Một số kinh nghiệm luyện đọc góp phần rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3 - Pdf 43

MỤC LỤC

TT MỤC

NỘI DUNG
MỞ ĐẦU.

TRANG

1

1

2

1.1

Lý do chọn đề tài

1

3

1.2

Mục đích nghiên cứu

2

4


Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

2

9

2.2

Thực trạng của việc rèn đọc cho HS lớp
3C

3

10

2.3

Các sáng kiến kinh nghiệm

4

11

2.4

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

4

12



1. MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong chương trình giáo dục Tiểu học, bộ môn tiếng Việt chiếm một vị trí
rất quan trọng. Học tốt bộ môn này là điều kiện cần để các em có thể tiếp thu
nhanh hơn các môn còn lại.
Vậy nhiệm vụ đặt ra để cả thầy và trò cùng hoàn thành tốt việc dạy và học
đối với bộ môn này là gì? Trong các giờ Tập đọc, học thuộc lòng, học sinh biết
đọc diễn cảm bài văn, bài thơ sẽ tạo cho các em hứng thú, say mê và khắc sâu
một vốn văn học đáng kể cho các em. Cũng thông qua các bài văn, bài thơ, học
sinh được hiểu thêm các vùng miền của Đất nước, hiểu được công sức của các
tầng lớp nhân dân đã xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc ta tươi đẹp như ngày hôm
nay, hiểu được các truyền thống quý báu của dân tộc. Mặt khác, nó còn có tác
dụng giúp các em hiểu được cái đúng, cái đẹp, cái tinh tế của nghệ thuật ngôn
từ. Học đọc, các em đồng thời học cách nói, cách viết một cách chính xác, trong
sáng, góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện cách suy nghĩ, diễn đạt. Dạy tập
đọc không những rèn kỹ năng đọc mà còn phát triển ở các em vốn từ ngữ tiếng
Việt phong phú.
Ở bậc Tiểu học nói chung, lớp 3 nói riêng, phân môn Tập đọc có ba yêu
cầu chính: - Rèn kỹ năng đọc đúng.
- Rèn kỹ năng đọc hiểu( trả câu lời hỏi).
- Rèn kỹ năng đọc diễn cảm.
Học môn Tập đọc, việc đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là có quan hệ
mật thiết với nhau, gắn bó, hỗ trợ đắc lực cho nhau. Cảm thụ tốt sẽ giúp cho việc
đọc hay được tốt. Ngược lại, việc đọc hay giúp cho việc cảm thụ bài văn thêm
sâu sắc.
Thật vậy, học sinh có đọc thông thạo và trên cơ sở đã hiểu nội dung câu
thơ, câu văn, đoạn thơ, đoạn văn thì các em mới thể hiện cảm xúc, có nghĩa là đã

Đối tượng tôi chọn để nghiên cứu là học sinh lớp 3C trường Tiểu học
Xuân Du. Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã chọn nội dung chương trình một số
bài dạy trong sách TV3 để làm minh chứng cụ thể nhằm giúp các em học tốt hơn
ở bộ môn tiếng Việt.
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Qua một quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra, phương pháp đối chứng và
phương pháp khái quát hoá. Có thể nói ở đây, phương pháp điều tra không chỉ
dừng lại ở việc điều tra thực trạng mà phải điều tra từng giai đoạn trong suốt
năm học. Ở mỗi giai đoạn, tôi đều lấy kết quả đã đạt được để đối chứng với kết
quả của giai đoạn trước. Cuối cùng, tôi đã tổng hợp số liệu và rút ra bài học kinh
nghiệm.
1.5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Khi đứng trên bục giảng, tôi đam mê tất cả các môn học ở Tiểu học. Tuy
nhiên, môn học mà tôi muốn nghiên cứu nhiều hơn cả là bộ môn tiếng Việt.
Năm học 2011-2012 ; 2013-2014, tôi đã viết về đề tài này và được phòng GDĐT Như Thanh xếp loại C cấp huyện. Trong năm học này, tôi vẫn tâm huyết với
đề tài này nên tiếp tục nghiên cứu. Trong những năm học trước, tôi nhận thấy
một số biện pháp tôi đưa ra đã có hiệu quả tuy nhiên chưa cao. Chính vì vậy tôi
đã đưa ra 1 số biện pháp mới, hy vọng sẽ đem lại kết quả cao hơn, góp phần
giúp các em học tốt hơn ở bộ môn tiếng Việt.

