MỤC LỤC
Tên mục
Mục lục
I
1
2
3
4
II
1
2
3
4
III
1
2
Nội dung
Mở đầu
Lí do chọn đề tài:
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
Các giải pháp
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận, kiến nghị.
tin và hứng thú trong tiết học. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có
thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn
thành được năng lực giao tiếp của mình.
Với đối tượng học sinh yếu ở lớp Một - Lớp đầu cấp, việc dạy cho các em
biết đọc thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ở lớp Một thì khi
học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn. Đặc
điểm của việc dạy tập đọc lớp Một chính là bước chuyển tiếp từ dạy học vần
sang dạy tập đọc. Vì vậy học vần có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình
tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần quan học mở
đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh
được một công cụ giao tiếp quan trọng: Chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính
là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp
trên.
Tiết tập đọc ở lớp Một vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương
pháp tập đọc. Yêu cầu của tiết tập đọc lớp Một là củng cố hệ thống âm vần đã
đọc nhất là các vần khó đọc đúng tiếng, liền tiếng trong từ, trong câu, đoạn, bài.
Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết đọc diễn cảm. Đó là việc rất khó
nhất là đối với đối tượng học sinh yếu phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên
sau, mà lại ở vùng nông thôn như xã Hà Yên. Để làm tốt được những nhiệm vụ
nêu trên tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh yếu lớp 1”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này chỉ ra : Các biện pháp để giúp học sinh yếu lớp Một đọc
thông, đọc không sai.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp rèn đọc cho học sinh yếu lớp 1 ở trường Tiểu học Hà Yên – Hà
Trung.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong qua trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
a. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
Là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm
Bước vào lớp Một là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của
các em. Kỹ năng đọc của học sinh lớp Một cũng là sự phản hồi của kết quả tiếp
thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con
chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với
vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn
ngắn, một bài thơ ngắn … vv
Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc
câu còn yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chính xác. Vì nếu các em
phát âm chuẩn đọc đúng các em sẽ viết đúng, bài chính tả sai ít lỗi, và các em sẽ
hiểu được ý của tiếng, từ, câu, bài mà các em viết.
Một trong những lý do dễ thấy là vì các em còn quá nhỏ, chưa ý thức tự
giác, cố gắng trong học tập. Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm
tâm lý, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học
sinh. Từ đó sử dụng phương pháp dạy phù hợp sao cho các em luôn cảm thấy
nhẹ nhàng, vui tươi các em sẽ thích học.
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Qua quan sát và nghiên cứu ở lớp Một tôi thấy hầu hết các em học sinh
yếu không đọc được bài là do khả năng tiếp thu của các em chậm, không nhớ
các âm hai, ba con chữ dẫn đến không ghép được tiếng, từ. Qua tìm hiểu thực tế
ở lớp và ở gia đình, tôi nhận định nguyên nhân dẫn đến tình hình trên là do:
a. Đối với học sinh.
Cùng vào lớp Một nhưng mức độ chuẩn bị tâm thế của mỗi trẻ đều khác
nhau, một số trẻ đã qua môi trường mẫu giáo đã được làm quen với môi trường
học tập, số khác đăc biệt với những gia đình khó khăn thì các em chưa được
chuẩn bị gì, hoàn toàn xa lạ với trường lớp, với hoạt động học tập.
Một số học sinh do học trước chương trình nên cảm thấy chán nản, không
hứng thú khi đến lớp. Nhưng đến lúc bạn bè bắt nhịp với mình thì các em không
theo kịp vì chủ quan, ỷ lại.
Được vào lớp Một, trẻ nhận được sự trợ giúp cũng khác nhau từ phía gia
đình, người thân.
