PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN MỸ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: Một số kinh nghiệm nâng cao
chất lượng viết đoạn văn ngắn cho
học sinh lớp 2
Họ và tên: Lương Thị Hoài Thu
Đơn vị: TH Trung Hưng - Yên Mỹ - Hưng Yên
Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Trong các mặt giáo dục ở Tiểu học thì Tiếng
Việt là công cụ giúp các em giao tiếp, nhận biết được vốn kiến thức của nhân
loại thành trí thức của riêng mình. Thông qua Tiếng Việt giúp các em nhận
thức được các môn học khác. Chẳng hạn, muốn giải một bài toán thì điều đầu
tiên là các em phải đọc đầu bài sau đó bằng tư duy sự hiểu biết về môn học,
các em trình bày bài giải qua nói, viết, giúp cho người khác hiểu được bài
làm của mình.
2- Cơ sở lý luận
Bước vào kỉ nguyên mới, đất nước ta có nhiều đổi mới, đổi mới về
kinh tế, xã hội, giáo dục,… Sự phát triển giáo dục của nước ta tăng nhanh
giúp cho những chủ nhân tương lai của đất nước luôn được phát triển toàn
diện, đầy đủ về năng lực, trí tuệ, tính cách. Qua việc nắm bắt các kiến thức,
tri thức khoa học ban đầu để từ đó hình thành nên những kĩ năng cần thiết
của cuộc sống, hành động đúng cho bản thân.
Trong trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức
cần thiết trong giao tiếp hàng ngày. Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình
thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí
thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người
mới.
Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Dạy học Tiếng Việt giúp
các em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm
văn trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ cả 4 kĩ năng trên. Nó là phân môn tổng
hợp toàn bộ kiến thức đã học ở trong tuần từ các phân môn: Tập đọc, Tập
viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu. Đối với học sinh lớp 2 thì đây
là một phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết
còn hạn hẹp. Bên cạnh đó, còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện
hoàn cảnh sống của học sinh ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình
không có điều kiện quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc
theo trật tự đúng. Vốn sống của các em còn hạn chế, do đó khi diễn đạt học
sinh gặp rất nhiều khó khăn. Sự sắp xếp tổ chức câu trong đoạn còn rời rạc.
Các câu độc lập về nội dung chưa có sự liên kết và lôgic … Đôi khi các em
còn viết câu không rõ ý, từ lặp lại nhiều… Là một giáo viên đứng lớp nhiều
năm, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện
được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp
nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Đây là lí do tôi chọn và viết Sáng
kiến kinh nghiệm với nội dung: “ Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng
viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2” nhằm góp phần nâng cao chất lượng
dạy-học phân môn Tập làm văn lớp 2.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Đề tài góp phần khắc phục được hạn chế về cách viết một đoạn văn ngắn với
câu văn cộc lốc, không đúng ngữ pháp, hay câu văn không rõ ràng, sự sắp xếp các
câu văn không lôgíc Qua đó bồi dưỡng lòng say mê yêu thích con người, cảnh vật
xung quanh các em.
- Góp phần vào đổi mới cách dạy tiếng Việt, giúp học sinh có kĩ năng
viết đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2 theo hướng phát huy
tính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách
học của trò. Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách
tổ chức câu, ý sao cho lôgíc, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1-Tìm hiểu thực tế để đánh giá tình hình viết văn của học sinh, tìm hiểu
nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh gặp khó khăn khi học phân môn
Tập làm văn .
2-Từ những lý luận và kinh nghiệm thực tế để đưa ra các biện pháp giúp học
sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn.
IV-ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nội dung, chương trình, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, đặc biệt là
phân môn Tập làm văn lớp 2 và một số tài liệu tham khảo.
điều mà nhiều giáo viên trăn trở, cũng có nhiều đề tài viết về vấn đề này đã
đạt được những hiệu quả , song các đề tài trên đã đưa ra những biện pháp
giảng dạy của môn Tập làm văn thể loại viết đoạn văn ngắn nói chung mà
chưa có những biện pháp có những ví dụ cụ thể về một đề bài cụ thể.Xuất
phát từ tình hình nêu trên và thực tế ở trường nơi tôi công tác nên tôi đã
nghiên cứu tiếp về vấn đề “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết đoạn văn
ngắn”.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
ĐẾN VIỆC DẠY HỌC SINH LỚP 2 VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN.