3


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin

luyện tập và thi đọc tốt một, hai đoạn hoặc cả bài; đọc truyện theo vai, tổ chức
Ghi chú: Trong trang này phần (1) Trích Tài liệu bồi dưỡng các môn học lớp 3- Tập
hai- Nhà xuất bản GD- 2004

4


trò chơi học tập có tác dụng luyện đọc và bước đầu hướng dẫn học sinh đọc diễn
cảm. Nhưng nếu ta xem thường việc đọc diễn cảm thì có lẽ giờ học tập đọc sẽ
giảm đi khá nhiều hứng thú.
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3C.

1.Thực trạng:
Lớp 3C tôi dạy có tổng số học sinh là 22 em. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến
hành khảo sát chất lượng đọc của học sinh lớp và thu được kết quả như sau:
Tổng số học
sinh

Đọc nhỏ, ấp úng

Đọc to, rõ, lưu loát

Đọc diễn cảm

22 em

9 em

10 em




*Đối với trường hợp sai do chưa phân biệt được tiếng có thanh hỏi/
thanh ngã:
Ví dụ:

Gió thổi (thỗi) từng cơn lạnh buốt. Đã hơn một tuần nay, Lan thấy

Hoà có chiếc áo len màu vàng thật đẹp. áo có dây kéo ở (ỡ) giữa (giửa), lại có
cả (cã) mũ (mủ) để (đễ) đội khi có gió lạnh hoặc mưa lất phất. Lan đã (đả) mặc
thử (thữ), ấm ơi là ấm....
(Chiếc áo len - Tiếng Việt 3 – tập 1- trang 20)
Trường hợp sai về thanh hỏi/ thanh ngã, tôi hướng dẫn các em: Khi đọc
tiếng có thanh hỏi, các em cần đọc thấp giọng hơn, nhẹ nhàng hơn. Còn khi đọc
tiếng có thanh ngã, các em cần hơi cao giọng một chút. Với những từ ngữ có
thanh hỏi và thanh ngã đi liền nhau (ở giữa; lại có cả mũ để đội...;...) thì các em
càng dễ mắc, càng cố đọc thì lại càng sai, có khi đọc đúng được tiếng này thì
tiếng kia lại sai. Đối với những trường hợp như thế này, tôi tách nhỏ từng tiếng
độc lập ra để luyện cho các em đọc đúng: ở; giữa; cả; mũ; để, sau đó mới ghép
lại nguyên từ ngữ (ở giữa; lại có cả mũ để đội...; ...) để các em đọc.
*Bên cạnh việc sửa lỗi đọc sai thanh hỏi/ thanh ngã thì việc sửa lỗi đọc
sai những tiếng có âm đôi iê; uô; ươ cũng rất cần thiết. Đây là lỗi thứ hai sau
lỗi về thanh hỏi/ thanh ngã mà các em hay mắc trong khi đọc. Có lẽ do bản chất
phương ngữ nên cách nói thường ngày đã ảnh hưởng không ít đến việc rèn đọc
cho các em.
Ví dụ:
- Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học, tôi đã may mắn có ông ngoạithầy giáo đầu tiên của tôi.
(Ông ngoại - Tiếng Việt 3 – Tập 1)

