BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VŨ NGỌC BÍCH VÂN
TÁC ĐỘNG TƯƠNG ĐỐI CỦA TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỸ VÀ TRUNG
QUỐC LÊN CÁC QUỐC GIA TRONG KHU
VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VŨ NGỌC BÍCH VÂN
TÁC ĐỘNG TƯƠNG ĐỐI CỦA TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỸ VÀ TRUNG
QUỐC LÊN CÁC QUỐC GIA TRONG KHU
VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Hải Lý
3.1.1 Mô hình hệ phương trình đồng thời trên dữ liệu bảng PVAR ....... 17
3.1.2 Các dạng mô hình PVAR ............................................................... 18
3.1.2.1
Mô hình PVAR dạng cấu trúc ................................................. 18
3.1.2.2 Mô hình PVAR dạng rút rọn hay dạng tiêu chuẩn................... 18
3.1.3 Phân rã Cholesky............................................................................ 19
3.1.4 Ứng dụng của mô hình VAR .......................................................... 19
3.2 Ưu điểm của tiếp cận nghiên cứu trên dữ liệu bảng ......................... 20
3.3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm bài nghiên cúu ............................ 22
3.4 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................ 23
3.5 Thực trạng vấn đề nghiên cứu........................................................... 24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................ 37
4.1. Phân tích thống kê mô tả ................................................................. 37
4.2 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (Choi 2001)..................... 39
4.3 Độ trễ tối đa cho mô hình PSVAR ................................................... 40
4.4 Kiểm định nhân quả Granger test ..................................................... 43
4.5 Kiểm định tính ổn định mô hình ....................................................... 49
4.6 Kết quả ước lượng mô hình SVAR................................................... 49
4.6.1 Hàm phản ứng xung (impulse response) ........................................ 56
4.6.2 Phân rã phương sai (Variance decomposition) .............................. 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN .................................................................... 65
5.1. Kết luận về kết quả nghiên cứu ........................................................ 65
5.2. Gợi ý chính sách............................................................................... 65
5.3. Hạn chế đề tài:.................................................................................. 66
5.4. Hướng mở rộng đề tài: .............................................................................. 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình .......................................... 38
Bảng 4.2: Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu Fisher theo tiếp cận ADF ............. 40
Bảng 4.3: Độ trễ tối đa cho mô hình VAR ............................................................... 42
Bảng 4.4: Kiểm định nhân quả GRANGER............................................................. 44
Bảng 4.5: Kiểm định tính ổn định mô hình .............................................................. 49
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng PSVAR...................................................................... 51
Biểu đồ 5: Hàm phản ứng đẩy IRF của GDP US .................................................... 57
Biểu đồ 6: Hàm phản ứng đẩy IRF của GDP CHINA ............................................. 58
Bảng 4.7 Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi
của GDP .................................................................................................................... 61
Bảng 4.8: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi
của INFLATION ....................................................................................................... 62
Bảng 4.9: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi
của T_Bill .................................................................................................................. 63
Bảng 4.10: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi
của REX .................................................................................................................... 64
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu với mục tiêu so sánh tác động của tăng trưởng kinh tế của
Mỹ và Trung Quốc lên các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Sử
dụng phương pháp hệ phương trình đồng thời có cấu trúc trên dữ liệu bảng (Panel
structural vector autoregression) với khối đại diện nền kinh tế toàn cầu là ngoại
sinh bao gồm tăng trưởng GDP của hai nền kinh tế quốc tế là Mỹ và Trung Quốc
và lạm phát giá cả hàng hóa thế giới; trong khi các yếu tố vĩ mô đại diện cho khối
nền kinh tế nội địa bao gồm tăng trưởng kinh tế GDP, lạm phát, lãi suất và tỷ giá
hối đoái thực. Sử dụng mẫu trong thời kỳ 1991-2015 theo quý, tác giả thấy rằng,
tác động từ biến động nền kinh tế Mỹ lan tỏa đến tăng trưởng đến GDP, lạm phát
cho phép các quốc gia mới nổi hạn chế được tác động từ khủng hoảng. Trong năm
2010-2011, tăng trưởng hàng quý của các nước mới nổi đã tăng trung bình 3,75%
so với năm 2008-2009. Riêng Trung Quốc đã giúp các nước mới nổi có thêm 0,5%
tăng trưởng trong số 3,75% này.