12
37,5
Chưa hoàn thành
SL
%
20
62,5
Trên đây là bảng khảo sát chất lượng trước khi nghiên cứu, số em hoàn
thành là 12 em, chưa hoàn thành là 20 em. Tỉ lệ học sinh hoàn thành là quá thấp,
nếu tỉ lệ như vậy sẽ không đúng với yêu cầu trường chuẩn Quốc gia mức độ 2.
Từ thực trạng tôi đã nêu trên, để giúp học sinh đọc tốt hơn, tôi đã đưa ra
một số kinh nghiệm "Biện pháp rèn đọc cho học sinh yếu lớp 1."
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc tôi đã áp dụng
những giải pháp sau:
* Giải pháp 1: Giáo viên xác định được yêu cầu chung của môn học
Mục tiêu của môn Tiếng Việt đặt ra là hoàn thành và phát triển ở học sinh
kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe - Nói - Đọc - Viết) để học sinh tập giao tiếp
trong các môi trường họat động của lứa tuổi. Ngoài ra còn hình thành và phát
triển những phẩm chất như tính chính xác, tỷ mỉ, cẩn thận, chu đáo, tính kỷ luật,
tiết kiệm, yêu lao động và tính sáng tạo... Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, biết
giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Học hết lớp 1, các em phải đạt yêu cầu
sau:
a. Về kỹ năng đọc thành tiếng.
- Đọc thông thạo và tốc độ cần đạt là khoảng 30 tiếng/1 phút
nắn.
Nắm vững trình độ học sinh trong lớp mình theo các mức giỏi, khá, trung
bình, yếu. Đối với các học sinh yếu, các em chưa nhìn được mặt chữ cái hoặc
chưa biết đủ 29 chữ cái, tôi dành nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng
này, ôn và dạy lại 29 chữ cái cơ bản cho các em bắt đầu học lại những nét cơ
bản.
* Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh nắm vững các nét cơ bản.
Tôi dạy thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Để cho học sinh dễ
hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo các nét có tên gọi và cấu tạo gần
giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào các
nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình
dáng cấu tạo giống nhau.
VD: Các nét chữ cơ bản và tên gọi:
Nét sổ thẳng
Nét ngang
Nhóm 1
\ Nét xiên phải
/ Nét xiên trái
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Nét móc trên
Nét móc dưới
Nét móc hai đầu
Nét cong hở phải
Nét cong hở trái
Nét cong kín
Nét khuyết trên
Giáo viên hướng dẫn học từng thao tác.
- Thao tác 1: Đọc phân tích tiếng có thanh ngang.
bê
b ê
Muốn đánh vần được tiếng đó, phải tách tiếng ra 2 phần (giáo viên vẽ
mũi tên xuống, vạch ở giữa để chia 2 phần mô hình)
Nhập lại và phát âm thành tiếng (vẽ mũi tên ngược lại)
Hướng dẫn cho học sinh: Để đọc được tiếng trong mô hình các em tưởng
tượng trong đầu là tách nó ra hai phần, sau đó ghép hai phần lại thì được cả tiếng
(chỉ trên mô hình cho học sinh nhìn thấy). Chỉ vào mô hình đánh vần bờ - ê - bê.
Thao tác hai: Đọc thành tiếng có các thanh khác.
+ Giáo viên vẽ mô hình:
+ Hướng dẫn cho học sinh: Các em tách tiếng có thanh ngang và dấu
thanh ra, sau đó thực hiện các thao tác tương tự, khi tổng hợp lại nhập dấu thanh
để tạo thành tiếng, nếu không sẽ trở thành tiếng có thanh ngang.
+ Giáo viên ghi vào mô hình một số tiếng cho học sinh đọc.
T: bà
HS: ba huyền bà
T: Bán
HS: ban sắc
bán
T: kẽ
HS: ke ngã
kẽ
Tóm lại giáo viên phải giúp học sinh khắc sâu ba thao tác:
- Em nhìn cả chữ đó (Chỉ vào chữ trên mô hình)
- Em tách tiếng ra hai phần (lưu ý học sinh phân tích thầm trong đầu)
7
+ Âm b: Gồm 2 nét: Nét cong kín nằm ở bên phải, nét sổ thẳng nằm ở
bên trái
Đọc là : “bờ”.