(2)

mà chưa hiểu được nghĩa của tiếng mình đọc. Ví dụ: “Sản xuất” đọc là “xản
xuất”; “trình bày” đọc là “trình bầy”; “cảm ơn” đọc là “cám ơn”;...
Để khắc phục lỗi phát âm trên, giáo viên phải nhắc nhở học sinh tập trung
chú ý vào bài đọc trong sách giáo khoa, không đọc tuỳ tiện theo thói quen. Nếu
học sinh nào đọc sai, cần cho chính học sinh đó sửa ngay lại, tránh tình trạng
giáo viên chỉ nêu cái sai nhưng không yêu cầu học sinh sửa lại. Đồng thời, giáo
viên cũng cần cho học sinh tìm hiểu nghĩa của các từ mà các em vừa sửa cho
đúng, như vậy học sinh sẽ nhớ lâu hơn, ít mắc lỗi lại.
Ví dụ: “Bày tỏ” khác với ‘bầy tỏ”. Vì :
“Bầy” dùng để chỉ nhiều động vật cùng loại, cùng sống với nhau như: bầy
thú; bầy chim,...
“Bày tỏ” là biểu lộ một điều gì đó.
Như vậy, “bầy tỏ” sẽ không có nghĩa nên không thể đọc là “bầy tỏ” được.
Có thể nói những cách đọc trên là do ảnh hưởng theo cách nói địa
phương. Nhiều em, khi đọc đúng và muốn thể hiện mình thì còn bị bạn bè cho
là “điệu”. Trong trường hợp này, giáo viên cần nghiêm khắc phê bình và cần
phân tích cho các em hiểu ý nghĩa của việc đọc đúng sẽ giúp các em hiểu đúng
và viết đúng. Bên cạnh đó, cần cho học sinh đọc các câu trong bài đọc có chứa
các từ đúng để học sinh đọc đúng. Nhắc các em không được đọc theo thói quen
nói tiếng địa phương, từ đó để các em có ý thức đọc đúng tốt hơn.
- Luyện đọc văn xuôi (câu văn dài); ngắt nhịp thơ:
*Đối với những câu văn dài:
Giờ Tập đọc phải hướng các em đến giáo dục lòng yêu Tiếng Việt bằng
cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự
phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Khi đọc các bài văn xuôi,
chỗ ngắt giọng cần phải phù hợp với ranh giới của quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa.
Nếu ngắt giọng sai cũng tức là đã hiểu sai nội dung văn bản. Đọc sai chỗ ngắt
giọng chính là phản ánh một cách hiểu sai về nghĩa, đọc mà không để ý đến
7


đến trường.
(Ông ngoại- TV 3 – Tập 1) (2)
- Nếu ngắt giọng sai: “Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân trên/ chiếc xe
đạp cũ, đèo tôi đến trường.//” thì nội dung của câu văn sẽ là: Chiếc xe đạp cũ ấy
đã đưa tôi đến trường.
Nội dung câu này ngắt đúng như sau: “Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân
trên chiếc xe đạp cũ,// đèo tôi đến trường.//” và nội dung đúng của câu văn lúc
này sẽ là: Ông đưa tôi đến trường bằng chiếc xe đạp cũ.
Để luyện đọc câu văn dài cho học sinh, ngoài việc ngắt giọng phù hợp,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu cách đọc: khi gặp dấu phẩy, các em có
thói quen ngắt giọng trong mỗi bài đọc.
* Đối với việc ngắt nhịp thơ:
- Nhịp, vần là những yếu tố tạo nên cái hay, cái đặc sắc, cái nhạc điệu của
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1,2- Nhà
xuất bản GDVN