1/ Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 2:
Học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạt
động chủ đạo từ vui chơi sang học tập. Các em hiếu động, ham chơi, sự tập
trung cho học tập và chú ý chưa cao. Tư duy của các em nặng về trực quan
hiểu biết sơ đẳng đó cũng là rèn cho các em tính tự lập, tự trọng. Con người
văn hóa sẽ hình thành từ các em từ những việc nhỏ nhặt, tưởng như không
quan trọng đó.
3.2Nhiệm vụ :
Làm văn có nghĩa là tạo lập văn bản. Nhiệm vụ chính của phân môn Tập
làm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản. Ở đây thuật ngữ “
văn bản” được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể. Đó không nhất thiết là một bài văn gồm nhiều câu;
nhiều đoạn; cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là
loại văn kể chuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật. Trong hoàn cảnh
giao tiếp cụ thể, sản phẩm lời nói mà một người tạo lập được có thể chỉ là
một câu chào, một lời cảm ơn hay một vày dòng thăm hỏi, chúc mừng trên
tấm thiếp….Đối với lớp 2, dạy Tập làm văn là trước hết là rèn luyện cho học
sinh kỹ năng phục vụ học tập và giao tiếp hàng ngày , cụ thể là:
*Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin
lỗi, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành………
*Dạy một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống, như :khai bản tự thuật
ngắn, viết những bức thư ngắn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sanh
sách học sinh, ………
Cuối cùng cũng như các phân môn và môn học khác, phân môn Tập làm
văn, thông qua nội dung dạy học của mình, có nhiệm vụ trao dồi cho học sinh
thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng
những tình cảm lành mạnh cho các em.
3.3-Nội dung :
Nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em thực hành rèn
luyện các kỹ năng nói, viết,nghe phục vụ cho học tập và giao tiếp hàng ngày,
cụ thể :
Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu : chào hỏi, tự giới thiệu, cảm
ơn, xin lỗi….
thức tốt.
2-Về kiến thức trong sách giáo khoa:
Nói chung kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp một cách hợp lí,
lôgic đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách nhìn thực tế đến sự vận dụng vốn
sống, vốn hiểu biết để viết đoạn văn. Học sinh được dạy các kĩ năng kể (tả)
đơn giản. Song không phải kể lại hoặc tả lại câu chuyện cảnh vật theo nội
dung bài tập đọc dựa vào lời kể (tả) của tác giả mà các em được kể (tả)
những gì có và diễn ra trong cuộc sống xung quanh. Điều này đã phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong kĩ năng viết đoạn. Do đó,
ta có thể khẳng định rằng: Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 đặc biệt chú trọng tới
rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh.
II. Những khó khăn hạn chế khi dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn . 1.Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn viết đoạn văn cho học sinh
cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách
giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học
sinh. Cách dạy của giáo viên có phần khuôn mẫu.
Ví dụ: Khi dạy học sinh bài Tập làm văn tuần 20 “ Tả ngắn về bốn
mùa ". Giáo viên đã hướng dẫn gợi mở các câu hỏi theo sách giáo khoa:
+ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ?
(Mùa hè bắt đầu từ tháng tư trong năm).
+ Mặt trời mùa hè như thế nào ?
(Mặt trời mùa hè rất chói chang).
+ Cây trái trong vườn như thế nào ?
(Cây trong vườn có rất nhiều hoa quả ).
+ Học sinh thường làm gì trong dịp nghỉ hè ?
năng diễn đạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế nên đôi khi các
em chưa nhận ra được sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Ví dụ: Khi học bài tập làm văn tuần 10: Dựa theo lời kể bài 1 hãy viết
một đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) kể về ông, bà hoặc người thân của em.
Bài viết của học sinh :" Bà em đã lên 65 tuổi rồi . Da mịn màng. Tóc
dài óng ả. Bà cho em ăn bánh. Bà rủ em đi chợ sau đó hai bà cháu lại đi
chơi."
- Học sinh thường viết theo ý hiểu bằng ngôn ngữ của mình cho nên câu
văn chưa giàu hình ảnh, dùng từ chưa phù hợp.
Ví dụ: Cũng viết đoạn văn ngắn kể về ông, bà hoặc người thân ở bài tập
làm văn nói trên có một học sinh viết: "Ông đã già, 70 tuổi. Nghề là thợ xây.