Trong những năm vừa qua, Trung Quốc chiếm ưu thế về thương mại khi
đang giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất với các nước châu Á Thái Bình Dương,
chứ không phải là Mỹ. Tuy nhiên Mỹ lại chiếm ưu thế tuyệt đối về đầu tư, xét riêng
một khu vực nhỏ như ASEAN là khu vực nhận được nhiều đầu tư nhất của các tập
đoàn và doanh nghiệp Mỹ trên khắp thế giới, với tổng giá trị khoảng 226 tỉ USD.
Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc vào khu vực Thái Bình Dương thì thấp
3
hơn rất nhiều so với mức đầu tư của các doanh nghiệp nước này vào các thị trường
trọng điểm như Mỹ hay châu Âu.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF về các nền kinh tế
2015 (Outlook IMF), về lâu dài thì tình trạng hiện tại sẽ thay đổi theo hướng tăng
ảnh hưởng kinh tế của Mỹ, trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ giảm đi. Việc
Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nước châu Á Thái Bình
Dương trong vài năm trở lại đây là kết quả của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng
trưởng nóng, dẫn đến tăng cường nhập khẩu rất nhiều năng lượng, vật liệu và hàng
hóa từ các nước trên thế giới, trong đó các quốc gia Thái Bình Dương chiếm một tỷ
lệ quan trọng. Từ khi tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại, tăng trưởng của các
nước mới nổi đã giảm trung bình 2% kể từ năm 2012 so với thời gian đầu của
những năm 2010. Một phần tư trong số tụt giảm này là do ảnh hưởng từ sự suy
giảm tăng trưởng của Trung Quốc. Sự suy giảm này liên quan tới chủ ý của chính
phủ muốn đưa đất nước đi theo hướng tăng trưởng bền vững hơn.
Các nghiên cứu trước đây thường chỉ lưu ý tới tác động của Mỹ tới các quốc
gia, khi sử dụng Mỹ như là yếu tố biến động toàn cầu. Hoặc nghiên cứu ảnh hưởng
của Mỹ khác nhau như thế nào?
1.3
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Không gian:
Bài nghiên cứu phân tích tác động của Trung Quốc, Mỹ tới một số quốc gia
khu vực châu Á Thái Bình Dương theo tiêu chuẩn phân loại khu vực World Bank1
bao gồm: Australia, Hong Kong, Nhật Bản, New Zealand, Philipines, Singapore,
Malaysia. Đây là các quốc gia có đầy đủ dữ liệu2 trong toàn bộ các quốc gia ở khu
vục Châu Á Thái Bình Dương.
1
Nguồn: https://datahelpdesk.worldbank.org/knowledgebase/articles/906519-world-bankcountry-and-lending-groups
2
Nguồn: Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, bộ dữ liệu thống kê International Financial Statistics (IFS)
5
Thời gian:
Bài nghiên cứu tiến hành phân tích các biến số vĩ mô trong giai đoạn từ
1991 tới 2015 nhằm tối đa hóa số lượng quan sát nhằm đạt kết quả tin cậy hơn
trong định lượng.
1.3
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng trên dữ liệu bảng với dữ
Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hình định lượng để xác
định các tác động này. Từ đó cung cấp những cơ sở để đưa ra các chính sách phù
hợp phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
1.5
Kết cấu của đề tài
Ngoài danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, phần tóm tắt, tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung đề tài này bao gồm 5 chương được trình bày như sau:
Chương 1 - Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày
lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,
phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài.
Chương 2 - Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tác giả
trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả sẽ làm rõ mô
hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách các biến, nguồn dữ liệu và phương pháp
ước lượng.