8


thơ ca. Khi đọc thơ, cần chú ý đến đặc trưng này. Cần chú ý đọc ngắt nhịp thơ
phải tương ứng với chỗ kết thúc một ý dài hay ngắn. Bởi đôi khi trong mỗi câu
thơ, tác giả đã lược bỏ các dấu câu dẫn đến tình trạng học sinh ngắt nhịp sai.
Qua thực tế cho thấy, khi đọc thơ, học sinh mắc lỗi ngắt nhịp sai là do các
em không để ý đến nghĩa mà chỉ đọc theo nhạc thơ. Các em thường tạo ra sự cân
đối về mặt âm thanh khi đọc từng dòng thơ hoặc câu thơ. Với thơ 4 tiếng, các
em thường ngắt nhịp 2/2. Với thơ 5 tiếng, các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2; thơ
lục bát sẽ được ngắt nhịp chẵn 2/2/2 và 4/2 hoặc 2/2/2/2 và 4/4, vì vậy, các em
đã ngắt nhịp sai.
Ví dụ:
Đối với thể thơ 4 chữ:

Quê hương anh/ cũng có/ dòng sông?/
Anh mãi gọi/ với lòng/ tha thiết/
Vàm Cỏ Đông!/ Ơi Vàm/ Cỏ Đông!//
(Vàm Cỏ Đông – TV3 – Tập 1)

(2)

Mắc lỗi trên là do học sinh thường có thói quen đọc thơ theo kiểu “giật
cục” mà không nắm được giá trị biểu cảm của thơ ca biểu hiện qua nhịp và vần.
Cách sửa là:
ở tận sông Hồng/ em có biết/

(nhịp 4/3)
9


Quê hương anh/ cũng có dòng sông?/

(nhịp 3/4)

Anh mãi gọi/ với lòng tha thiết/

(nhịp 3/4)

Vàm Cỏ Đông! / Ơi Vàm Cỏ Đông!//

(nhịp 3/4 )

Đối với thể thơ lục bát:
- Cũng do thói quen đọc thơ theo kiểu ‘giật cục” như đã nói ở trên, các em

Trong một giờ luyện đọc, việc các em đọc đúng rất quan trọng nhưng nếu
đúng mà không hiểu thì khi rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho các em quả là một
điều không dễ dàng chút nào bởi vì khi hiểu văn bản, các em sẽ truyền tải văn
bản đó đến người nghe một cách hiệu quả nhất.
Sự thực đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc
thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội
dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm chỉ tập trung để
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1- Nhà
xuất bản GDVN

10


hiểu nội dung điều mình đọc. Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng
thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý
thức, đọc hiểu. Kết quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ,
câu, đoạn, bài tức là toàn bộ những gì mà các em đọc được.
*. Cách thực hiện:
- Kết hợp chặt chẽ việc tìm hiểu bài với việc luyện đọc. Tôi cho học sinh
đọc đến đâu tìm hiểu bài đến đó. Không tách rời hai khâu tìm hiểu bài và rèn
đọc.
Ví dụ: Khi dạy bài : “Tiếng ru” của nhà thơ Tố Hữu ( TV3 – T1) (2)
Sau khi cho học sinh lần lượt đọc thầm từng khổ thơ, tôi cho học sinh tìm
hiểu nội dung:
Khổ1, tôi kết hợp đặt câu hỏi sau: Em hãy cho cô biết khổ thơ đầu nhắc
đến tên những con vật nào? Những con vật đó yêu những gì? Vì sao?( Tôi sẽ
hướng học sinh có câu trả lời hay nhất: đó là con ong, con cá, con chim ca. Con
ong thì yêu hoa vì muốn làm được mật thì phải cần có hoa, con cá yêu nước vì
nếu thiếu nước cá sẽ chết, con chim ca yêu trời vì đó là không gian sống lí tưởng
của chúng)