Hôm nào ông cũng đi tập thể dục vào sáng sớm."
- Một số bài viết của học sinh còn lộn xộn về câu, ý, dùng từ chưa
đúng vào văn cảnh, câu rời rạc thiếu sự liên kết.
Ví dụ: Đây là đoạn văn của một học sinh khi viết đoạn văn tả về một
loài chim mà em thích ( Tập làm văn tuần 21) như sau:
" Những ngày đi học về em cảm thấy rất nhớ nó. Mỏ nó mượt và nó hót
rất hay. Em rất thương nó và nó đẹp. Bộ lông nó mượt. Hình dáng của con bồ
câu rất thích thú".
- Đôi khi học sinh viết câu dùng cụm từ so sánh để diễn tả nội dung
song sự so sánh ấy rất khập khiễng.
Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về bà có em viết : "Da mặt bà em nhăn nheo
như quả bưởi héo".
Có em lại viết “Mỗi khi bà cười để lộ vài chiếc răng sữa trông rất
duyên.”
- Một lỗi nữa mà học sinh hay mắc là trả lời theo kiểu nắp đuôi cho
nên câu văn thiếu sự hấp dẫn, sinh động.
Ví dụ : Khi dạy bài Tập làm văn tuần 8 để viết đoạn văn kể về cô giáo
(thầy giáo) cũ của em sách giáo khoa có mấy câu hỏi gợi ý trong đó có câu
hỏi:
Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu kể về cô giáo lớp 1
của em.
Thời gian: 15 phút
Kết quả đạt được như sau:
Điểm Giỏi Khá TB Yếu
Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL %
2A
2B
35
35
6
5
17,2
14
10
8
28,5
23
12
14
34,3
40
Vì có viết đoạn văn tốt thì học sinh mới có nền tảng vững chắc để học văn
sau này.
a-Tạo cho học sinh có thói quen quan sát:
Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện
tượng xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết. Vì qua thực
tế đôi khi tôi cho các em một bài tập tả về cảnh biển, có em bảo là con chưa
bao giờ nhìn thấy biển. Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên
ở nông thôn nên các em không nhìn thấy biển là đúng. Bởi thế giáo viên cũng
cần sưu tầm những phim ảnh để có thể trình chiếu cho các em, cho các em
quan sát về cảnh biển, … hoặc vào dịp nghỉ hà các em hay được ba mẹ cho đi
tham quan tắm biển, nhân đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh quan sát kỹ
để có ý tưởng cho tập làm văn tả cảnh biển.
b-Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:
Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ
phong phú. Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận
dụng. Có em thì có rất ít hoặc chưa hề có. Bởi vậy, giáo viên chính là người
cung cấp.Mà cung cấp ở đâu? Tôi nghĩ trong các bài tập đọc có khá nhiều.
Mỗi chủ đề của môn Tiếng Việt thì môn tập đọc đều có những bài văn, bài
thơ nói về chủ để đó. Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả
lời thành câu đủ ý và chú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập
làm văn. Từ đó học sinh có thể rút ra những câu văn hay, từ ngữ đẹp và ghi
nhớ sau này vận dụng. Ví dụ : qua bài Tôm Càng và Cá Con học sinh rút ra
được đoạn văn tả về chú Cá Con trong bài “Con vật thân dẹt, trên đầu có
đôi mắt tròn xoe, toàn thân phủ một lớp vẩy bạc óng ánh”. Vốn từ còn
có trong phân môn luyện từ và câu. Giáo viên có thể cho các em chơi trò
chơi, thi đua tìm từ ngữ tả về chú cá. Các em sẽ rất hứng thú và tìm được rất
nhiều từ.
Để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên cần cung cấp cho học sinh : Nhiều từ
ngữ gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình … Ví dụ : Mặt biển xanh và
“Người tả” sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà “nhà em có nuôi
một chú gà”
Còn “chú gà” thì vừa nói vừa diễn tà : “tôi có bộ lông nhiều màu
sắc. Tôi có cái màu trên đầu. Tôi gáy rất to …”
Người tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà : “Em
thường rải thóc cho gà ăn …”
Hoặc có thể tinh giảm em “người tả” chỉ cần một em sắm vai “chú
gà”.
- Sau khi nghe tả và quan sát xong các em thành lập ra một sơ đồ như
sau :
Từ đó các em đã nắm được đặc điểm của con vật cần tả mà phát triển
thành một đoạn văn. Hoặc ta có thể cho em hình thành một đoạn văn qua trò
chơi “tiếp sức”.
