chán nhà trường và bỏ học.
- Về phía học sinh: Học sinh là một thực thể của xã hội và cũng chịu tác động của
xã hội. Ở đây chỉ xét những ảnh hưởng gần về mặt xã hội như ảnh hưởng của nhóm bạn,
của tập quán, của chuẩn mực vốn có không chính thức, của môi trường, bệnh tật, học lực
kém đã ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị về vấn đề học tập của học sinh.
- Về phía gia đình: Gia đình là xã hội thu nhỏ, môi trường gần gũi của học sinh,
những nhân tố tích cực, tiêu cực hằng ngày, hằng giờ tác động đến học sinh. Nhận thức
hạn hẹp về mục đích học tập, trình độ giáo dục thấp, phương pháp giáo dục của cha mẹ
học sinh không phù hợp với tâm sinh lý của con cái, hoàn cảnh sống, nề nếp gia đình …
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh. Mặt khác sự tác động của xã
hội đến gia đình và thông qua gia đình tác động đến học sinh. Về mặt này có thể kể đến

nắm chắc các nguồn lực về giáo viên, nhân viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.
- Đề ra các biện pháp cụ thể chỉ đạo thực hiện kế hoạch, nâng cao chất lượng dạy
học là nguyên nhân quan trọng khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Nâng cao chất
lượng nhận thức của tập thể về bản chất của phương pháp dạy học và mối quan hệ đúng
đắn giữa dạy và học.
- Tổ chức tốt hoạt động của tập thể sư phạm, đảm bảo cung cấp cho học sinh một
học vấn sâu rộng, giáo dục cho các em niềm tin và trở thành công dân có trình độ văn hóa
cao trong hành vi, phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì
16
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, kinh tế thị trường toàn cầu hóa và hội nhập.
- Chỉ đạo cụ thể hoạt động giảng dạy của giáo viên. Tìm hiểu, khảo sát tình hình
thực tế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên mạnh, yếu như thế nào. Tổ chức
sắp xếp việc phân công chuyên môn một cách hợp lý.
- Quản lý việc học tập và thực hiện nề nếp của học sinh. Chỉ đạo thực hiện phụ đạo
cho học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi. Tăng cường phối hợp với các lực lượng
giáo dục như giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, đoàn thanh niên, nhà trường và gia
đình nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao chất lượng học tập của học sinh kém.
- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đảm bảo cho học sinh
có điều kiện tốt để học tập. Huy động cộng đồng hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất nhà
trường.
- Phối hợp các hoạt động giữa chính quyền, nhà trường với các tổ chức đoàn thể
quần chúng trong tất cả các hoạt động, kêu gọi thành lập quỹ khuyến học để giúp đỡ học
sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh trung học phổ thông nói chung, ở các
trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135 nói riêng là một mục tiêu trước mắt
và lâu dài, có nhiều khó khăn phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố, đòi hỏi nhà quản
lý phải biết năng động, nhạy bén áp dụng các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, các lý luận khoa học… trên cơ sở đó đề ra một hệ thống các biện pháp phù
hợp của từng địa phương để khắc phục được tình trạng bỏ học của học sinh trong điều
kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, chất lượng cuộc sống còn thấp kém.

quản lý và biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. sáng kiến tập trung nghiên
cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh trong học phổ thông và hoạt
động quản lý nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Việc nghiên cứu đầy đủ và có
tính hệ thống của phần lý luận là tiền đề giúp tôi có cơ sở khoa học để nghiên cứu và đề
ra biện pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông khắc phục bỏ học ở các trường trung
học phổ thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang.
3. THỰC TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT THUỘC
CHƯƠNG TRÌNH 135 TỈNH KIÊN GIANG
* Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục của các xã thuộc chương
trình 135 tỉnh Kiên Giang.
Kiên Giang có 15 huyện, thị xã, thành phố với 145 xã, phường, thị trấn thì có tới 03
huyện với 27 xã thuộc chương trình 135 (theo Quyết định 163/2006/QĐ-TTg ngày
11/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm 18,95%.
Trình độ dân trí trong vùng còn thấp. Mặc dù đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ra
quyết định công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ
cập giáo dục trung học cơ sở, nhưng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đền trường ở vùng này
đạt thấp (6 - 10 tuổi đạt 80%, 11 - 14 tuổi đạt 70%). Trong khi đó tỷ lệ học sinh bỏ học
cao, năm học 2010 - 2011, tiểu học 1,24%, THCS 4,10%, THPT 7,32%.
Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng về số lượng, nhưng chất lượng còn nhiều hạn
chế, nhất là trong áp dụng phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học. Nguyên nhân là do những năm 80 đội ngũ giáo viên trong tỉnh thiếu trầm trọng, phải
chọn học sinh có trình độ lớp 5, lớp 9 đào tạo cấp tốc, từ xa…để giảng dạy.
19
Hệ thống trường lớp tuy đáp ứng nhu cầu nhưng đa số là điểm trường lẻ (toàn tỉnh
có hơn 1.700 điểm trường); cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu trang thiết bị dạy và học.
Kinh phí đầu tư cho giáo dục chủ yếu chi lương (phụ cấp giáo viên vùng này là 150% -
đến nay không còn thụ hưởng), chi cho hoạt động thấp, thậm chí chí lương hơn 90% (quy
định của Chính phủ 80% chi lương, 20% chi hoạt động giáo dục).
Chất lượng dạy và học tuy có được các ngành, các cấp quan tâm nhưng vẫn còn
chênh lệch và thấp so với các vùng khác. Sự bất đồng về ngôn ngữ giữ thầy cô giáo với