Từ việc các em đọc đúng, đọc hiểu,tôi tiếp tục giúp các em hoàn thành tốt
bài học bằng việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm.
2.3.3: Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm:
- Hướng dẫn học sinh có giọng đọc phù hợp với nhân vật:
Như đã biết: Các loại hình văn bản xuất hiện ở Tập đọc lớp 3 gồm: Văn
miêu tả, thơ, truyện kể, báo cáo kết quả thi đua,... Trong đó, truyện kể thường là
bài tập đọc đầu tuần, xuất hiện nhiều nhân vật vì nó gắn liền với 0,5 tiết Kể
chuyện kèm theo.
Để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3, phục vụ tốt hơn cho tiết
Kể chuyện thì không thể xem nhẹ mà dừng lại ở việc luyện cho học sinh có
giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. Sau khi các em được luyện đọc và tìm
hiểu bài có nội dung, ý nghĩa như thế nào? Tính cách của từng nhân vật ra sao?
Giáo viên cóthể gợi ý để học sinh phát hiện cách đọc diễn cảm để thể hiện giọng
đọc của từng nhân vật. Để thể hiện được đúng giọng của nhân vật, cần yêu cầu
các em phải nắm vững tính cách của nhân vật. Nếu không, trước khi đọc, giáo
viên phải nói rõ cho học sinh biết tính cách của từng nhân vật cho học sinh hiểu
một cách cụ thể mà có giọng đọc phù hợp.
Ví dụ: Khi đọc bài Cuộc chạy đua trong rừng, muốn phục vụ cho tiết kể
chuyện tốt thì ở phần luyện đọc lại (đọc diễn cảm), giáo viên phải gợi ý để học
sinh nắm được: Ngựa Cha có tính cách như thế nào? Ngựa Con tính cách ra
sao? Khi đọc, cần phải thể hiện như thế nào cho phù hợp? Khi thể hiện, giọng
đọc phải rõ ràng, tự tin. Nếu các em chưa đọc được thì giáo viên có thể đọc mẫu
một vài lần cho các em nghe và biết cách đọc đúng giọng nhân vật. Cụ thể:
Giọng Ngựa Cha: (âu yếm, ân cần. Lưu ý nhấn giọng vào các từ ngữ gạch
chân):
- Con trai à, / con phải đến bác thợ rèn xem lại bộ móng.// Nó cần thiết
cho cuộc đua hơn là bộ đồ đẹp.//
Còn giọng Ngựa Con: (Tự tin, ngúng nguẩy, chú ý nhấn giọng các từ ngữ
gạch chân):
- Cha yên tâm đi.// Móng của con chắc chắn lắm.// Con nhất định sẽ

sinh luyện đọc, giáo viên phải tạo được một không khí thoải mái để học sinh dễ
trực cảm với bài văn, có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo viên đọc và cũng
từ đó giúp các em có thể học tập thầy hoặc bạn một cách chủ động.
- Song song với các biện pháp trên, tôi còn thực hiện một số biện pháp
hỗ trợ cho việc rèn học sinh đọc diễn cảm như:
* Tổ chức cho học sinh luyện đọc theo vai, tạo không khí thi đua trong
tiết học:
Bước đầu, tôi có thể chọn học sinh đọc tốt làm mẫu trước. Có thể kết hợp
cả giáo viên và học sinh đọc tốt làm mẫu lần thứ nhất. Sau đó chọn nhóm học
sinh có cùng trình độ làm mẫu lần thứ hai. Cả lớp quan sát, theo dõi, nhận xét.
Lần thứ ba là lần chọn nhóm ngẫu nhiên (có tất cả các đối tượng học sinh)
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1- Nhà
xuất bản GDVN

13


cùng đọc phân vai. Các em đọc tốt sẽ hỗ trợ các em đọc chưa tốt, giúp bạn mình
bạo dạn, tự tin hơn trong học tập.
Cuối cùng là bước cho các em thi đua thể hiện mình. Đây là bước để giáo
viên có thể kiểm tra một cách kĩ nhất chất lượng đọc của các em. Bước này rất
quan trọng vì nó chính là cơ hội để các em có dịp “khoe” thành tính của mình
với các bạn. Lần lượt trong từng tiết học, tôi sẽ luân phiên cho các em có cơ hội
thể hiện mình trước lớp.
* Phối kết hợp các hình thức khác như: luyện đọc trong sinh hoạt 15 phút
đầu giờ, trong giờ ra chơi;...
Ngoài tiết học chính khoá, trong sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tôi đã khuyến
khích các em mượn những cuốn truyện hay, bổ ích có trong thư viện nhà trường
như: Sơn Tinh- Thuỷ Tinh; Âu Cơ và Lạc Long Quân; Bó củi biết bay; Dế mèn
phiêu lưu kí; Ông quan thông minh; Sọ dừa; Đám cưới chuột; Ba chú lợn con;