- Từ sơ đồ đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo thành câu,
cứ thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn. Trong lúc đó, giáo viên
có thể ghi lại trên bảng, thế là đã có bốn đoạn văn mẫu. Có thể câu văn
lúc ấy còn lủng củng nhưng ta có thể sửa chữa.
Biện pháp 2:Trang bị cho học sinh về vốn từ và kĩ năng viết đoạn văn
ngắn
a.Cung cấp vốn từ
Mỗi đoạn văn là cả một thực tế sinh động diễn ra xung quanh các em.
mở :
Câu “Những cánh buồm đủ màu sắc được nắng sớm chiếu vào sáng
rực lên, trông xa như những đàn bướm bay lượn giữa trời xanh cùng với cánh
chim hải âu”. Có thể trả lời cho câu hỏi nào? (Trên mặt biển có những gì ?)
b-Về kĩ năng
* Để có kĩ năng viết đoạn văn tốt giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ
năng nói gãy gọn, trọn vẹn ý, không nói câu cụt.
Ví dụ: Khi tả về con chim mà em yêu thích có học sinh nói: “Chim
chích choè cứ sáng sớm, trên cây dừa nhà em nó đậu rồi nó hót”.
Hoặc khi nói về tình cảm của cô giáo với học sinh không nên nói:
"Tình cảm của cô đối với em rất tốt", mà phải nói: "Cô giáo rất yêu quý
chúng em "
* Giáo viên cần phải phân tích cho học sinh:
Ý của em nói: "Cứ vào thời điểm buổi sáng, ở trên cây dừa nhà em có
một con chim chích choè đến và hót ”. Vậy em cần nói cho gãy gọn và hay
hơn: “Sáng nào cũng vậy, chim chích choè lại bay đến đậu trên cây dừa nhà
em, cất tiếng hót líu lo”.
* Giáo viên nhắc nhở học sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết. Khi viết đoạn văn dẫn lời nói của người khác em phải cho trong ngoặc
kép.
Ví dụ : - Muốn kể lại lời nói của Dì trong đoạn viết về người thân của
em, cần phải viết trong ngoặc kép như: Dì em bảo: “Cháu cứ lấy kẹo ra mà
ăn ".
Hoặc khi trích dẫn lời nói của chú vẹt khi viết về một loài chim mà em
thích. Mỗi khi có khách đến chơi chú lại nhanh nhảu: "Có khách! Có khách
!".
- Việc rèn cho học sinh viết đoạn cần tạo điều kiện phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh. Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ
hội sáng tạo cho học sinh thâm nhập, quan sát, phân tích từ thực tế.
quanh mình. Đầu tiên cần gợi mở cho học sinh giới thiệu về vật (cảnh vật)
định tả. Chi tiết nổi bật của cảnh, vật đó. Cuối cùng là tình cảm của bản thân
đối với cảnh vật và con vật đó…
- Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. Ở khâu này học sinh
bộc lộ rất rõ nhược điểm về tư duy cách viết câu, sử dụng từ. Giáo viên
không nên làm thay cho học sinh mà nên trang bị một số tình huống, một số
cách dùng từ, một số cách liên kết phù hợp với nội dung đoạn viết để học
sinh vận dụng viết bài.
Bước 2: Học sinh viết bài vào vở.(Trước khi viết vào vở cho học sinh
nêu miệng bài văn)
Bước 3: Chấm bài, chữa lỗi.
- Học sinh đổi chéo vở đọc bài, sửa câu từ, nhận xét bài lẫn cho nhau.
- Giáo viên yêu cầu một số học sinh đọc bài viết của mình và đọc bài
viết đã được bạn sửa (câu, từ) trước lớp. Học sinh dưới lớp nhận xét sửa chữa
bổ sung.
- Giáo viên chấm và chữa một số lỗi cơ bản (từ, câu, ý).
- Giáo viên đọc đoạn văn mẫu mà giáo viên đã chuẩn bị để học sinh
tham khảo.
Ví dụ: Khi dạy học sinh viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu nói về mùa
hè, giáo viên cần hướng dẫn theo các bước như sau:
Bước 1: Xác định yêu cầu bài. Định hướng học sinh viết.