Khi đọc “bờ”: môi ngậm lại, bật hơi ra, có tiếng thanh.
Học sinh tìm thêm những tiếng phát âm có “ bờ” rồi tôi hướng dẫn các em đọc
những tiếng vừa tìm được như: bê, bò, bẻ..
Sang phần âm ghép ( chữ có hai âm ghép lại với nhau). Tôi cho học sinh
sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sự giống nhau
và khác nhau của các âm đó.
Ví dụ:
+ Các âm ghép: ch, nh, th, kh, gh, ph, ngh.
+ Còn lại các âm : gi, tr, qu, ng tôi cho học kỹ về cấu tạo của từng âm.
+ Đọc: cờ-ê-kê (tiếng kê)/viết ka-ê-kê (chữ kê), nhắc HS: âm cờ được
ghi bằng con chữ ka
8
+ Đọc: cờ-oa- qua (tiếng qua)/viết cu-ua- qua (chữ qua), nhắc HS: âm cờ
được ghi bằng con chữ cu.
Kết hợp với các dấu thanh để có các tiếng tương tự.
Khi đọc các câu, từ (trong phần đọc ứng dụng) phải đọc trơn (Mẹ à, Dì
Hà chả kể gì cả), không đánh vần từng tiếng, nếu học sinh không đọc được là do
học phần trước không kỹ, phải quay về các thao tác như những bài đầu.
Khi dạy, bắt buộc giáo viên phải phát âm chuẩn, dùng từ chuẩn, khi nói:
các em đọc âm…, vần…, tiếng…/ các em viết con chữ…, viết
chữ…; âm cờ được ghi bằng con chữ cờ (c),con chữ ka (k), con chữ cu (q); đánh
vần: cờ -a-ca; cờ- e- ke; cờ- ua- cua; cờ-oa- qua…
+ Phân từng cặp: ch - tr, ng - ngh, c - k, g - gh để học sinh phát âm chính
xác.
Hầu hết số học sinh yếu trong lớp không nhớ được cách đọc của những
9
Khi dạy các vần đầu tiên có liên quan đến cách sắp xếp này; giáo viên
giới thiệu và luyện cho học sinh nhận biết các vần theo kiểu nguyên âm tròn môi
(o; u;ơ) và không tròn môi (i; e; ê; ơ; ư; a) như vậy học sinh nắm bắt được: đọc
những tiếng chứa vần có âm đệm phải đọc tròn môi. Những kiến thức cơ bản ấy
giúp cho các em biết được từ các vần không có âm đệm, nếu chỉ đọc tròn môi
vần đó sẽ (thêm âm đệm) tạo ra từ mới.
Ví dụ: i (không tròn môi); đọc tròn môi ta được vần mới: uy.
Hay an (không tròn môi) - Đọc tròn môi ta được vần mới: oan.
Cứ tiếp tục làm theo mẫu trên học sinh sẽ tự mình tạo các vần mới một
cách chính xác và thành thạo. Từ đó, giúp các em phát âm cũng chính xác các
tiếng có vần vừa đưa ra.
Sang kiểu vần có nguyên âm đôi; chương trình mới không đề cập tới việc
giới thiệu các vần này nhưng tôi nghĩ rằng giới thiệu cho các em biết các nguyên
âm đôi là rất cần thiết và cũng phù hợp với khả năng tiếp thu của các em. Qua
các bài học vần có liên quan đến các nguyên âm đôi, tôi đã giới thiệu cho học
sinh nhận biết ba nguyên âm đôi (iê; uơ; ươ) là: mỗi nguyên âm đều mang tính
chất của hai âm đơn.
Ví dụ: Nguyên âm đôi sẽ mang tính chất của i và ê.