STT TÊN TRƯỜNG TS học sinh Khối 10 Khối 11 Khối 12
1 THPT Vĩnh Thuận 1934 800 579 555
2 THPT U Minh Thương 831 339 274 218
3 Trường THPT Thoại Ngọc Hầu 402 157 128 117
Tổng cộng 3167 1296 981 890
Biểu 3: Số lượng học sinh các trường giữa năm học 2011 - 2012
21
STT TÊN TRƯỜNG TS học sinh Khối 10 Khối 11 Khối 12
1 THPT Vĩnh Thuận 1917 806 596 518
2 THPT U Minh Thương 709 285 235 189
3 Trường THPT Thoại Ngọc Hầu 384 152 126 106
Tổng cộng 3010 1243 957 813
Qua thống kê biểu 1, 2 và 3 cho thấy số lượng học sinh vào trường đầu cấp học, tức
là học sinh khối lớp 10 giảm ở từng năm học. Năm học 2009 - 2010 có 1.373 học sinh
khối lớp 10, đến năm học 2010 - 2011 có 1.296 em và năm học 2011 - 2012 có 1.243 em.
Sĩ số học sinh lớp 11 và 12 cũng có biến động theo chiều hướng giảm nhiều qua từng
năm học.
So sánh số liệu ở 3 biểu 1, 2 và 3 có thể thấy rõ sĩ số học sinh ở các lớp đầu cấp và
lớp cuối cấp giảm nhiều, đáng kể ở lớp 11 và 12. Năm học 2009 - 2010 có 1.373 học sinh
học lớp 10 nhưng đến năm học 2010 - 2011 chỉ có 981 học sinh trong số này học tiếp lớp
11, tức là có tới 392 học sinh bỏ học hoặc lưu ban và ở năm học 2011 - 2012 chỉ có 813
học sinh học đến lớp 12, nghĩa là có đến 168 học sinh lưu ban hoặc bỏ học. Tình trạng học
sinh bỏ học ngày càng nhiều đang là nỗi lo cho ngành giáo dục và các đơn vị trường học.
Đa số học sinh bỏ học là người dân tộc thiểu số và những em có học lực quá yếu kém.
* Thực trạng về các nguyên nhân bỏ học
Để khảo sát nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học ở ba trường trung học
phổ thông chúng tôi đã tiến hành khảo sát 800 học sinh trong đó có 400 học sinh trường
THPT Vĩnh Thuận, 220 học sinh trường THPT U Minh Thượng và 180 học sinh trường
THPT Thoại Ngọc Hầu. Trong tổng số 800 phiếu khảo sát có 405 học sinh khối lớp 10,
22

sinh bỏ học là do tai nạn rủi ro, sức khoẻ yếu, do gia đình không hoà thuận, quan trọng
hơn là do thầy dạy khó hiểu, không hứng thú và do thầy cô chưa quan tâm đến năng lực
và hoàn cảnh của từng học sinh.
* Đánh giá thực trạng quản lý ở các trường trung học phổ thông thuộc chương
trình 135 tỉnh Kiên Giang nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học
Qua kết quả nghiên cứu các biện pháp quản lý học sinh THPT nhằm khắc phục tình
trạng học sinh bỏ học và căn cứ vào thực tiễn, cho thấy cán bộ quản lý đã nhận thức được
nhiệm vụ quan trọng và vai trò then chốt của nhà trường trong việc khắc phục tình trạng
học sinh bỏ học. Từ nhận thức đó, các cán bộ quản lý đã xây dựng một hệ thống biện
pháp quản lý cụ thể và tập trung chỉ đạo thực hiện.
Với mỗi nội dung quản lý nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, đã chú ý
xây dựng một số biện pháp cụ thể để chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình chỉ
đạo, với mỗi nội dung quản lý có những biện pháp thực hiện tốt, có những nội dung thực
hiện chưa tốt, kết quả chưa cao. Có thể khái quát việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ
học hiện có những thuận lợi và khó khăn sau:
- Những thuận lợi:
Nhận thức trong ngành và các lực lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo dục và đào
tạo đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận các ban
ngành đoàn thể và nhân dân ngày càng quan tâm hơn việc phối hợp với ngành giáo dục
24
chăm lo, củng cố, nâng cấp trường lớp, phát triển giáo dục, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo ở địa phương. Những năm gần đây đã có sự hỗ trợ tổ chức, chỉ
đạo, quan tâm đến chất lượng giáo dục và việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học cả
vật chất lẫn tinh thần. Chủ trương đó được thể hiện qua Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày
17/4/2007 của Tỉnh ủy Kiên Giang về việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2015, Kế hoạch số 42/KH-UBND ngày 19/7/2007 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy.
Tốc độ phát triển như vũ bão của nền kinh tế trong thời gian qua đã có nhiều ảnh
hưởng đến các mặt khác của xã hội như chính trị, văn hóa, giáo dục. Thị trường lao động
ngày càng đòi hỏi trình độ cao đối với người lao động, đòi hỏi mỗi cá nhân đều phải nỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status