- Học sinh đọc yêu cầu bài: “Hãy viết từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè”.
- Giáo viên phân tích yêu cầu.
- Hướng dẫn học sinh định hướng viết.
+ Viết đoạn gồm mấy câu? (Viết đoạn từ 3 đến 5 câu).
+ Viết về cái gì? (Viết về mùa hè).
- Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý.
+ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm?
(Mùa hè bắt đầu từ tháng 4 trong năm).
+ Mặt trời mùa hè như thế nào?
cháy thịt, nắng chang chang, nắng rát cả mặt…
+ Ánh nắng mùa hè em đã cảm nhận bằng những giác quan nào?
(Em đã cảm nhận bằng mắt, da…).
+ Em có ngửi thấy mùi hương của hoa không? (Có).
+ Có được ăn hoa quả trong mùa hè không? (Có).
+ Đó là hương, vị ta cảm nhận được bằng gì?
(Cảm nhận được bằng mũi và lưỡi).
+Vậy với nội dung ý 2 các em cần lưu ý điều gì? (Em cần đội mũ
nón…)
Tóm lại: Không nhất thiết cứ mỗi câu hỏi viết được một câu trong
đoạn văn. Cần viết với sự cảm nhận bằng nhiều cách: Nhìn, ngửi, ăn… xen
lồng với tình cảm của bản thân về mùa hè.
Bước 2: Học sinh làm bài vào vở.
- Giáo viên hướng dẫn cách trình bày một văn bản. Khi bắt đầu viết
đoạn cách lề một ô, viết hết câu này tiếp sang câu khác, ý này tiếp sang ý kia,
viết hết đoạn mới xuống dòng.
- Khi học sinh làm bài giáo viên quan sát giúp đỡ những học sinh yếu.
Bước 3: Chấm bài, chữa lỗi:
- Học sinh đổi chéo bài, đọc bài viết của bạn sau đó nhận xét về cách
trình bày, sửa câu, từ sai có trong đoạn viết.
- Một số học sinh đọc bài viết của mình, đọc câu bạn đã sửa giúp.
Học sinh khác góp ý bổ sung.
- Giáo viên chấm bài, chữa một số lỗi cơ bản (từ, câu, ý).
- Giáo viên đọc đoạn văn mẫu cho học sinh tham khảo.
CHƯƠNG IV. DẠY THỰC NGHIỆM
- Giáo viên gọi một học sinh.
+ Em hãy nói lời an ủi của em với ông (bà)
khi kính đeo mắt của ông (bà) bị vỡ.
- Giáo viên chấm điểm.
- Giáo viên gọi 2 học sinh khác đọc đoạn
văn “Kể ngắn về gia đình em”.
- Giáo viên nhận xét, cho điểm.
B. Dạy bài mới:
1. Giới thiệu bài:(1’)
Các em đã biết kể ngắn về gia đình, biết
an ủi khi người khác gặp nỗi buồn hay có sự
bất hạnh.
Vậy khi bạn bè hoặc người thân có
niềm vui ta cần phải làm gì? Cần kể về anh,
chị, em trong gia đình bằng tình cảm như
thế nào? Cô mời các em đi tìm hiều bài học
ngày hôm nay :
“Chia vui – Kể ngắn về anh chị em”.
- Giáo viên ghi bảng.
2. Hướng dẫn học sinh làm bài tập:(28’)
Bài 1: (Miệng).
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh
trong sách giáo khoa.
+ Tranh vẽ mấy nhân vật?
+ Đó là những ai?
+ Bé Nam đang làm gì?
nhì trong kỳ thi học giỏi tỉnh. Chị rất vui vì
đã đạt được thành tích này. Là em trai bé
Nam đem hoa tặng chị và Nam còn nói gì
với chị ? Em hãy nhắc lại lời của bé Nam. - Giáo viên nhắc nhở học sinh nói tự nhiên
thể hiện sự vui mừng của em trai trước
thành công của chị.
- Giáo viên khen học sinh nói lời chia vui
của Nam tốt nhất.
+ Nam đã nói lời chia vui với chị khi nào ?
GV kết luận: Khi bạn hoặc người thân có
niềm vui ta cần biết chúc mừng bạn, người
thân đó. Sự chúc mừng đem lại niềm vui
cho mình và niềm vui cho bạn. Để hiểu kĩ
hơn nữa chúng ta cùng tìm hiểu bài tập 2
Bài 2: (Miệng)
- GV phân tích lại yêu cầu.