Chính vì các nguyên âm đôi này mang tính chất của cả hai con chữ nên
khi đọc các em đọc liền nhau không tách rời, độ cao của hai con chữ trong
nguyên âm bằng nhau; ta không nhấn mạnh con chữ nào, vì nếu nhấn mạnh thì
đọc các tiếng sẽ bị sai.
Ví dụ: Tiếng hiên nếu đọc nhấn mạnh i thì sẽ trở thành tiếng hin, nếu
nhấn mạnh ê thì sẽ trở thành tiếng hên.
Để giúp các em đọc đúng hơn, việc chú ý đến cách phân biệt vần là việc
mà mỗi giáo viên nên làm ngay trong mỗi tiết dạy.
Ví dụ: Dạy vần oan thì giáo viên đưa ra vần an để học sinh so sánh; giáo
Ngoài ra trong mỗi tiết học tôi luôn cho học sinh so sánh vần đã học với
vần hôm nay học để củng cố thêm .
Ví dụ: Dạy vần “ao” cho học sinh so sánh với vần au, từ đây học sinh tìm
ra âm giống nhau âm nào, khác nhau âm nào? Rồi so sánh cả hai vần trong bài
học : ao / au. Từ đây giúp các em có kỹ năng so sánh đối chiếu và khắc sâu các
vần trong phân môn Học vần .
* Giải pháp 6: Hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng đọc tiếng trong phần tập
đọc.
Sau khi học xong phần học vần, các em chuyển sang một giai đoạn mới
đó là việc luyện đọc các bài văn, bài thơ dài hơn và với yêu cầu kỹ năng đọc
cũng cao hơn đó là đọc đúng, nhanh và đọc hiểu, bước đầu đọc diễn cảm. Ở giai
đoạn này việc rèn cho học sinh đọc đúng cũng rất quan trọng, bởi vì các em đọc
sai thì không hiểu rõ được ý của câu, đoạn và cả bài văn, bài thơ như thế nào để
trả lời câu hỏi tìm hiểu bài. Để phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh
tôi cho các em tiếp cận văn bản và tự tìm được các tiếng, từ mà mình hay nhầm
lẫn hoặc sai khi đọc để gạch chân các tiếng. Từ đó ngay trong bài đọc (thay cho
việc ghi sẵn các từ đã cho trong sách giáo khoa), giáo viên chép lên bảng cho
học sinh đọc phân tích (nếu cần) và luyện đọc nhiều lần các tiếng từ đó. Làm
như vậy sẽ giúp học sinh khắc sâu, ghi nhớ cách đọc và đọc đúng toàn bộ bài
đọc. Việc luyện đọc đóng góp phần không nhỏ trong việc rèn đọc cho học sinh.
Đây là giai đoạn giúp các em củng cố và phát triển những năng lực về ngôn ngữ,
tư duy, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để các em đọc nhanh hơn, tốt hơn. Đồng thời
qua những bài văn bài thơ này, các em sẽ có thêm những hiểu biết về cuộc sống
xung quanh, thiên nhiên, đất nước, con người có thêm những cảm xúc để đọc
hay một bài văn
Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh yếu các em nhận biết còn
chậm, chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm dẫn đến đọc từ và đọc
câu rất khó khăn. Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc tôi dành
nhiều cơ hội cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều. Tôi
cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại
sinh mới đạt hiệu quả.
Mặt khác, việc kết hợp với phụ huynh học sinh để sửa lỗi cho các em là
rất cần thiết như: Thông báo và hướng dẫn phụ huynh cách sửa lỗi phát âm cho
các em thường xuyên để các em nhanh tiến bộ. Với cách làm này, dần dần các
em mắc lỗi này trong lớp đã tiến bộ rõ rệt.
b. Sửa lỗi do tiếng địa phương
Hà Yên là vùng nông thôn, vì vậy phụ huynh học sinh của lớp là những
người nói tiếng địa phương. Đó cũng chính là một phần nguyên nhân học sịnh
phát âm sai lỗi do tiếng địa phương, vì các em nói theo bố mẹ (Như em Dũng,
Hải, Đăng).