vào để rèn luyện mình.
2.4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Trên đây là những kinh nghiệm, những biện pháp mà tôi đã áp dụng trong
thời gian qua. Khi áp dụng các sáng kiến này vào các giờ dạy có đồng nghiệp dự
giờ, tôi đã được đồng nghiệp đánh giá cao.Bảnthân tôi rất tâm đắc sau hànhkhi
tiến khảo sát chất lượng giữa kìII của lớp 3C( đối tượng tôi đang nghiên cứu)
với kết quả như sau:
Tổng
số HS

Các giai đoạn
trong năm học
Đầu năm

22 em

Giữa HKII

Đọc nhỏ, ấp úng

Đọc to, rõ,
lưu loát

9 em

10 em

3 em


giọng đọc của mình hơn. Người thầy ở Tiểu học là người đặt nền móng trang bị
cho các em về chuẩn ngôn ngữ. Cho nên, giáo viên cần có ý thức quan tâm dến
15


cách phát âm của mình: Đó là tự quan sát, tự đánh giá kĩ lưỡng hơn đến cách
nói, cách đọc của mình để dạy học có hiệu quả.
6. Giáo viên cần có vốn sống, năng lực cảm thụ văn học để có thể hoà
mình vào tác phẩm, thấm được vào cái gọi là “máu thịt” của bài văn, bài thơ, tái
hiện được hình tượng của tác phẩm văn học. Nói cách khác, muốn đọc tốt, trước
hết phải hiểu và cảm được văn bản, biết được văn bản muốn nói gì.
7. Giáo viên phải biết được trình độ của học sinh:
Sau khi đã giọng đọc mẫu chắc chắn, công việc tiếp theo giáo viên phải
làm là quan sát, theo dõi giọng đọc của học sinh, biết nghe các em đọc để nhanh
chóng nhận ra những gì các em làm được và chưa làm được để điều chỉnh kịp
thời. Bởi trong thực tế, có nhiều giáo viên khi học sinh đọc thì vẫn chưa thực sự
chú ý theo dõi học sinh đọc hoặc chưa biết “nghe” học sinh đọc nên chỉ đưa ra
nhận xét chung chung: “Em đọc chưa tốt”; hoặc “chưa hay”; hoặc “tương đối
tốt, lần sau cần cố gắng hơn”. Và như vậy thì việc định hướng cho học sinh biết
đọc diễn cảm vẫn còn rất mơ hồ, chung chung.
8. Để rèn đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên phải tạo điều kiện cho học
sinh biết tự lắng nghe, tự nhận xét chính giọng đọc của mình một cách khách
quan. Muốn vậy, người thầy phải có khả năng thay thế một máy ghi âm: Ghi và
phát lại lời đọc của học sinh, tức là biết tái hiện lại cách đọc của học sinh hoặc
biết mô phỏng để khi cần thiết có thể trình lại trước học sinh, sửa lại cho học
sinh đọc tốt hơn.
9. Để tôn trọng người nghe, người đọc phải làm chủ âm lượng giọng đọc
của mình sao cho tất cả người nghe trong một phạm vi lớp học cùng được nghe
rõ. Đọc diễn cảm là giao tiếp một cách có văn hoá trước đông người. Do vậy,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết nâng giọng cao hơn để đọc to hơn, nghĩa

Người viết

TRƯƠNG THỊ HÀ

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng các môn học lớp3-Tập 2- NXB Giáo dục 2004
2. SGK,SGV Tiếng Việt lớp 3 – Tập 1,2- NXB Giáo dục Việt Nam

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status