+ Bài yêu cầu em làm gì?
+ Để làm gì ?
- Giáo viên nhắc học sinh không được nhắc
lại lời của Nam.
Ví dụ: Em xin chúc mừng chị
hoặc: Chúc chị học giỏi hơn
nữa. hoặc Chúc mừng chị đoạt
giải
- Học sinh đóng vai nói lời
chia vui.
+ Em cần nói tự nhiên với thái
độ chân thành và vui mừng. chân thành, vui mừng… khi chia vui với
người khác.
Chuyển ý: Buồn vui và tình cảm của mỗi
con người rất cần có sự cảm thông chia sẻ
của người khác. Còn việc kể về người thân
thiết trong gia đình thì kể như thế nào?
Cách viết đoạn văn ra sao cô mời các em
- Học sinh đọc yêu cầu bài. -
Lớp đọc thầm theo: “ Hãy viết
từ 3 đến 5 câu kể về anh, chị,
em ruột hoặc anh, chị em họ
của em”.
+ Viết từ 3 đến 5 câu.
+ Viết về anh, chị, em ruột
(hoặc anh, chị, em họ)
+Viết về một người.
+Yêu cầu em kể về người đó.
- HS tự trả lời. + Trước tiên là giới thiệu tên
sau đó đến hình dáng, tính
cách và cuối cùng là tình cảm
của em.
- Học sinh chú ý lắng nghe.
trông thật đáng yêu. Em rất thích được
nghe anh kể chuyện và nhìn thấy anh cười.
Em sẽ học thật giỏi để lúc nào anh cũng có
thể tự hào về em".
C. Củng cố – dặn dò(2’)
+Hôm nay chúng ta học bài Tập làm văn
gì?
+ Khi nào ta cần nói lời chia vui?
+ Nói lời chia vui với thái độ như thế nào?
- GV nhận xét, đánh giá tiết học.
- Dặn học sinh về đọc lại đoạn văn, tiếp tục
sửa lỗi về ( câu, từ, ý) và thực hành nói lời
chia vui khi bạn hoặc người thân có niềm
vui. - HS làm vào vở.
Kết quả đạt được như sau:
Điểm Giỏi Khá T.Bình Yếu
Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL %
2A 35 9 25,7 11 31,4 11 31,4 4 11,3
2B 35 5 14,3 9 25,7 14 40 7 20
Lần 2: Tuần 26 ngày 08 tháng 03 năm 2013
Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn (từ 4 đến 5) câu nói về con vật mà
em yêu thích.
Thời gian: 15 phút
Đối tượng 70 học sinh của hai lớp 2.
Kết quả đạt được như sau:
Điểm Giỏi Khá T.Bình Yếu
Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL %
2A 35 10 28,5 13 37,2 10 28,5 2 5,8
2B 35 6 17,2 10 28,5 13 37,1 6 17,2
- Nhìn vào các bảng kết quả trên cho thấy cách tổ chức học sinh viết
đoạn ngắn theo hướng đã trình bày ở trên giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn
văn chắc chắn, thành thạo, chất lượng đoạn văn viết của học sinh tăng lên rõ
rệt qua từng đợt kiểm tra tại lớp thực nghiêm.
- Mặt khác qua quá trình dạy thực nghiệm trên lớp 2A tôi thấy giờ học
diễn ra sôi nổi. Học sinh tiếp thu bài một cách chủ động. Song điều đáng nói
hơn cả là hiện tượng nói câu không rõ nghĩa, không trọn ý không còn nữa.
Học sinh đã biết dùng những từ ngữ giàu hình ảnh, câu viết khá sinh động.
Khi viết về các con vật và con người xung quanh mình. Thời gian hoàn thành
đoạn viết trong các lần kiểm tra cũng nhanh hơn so với lớp đối chứng. Điều
đó chứng tỏ cách dạy viết đoạn văn theo hướng đã trình bày ở trên đã đem lại
kết quả đầy khả quan, cần được phát triển để thực sự nâng cao chất lượng
cầu của đề bài. Từ việc giảng dạy, theo dõi kết quả học tập của học sinh từ
các bài kiểm tra định kì tôi thấy: học sinh đã có những hứng thú nhất định
khi học môn Tập làm văn và nhất là khi tiếp xúc với bài tập viết đoạn văn
ngắn.