Nhiều người cho rằng: lỗi do tiếng địa phương rất khó sửa, nhưng qua
nhiều năm giảng dạy và tiếp xúc với học sinh hằng ngày, tôi thấy rằng việc sửa
lỗi này cho các em không phải là khó, mà cái khó nhất là hình thành cho các em
thói quen dùng đúng tiếng phổ thông ngay từ khi vào lớp 1. Nếu các em nói sai
thì việc viết sai lỗi chính tả là điều khó tránh khỏi. Hầu hết học sinh trong lớp tôi
phát âm sai s - x; ch - tr; r - d. Vậy làm thế nào để học sinh phân biệt dược khi
gặp các âm này? Ngay từ ngày đầu tiên dạy các âm mới tôi chú trọng luyện cho
12
các phát âm thật chuẩn và có sự so sánh phân biệt giữa các âm, các tiếng từ
trong khi sử dụng thông thường.
Ví dụ: Âm s khi phát âm lưỡi hơi cong lên và cuộn vào trong, âm x phát
âm lưỡi thẳng và đẩy hơi ra ngoài. Hay trong từ xinh - sinh thì các em phải phân
biệt khi nào thì dùng từ sinh (sinh nở, sinh sôi, học sinh...); khi nào thì dùng từ
xinh (xinh xắn, xinh xinh, xinh xẻo...). Để giúp các em phát âm đúng hơn, giáo
viên thường xuyên cho học sinh luyện đọc các tiếng có các chữ cái khác mà các
em hay đọc sai ở giờ tập đọc, cho học sinh khác nhận xét cách đọc và phát âm
của bạn để tất cả các em có thể nhận ra những lời mà mình còn mắc phải. Đồng
thời sửa cho các em ngay trong giao tiếp và trong các môn học khác. Việc giảng
tập. Trên lớp phân công học sinh khá giỏi kèm cặp và kết hợp với chia nhóm học
tập, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm giúp đỡ, thi đua nhau học tập
tiến bộ. Làm như vậy giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập.
13
Cũng như sửa lỗi chưa thuộc hết âm, giáo viên kết hợp với phụ huynh học
sinh dạy các em học thuộc các âm bằng cách thường xuyên liên lạc, trao đổi với
phụ huynh về tình hình học tập của em đó, đồng thời hướng dẫn, đề nghị phụ
huynh kèm con em mình ở nhà để các em không quên âm đã học.
Từ những cố gắng, sự tủ mỉ và công phu của giáo viên, đến nay số học
sinh đọc chậm, hay quên các âm, vần (Thắng, Tiến, Long) đã tiến bộ rõ rêt, các
em đọc bài đã đúng, nhanh và có diễn cảm.
* Giải pháp 8: Rèn đọc ở các môn học khác và ở sách báo ngoài chương
trình
a. Rèn đọc ở các môn học khác
Kỹ năng đọc của các em được hình thành, rèn luyện trước tiên là trong tiết
học vần, tập đọc. Song cũng được củng cố và hoàn thiện trong nhiều giờ học của
các môn học khác. Vì vậy giáo viên cần tận dụng việc yêu cầu học sinh đọc đề
bài, đọc yêu cầu của các bài tập để hướng dẫn khuyến khích các em đọc thông
thạo hơn. Ví dụ: Đọc đề bài của bài toán giải, tôi yêu cầu đọc thầm, sau đó cho
các em khá đọc -> học sinh trung bình -> học sinh yếu đọc, đồng thời nêu yêu
cầu các em trả lời câu hỏi. Việc làm trên không chỉ thực hiện ở môn toán mà trên
tất cả các môn học. Như vậy, việc kết hợp dạy đọc không ảnh hưởng đến giờ dạy
các môn khác mà còn giúp học sinh tốt hơn các môn học khác. Đây cũng chính
là rèn cho mỗi học sinh thói quen tự học, tự tìm hiểu không chờ người khác
đọc...
b. Rèn đọc cho các bài đọc ngoài chương trình
Trong các tiết tự học, sau khi các em hoàn thành bài trong ngày, còn thời
gian giáo viên đưa đoạn văn, bài thơ hoặc cả bài văn ngắn đã sưu tầm ở báo chí,
học kỳ.