Chương 4 - Nội dung và kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả phân
tích thống kê mô tả, kiểm định tính dừng, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương
quan và phân tích hồi quy.
Chương 5 - Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và
rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo.
7
8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
gia Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines hay Malaysia tăng trưởng chậm hẳn
trong năm 2015 là một dẫn chứng, khi hầu hết các nước này rơi vào tình trạng giảm
xuất khẩu trầm trọng do bị tác động từ sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc.
Nói cách khác, sự tăng vọt trong trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và
các quốc gia xuất khẩu nhỏ chỉ mang tính ngắn hạn, và xuất phát từ nhu cầu bộc
phát về phát triển của Trung Quốc thay vì một quan hệ kinh tế vững chắc và ổn
định lâu dài.
So sánh về mức độ đầu tư có quy mô lớn, bài bản và lâu dài tại các nước
này, thì rõ ràng Trung Quốc không thể so sánh với Mỹ. Nhưng với một loạt các
hiệp định thương mại vừa ký kết trong khu vực, cùng với dự báo trong tương lai
châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất
thế giới, thì điều này chắc chắn sẽ có sự thay đổi lớn.
Nhưng, quan trọng hơn, điều mà chính phủ Mỹ hướng tới trong mối quan hệ
kinh tế không phải là các con số thương mại như Trung Quốc, mà Washington
quan tâm đến việc đặt ra luật chơi về kinh tế tại khu vực này, một điều sẽ nâng cao
ảnh hưởng về kinh tế của Mỹ tại Châu Á Thái Bình Dương lên mức lớn nhất có thể,
đồng thời làm giảm ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc tại khu vực này nhất có thể.
Dễ dàng nhận ra điều này khi quan sát các quy định quan trọng nhất mà Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đặt ra. Ngoài việc thúc đẩy hơn nữa quy mô
trao đổi thương mại giữa các nước thành viên thì vấn đề quan trọng nhất của TPP là
thiết lập một loạt các tiêu chuẩn về sản xuất và thương mại, và các tiêu chuẩn này
được đánh giá là ở một mức rất cao mà các doanh nghiệp Trung Quốc khó có thể
đạt tới.
Điều này có nghĩa, khi TPP đi vào hoạt động, thì các nền kinh tế trong khu
vực Thái Bình Dương sẽ vận hành với các tiêu chuẩn cao hơn Trung Quốc rất
10
nhiều, và có tính tương tác tốt hơn với nền kinh tế Mỹ vốn rất phát triển thay vì với
hạn chế lên các quốc gia thuộc nền kinh tế OECD. Cơ cấu thương mại song
phương giữa Trung Quốc và cá nhân của nền kinh tế OECD phản ánh các hình thức
khác nhau của lợi thế so sánh cũng như sự khác biệt về cấu trúc của các rào cản
thương mại và vị trí địa lý. Việc Trung Quốc gia nhập WTO cùng các cam kết
được dự đoán sẽ dẫn đến các tác động không đồng nhất vào các thành viên OECD.
Tác động trực tiếp nhất là hiệu suất xuất khẩu của các nước OECD đã được giao
dịch hoặc đầu tư mạnh mẽ ở Trung Quốc nhưng vẫn phải đối mặt rào cản thị
trường. Mô hình thương mại quan sát cho thấy rằng tác động có thể quan trọng hơn
đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand.
Paul Conway (1998), sử dụng mô hình SVAR đối với dữ liệu theo quý từ
1985 tới 1996 nhằm phân tích tác động biến đổi trong kinh tế vĩ mô New Zealand
với các cú sốc đầu tư nước ngoài. Các cú sốc này đã làm thay đổi nền kinh tế của
New Zealand, nền kinh tế trở nên cởi mở hơn sau năm 1985, gia tăng việc thuê
mướn nhân công lao động và thay đổi chu kỳ kinh tế. Lãi suất thực trong nước
phản ứng không rõ trong dài hạn, tuy nhiên sau khi bãi bỏ quy định tài chính vào
giữa những năm 1980, lãi suất thực trong nước phản ứng với tác động từ các cú sốc
lãi suất toàn cầu.