Kèm cặp tăng buổi, khen thưởng, động viên kịp thời dù là tiến bộ nhỏ
nhất nhằm tạo hứng thú cho các em trong học tập.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện những kinh nghiệm trên tại lớp 1A
tôi nhận thấy bản thân đã có một số kinh nghiệm thật bổ ích, áp dụng tốt trong
việc dạy học của tôi nói riêng và của giáo viên dạy lớp 1 nói chung. Đồng thời
kết quả đó đã góp phần nâng cao chất dạy và học của nhà trường. Giúp các em
tự tin hơn trong học tập và giao tiếp đặc biệt là giúp các em học tốt được các
môn học khác. Hầu hết các em đã đọc đúng, đọc lưu loát các từ, câu văn dài và
đọc thông viết thạo đạt mục tiêu đề ra. Kết quả khảo sát đạt được như sau:
32
Số HS được
đánh giá
32
32
32
32
32
Sĩ số lớp
Các lần
đánh giá
32
100%
Không chỉ dừng lại ở kết quả các lần kiểm tra đọc bài của học sinh mà tôi
nhận thấy ở mỗi giờ học Tiếng Việt học sinh không thấy nhàm chán, đơn điệu
mà trở nên hứng thú, sôi nổi, bởi các em được hoạt động, được chủ động, được
phát huy khả năng học tập, được thi đua cùng bạn bè qua các trò chơi học tập,
các em hiểu được nội dung các đoạn văn, có em hiểu được nội dung cả một câu
chuyện nên các em thấy hứng thú và thích đọc nhiều hơn.
15
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Căn cứ vào những kết quả thu được ở trên tôi nhận thấy việc áp dụng một
số biện pháp tôi đã trình bày vào việc rèn đọc cho đối tượng học sinh yếu thực
sự mang lại hiệu quả. Tôi mong muốn rằng sáng kiến kinh nghiệm này sẽ được
ứng dụng trong nhà trường và trong toàn huyện để góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học cho học sinh lớp Một.
2. Kiến nghị:
a) Đối với giáo viên :
Để thực hiện có hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm này yêu cầu giáo viên
cần nắm vững những nguyên nhân học sinh còn đọc yếu, giúp học sinh ôn tập
củng cố, nắm chắc cấu trúc âm, vần Tiếng Việt và phụ đạo ngay từ đầu năm.
Tạo điều kiện để học sinh yếu được đọc nhiều hơn so với các học sinh
khác, kết hợp vận dụng một số phương pháp và hình thức phù hợp với từng học
sinh, sửa sai tỉ mỉ và kịp thời, động viên khuyến khích các em dù là tiến bộ rất
Xác nhận của Hiệu trưởng
Hà Yên, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép của người
khác
Người viết :
Đi
nh Thị Thương
17
Tài liệu tham khảo:
Trong quá trình nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã sử dụng một số tài
liệu sau:
- Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 tập 1, và tập 2.
- Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 1.
- Tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 1.
- Một số thông tin trên thông tin đại chúng.
18
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
1.
Rèn kĩ năng viết chính tả cho
2.
học sinh lớp 3
Rèn chữ viết cho học sinh lớp Huyện
C
2002- 2003
3.
1
Nâng cao chất lượng giải toán Huyện
C
2013-2014
4.
cho học sinh lớp 4
Giáo dục kĩ năng sống cho
Huyện