Trong nghiên cứu của Ben Hunt (2010), mô hình kinh tế toàn cầu của IMF
(GEM) được sử dụng để ước tính ảnh hưởng khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng của
các quốc gia mới nổi châu Á lên Úc. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khoảng
25% tăng trưởng của Australia trong thập kỷ qua đã được giải thích từ tăng trưởng
của các quốc gia châu Á mới nổi trong giai đoạn nghiên cứu.
Sun (2011) sử dụng phương pháp vector tự hồi quy (VAR) và thấy rằng,
trong một thập kỷ qua, những cú sốc từ các quốc gia mới nổi châu Á vượt qua Hoa
Kỳ thông qua việc nghiên cứu các yếu tố ngoại sinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến
12
chu kỳ kinh tế của Úc. Đối với thời kỳ mẫu toàn bộ 1991-2010, cú sốc 1 phần trăm
năng động cấu trúc, với dữ liệu theo quý trong giai đoạn 1875-2010. Tác giả xem
Canada như là đại diện của một nước xuất khẩu hàng hóa nhỏ và phân tích tác động
của các cú sốc toàn cầu tới các biến số vĩ mô. Kết quả phân tích cho thấy rằng sự
biến động của giá cả hàng hóa chịu tác động âm từ cú sốc giá của các hàng hóa đặc
biệt mang tính toàn cầu. Ngược lại một cú sốc cầu lại mang tác động tích cực tới
biến động giá. Đặc biệt, các cú sốc đều mang ý nghĩa tới sự thay đổi của giá cả
hàng hóa đáng kể nhất là trong giai đoạn 1975 trở đi.
Shaun K. Roache (2012) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu trong giai đoạn
2000-2011. Tác giả thấy rằng những cú sốc hoạt động toàn thể ở Trung Quốc có tác
động mang ý nghĩa trong ngắn hạn đối với sự biến động trong giá dầu và các vật
liệu cơ bản. Ngược lại, cú sốc về lượng hàng tiêu thụ, phản ánh nhu cầu tồn kho
không có tác động nào tới giá cả hàng hóa. Tác động của Trung Quốc lên thị
trường hàng hóa toàn cầu ngày càng gia tăng nhưng vẫn ít hơn so với Mỹ. Điều này
chủ yếu từ sự cơ động của các cú sốc tăng trưởng thực tiễn ở Mỹ có xu hướng kéo
dài và tác động mạnh tới phần còn lại của thị trường thế giới.
Denise R. Osborn, Tugrul Vehbi (2015) nghiên cứu cung cấp một phân tích
định lượng so sánh tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung
Quốc lên các quốc gia xuất khẩu hàng hóa nhỏ, cụ thể là New Zealand. Mô hình
SVAR với khối toàn cầu là ngoại sinh bao gồm tăng trưởng GDP của hai nền kinh
tế quốc tế và lạm phát giá cả hàng hóa thế giới mang tính trọng yếu; ảnh hưởng
trong khu vực được kiểm soát thông qua việc đưa tăng trưởng GDP của Úc, trong
khi khối nội địa bao gồm tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất và những thay đổi
trong tỷ giá hối đoái thực. Sử dụng mẫu trong thời kỳ 1986-2011, tác giả thấy rằng,
mặc dù tác động lan tỏa tăng trưởng đến GDP New Zealand là cao hơn đáng kể với
14
tác động từ Mỹ so với Trung Quốc, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng ở Trung Quốc gây
ra phản ứng lớn hơn trong tỷ giá hối đoái thực so với Mỹ.
có thể quan trọng hơn đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand;
Malory Greene, Nora Dihel, Przemyslaw Kowalski và Douglas Lippoldt (2006).
Đối với khu vực châu Á, có những nghiên cứu đã tìm thấy tác động đáng kể
của Trung Quốc lên các quốc gia này, Christian Dreger và Yanqun Zhang (2011).
Trong khi Trung quốc ít tác động lên các quốc gia khu vực đồng EURO bởi lý do
liên kết thương mại không chuyên sau bằng. Ngoài ra, cũng là thực nghiệm Châu
Á, tác giả thuộc ngân hàng Standard Chartered (2015) báo cáo thường niên, cho
thấy một cú sốc tăng trưởng của Mỹ sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với tăng trưởng
của châu Á, tầm quan trọng của Trung Quốc tăng trong gần đây khung thời gian
nghiên cứu (2005-15). Cụ thể, đối với toàn bộ giai đoạn 2000-15, tác động của một
cú sốc tăng trưởng Mỹ lớn hơn đối với các nền kinh tế châu Á trong mẫu so với
một cú sốc tương tự như với các nền kinh tế khác. Tuy nhiên, tính đến tốc độ tăng
trưởng tương đối, Trung Quốc là động lực chi phối nhiều hơn cho tốc độ tăng
trưởng nhanh hơn của nó. Các tác giả cũng thấy rằng, các nền kinh tế mở cửa giao
dịch ngoại thương trong mẫu của (Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và
Malaysia – các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương) bị ảnh hưởng nhiều bởi sự tăng
trưởng trong các ngành lớn hơn so với các nền kinh tế khép kín (Ấn Độ,
Philippines, Australia và Indonesia).
Trong so sánh tác động nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc, cú sốc hoạt động
toàn thể ở Trung Quốc có tác động mang ý nghĩa trong ngắn hạn đối với sự biến
động trong giá dầu và các vật liệu cơ bản. Trong khi tác động thị trường hàng hóa
toàn cầu mặc dù ngày càng gia tăng nhưng vẫn ít hơn so với Mỹ. So với các cú sốc
16
do Trung Quốc, các cú sốc tăng trưởng thực tiễn ở Mỹ có xu hướng kéo dài và tác
động mạnh tới phần còn lại của thị trường thế giới.
Đối với một quốc gia:
Các nghiên cứu cho thấy các quốc gia chịu tác động từ tác động của các biến
Phương pháp nghiên cứu
Trong phần này tác giả trình bày căn cứ phương pháp nghiên cứu dựa trên
nghiên cứu trước đây, cũng như ưu điểm và lý do lựa chọn mô hình.
Như đã trình bày trong chương 2, có hai phương pháp thường được dùng ở
một số bài nghiên cứu khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tác động của nền kinh tế
Mỹ và Trung Quốc đến các biến vĩ mô. Phương pháp đầu tiên là phương trình hồi
quy tiêu chuẩn đơn, các tác giả áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS
để đo lường mức tác động, với đa thức phân phối có độ trễ để nắm bắt những phản
ứng của các yếu tố vĩ mô trước biến động của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc.
Nhưng hạn chế của phương pháp này là bỏ qua tính chất chuỗi thời gian của dữ liệu
vĩ mô. Do đó những giả thiết trong đo lường OLS bị vi phạm, dẫn đến những vấn
đề của hồi quy giả mạo. Hơn nữa, đo lường có thể bị thất bại từ những vấn đề
không nhất quán do việc xác định biến nội sinh tác động qua lại giữa các biến vĩ
mô.
Phương pháp thứ hai có tên là PSVAR dựa trên phương pháp VAR véc tơ tự
hồi quy (Vector Auto-regressive) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1980 bởi
Chrishtopher H. Sims, người vừa đạt được giải Nobel kinh tế 2011. Trong bài viết
này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích định lượng: mô hình PSVAR – (Panel
18
Structral Vector autoregression model) được sử dụng và ứng dụng chức năng hàm
phản ứng xung IRF (Impulse Response Function), phân rã phương sai (Variance
decomposition) để đo lường và phân tích sự truyền dẫn cú sốc về sản lượng và giá
cả trên thế giới đến các biến số vĩ mô, phân tích vai trò của các yếu tố vĩ mô ảnh
hưởng đến khu vực châu Á Thái Bình Dương. Đồng thời thông qua chức năng
phân rã phương sai, tác giả phân tích vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến các biến