BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
---------------------------
HUỲNH THU HẰNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC
ĐẾN NỀN KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA TRONG
KHU VỰC CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
--------------------------HUỲNH THU HẰNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC
ĐẾN NỀN KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA TRONG
KHU VỰC CHÂU Á
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.1.
Lý do chọn đề tài.................................................................................................... 2
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 4
1.3.
Nội dung nghiên cứu .............................................................................................. 4
1.4.
Đóng góp của đề tài ............................................................................................... 5
1.5.
Bố cục đề tài ........................................................................................................... 6
CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM……………………………………………………………………………….7
2.1.
Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ kinh tế giữa các nước ......................... 7
2.2.
Vai trò của Trung Quốc đối với các nước Châu Á .............................................. 15
Hồi quy tổng thể ........................................................................................ 40
4.1.2.
Các kênh tác động ...................................................................................... 44
4.1.2.1.
Các liên kết thương mại ...................................................................... 44
4.1.2.2.
Các liên kết tài chính ........................................................................... 47
Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam ........................................... 51
4.2.1.
Tăng trưởng Trung Quốc tác động đến tăng trưởng Việt Nam ................. 51
4.2.2.
Chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng trưởng Việt Nam ................ 58
CHƢƠNG 5.
KẾT LUẬN ........................................................................................ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Tài sản nước ngoài ròng
(Net foreign assets)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.
(Organization for Economic Cooperation and Development)
Mô hình tác động ngẫu nhiên
(Random – effects model)
Tiêu chuẩn thông tin Schwarz
(Schwarz information criterion)
Shanghai composite index
Mô hình tự hồ quy vector
(vector autoregression)
VECM
VIF
FPI
FDI
Mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số.
(Vector Error Correction Model).
Hệ số phóng đại phương sai
(Variance inflation factor)
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
(Foreign Portfolio Investment)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment)
Nam, quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.8: Kiểm định nhân quả Granger: tỷ lệ tăng trưởng Trung Quốc và Việt Nam,
quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.9: Hồi quy tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào tăng trưởng Trung
Quốc, quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.10: Kiểm định đồng liên kết Jonhansen: SSEC và tăng trưởng Việt Nam, quý
I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.11: Kiểm định nhân quả Granger: chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng
trưởng GDP Việt Nam, I/2000 – IV/2014
Bảng 4.12: Hồi quy tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào chỉ số giá chứng
khoán Trung Quốc, quý I/2000 – quý IV/2014
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu phám phá mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với tăng trưởng của 25
quốc gia Châu Á được lựa chọn và đánh giá mức độ tác động thông qua các kênh dẫn
truyền là thương mại và tài chính. Bằng phương pháp Pool-OLS và mô hình tác động
cố định (fixed-effects model), kết hợp với dữ liệu được quan sát theo năm của 25 quốc
gia Châu Á từ 1999-2014, chúng ta tìm thấy các mối quan hệ tích cực có ý nghĩa thống
kê cao. Kết quả cho thấy vai trò quan trọng của kênh thương mại và tài chính Trung
Quốc đến nền kinh tế các nước trong khu vực Châu Á. Đồng thời, bài nghiên cứu mối
quan hệ kinh tế song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam thông qua tỷ lệ tăng
trưởng của Trung Quốc và chỉ số giá thị trường chứng khoán SSEC. Sử dụng phương
pháp kiểm định nhân quả Granger và VECM, kết quả đều cho thấy mối quan hệ nhân
quả Granger một chiều từ tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc và chỉ số SSEC tác động
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc – quốc gia chiếm 1/5 dân số thế giới – là
một trong những sự kiện phát triển kinh tế quan trọng trong thời đại chúng ta.
3
Ngoài tác động trong nước, tăng trưởng nhanh của Trung Quốc trong các thập niên gần
đây đã có tác động đến nền kinh tế toàn cầu. Thông qua việc mở cửa, hội nhập toàn
cầu, Trung Quốc càng gia tăng mối quan hệ với phần còn lại của thế giới thông qua
giao thương quốc tế, thị trường hàng hóa toàn cầu, dòng vốn, và qua việc sử dụng tiền
tệ của Trung Quốc ở các nước, và trong mối tương quan chặt chẽ của tình hình thị
trường Trung Quốc và các nước Châu Á (kể cả thế giới). Sau 2008, Trung Quốc tiến
hành quốc tế hóa đồng Nhân Dân Tệ. Cuối năm 2014, Trung Quốc ký 29 thỏa thuận
hóa đổi tiền tệ song phương và đến tháng 10/2014, đồng Nhân Dân Tệ đã vượt qua
đồng đô-la Úc và đô-la Canada để trở thành đồng tiền được sử dụng thanh toán nhiều
thứ 5 trên thế giới, gần tiếp cận với đồng Yên Nhật. Mức độ sử dụng đồng Nhân Dân
Tệ trong thanh toán quốc tế trong 2 năm 2012-2014 đã tăng trên 321%. Riêng năm
2014, mức tăng trên đạt 102% so với mức tăng chung 4,4% của tất cả các loại tiền tệ
khác trong thanh toán quốc tế.
Tuy nhiên, từ quý III/2015 nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy giảm. Trung Quốc đã
phá giá đồng Nhân Dân Tệ, chứng khoán Trung Quốc tiếp tục lao đốc. Hãng Reuters
dẫn lời nhà kinh tế Tim Condon thuộc Hãng ING Group đánh giá: "Không ai biết điều
gì sẽ xảy ra với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Sự mù mờ về tăng trưởng của Trung
Quốc hiện là nguyên nhân chính khiến các thị trường chao đảo”. Nếu tăng trưởng của
nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sụt giảm mạnh, sẽ kéo theo các nước khác sụt theo.
Đánh giá được những biến động lên xuống của nền kinh tế Trung Quốc, thực sự có ảnh
hưởng như thế nào đến các quốc gia trong khu vực châu Á trong thời gian qua. Và xem
xét các tác động kinh tế này thông qua các kênh dẫn truyền. Chúng ta có thể đo lường
mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực Châu Á, đặc biệt là
Việt Nam. Đồng thời, dự đoán được xu hướng tác động của mối quan hệ kinh tế này
Kiểm định tác động của dòng Tài Chính Trung Quốc đối với tăng trưởng các
nước. Dòng tài chính – đại diện cho tiết kiệm quốc gia được đo lường bởi chỉ số
Cán cân tài khoản vãng lai và Tài sản nước ngoài ròng. Thêm vào đó, đánh giá
tác động của thị trường Tài chính Trung Quốc đối với các nước. Biến động thị
trường tài chính được đo lường bởi lãi suất ngắn hạn (tín phiếu kho bạc Trung
5
Quốc 3 tháng), lãi suất dài hạn (trái phiếu 10 năm) và chỉ số giá chứng khoán
(Shanghai Composite Index).
Hai là, bằng phương pháp đồng liên kết Jonhansen kết hợp với VECM và kiểm định
nhân quả Granger nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng Trung Quốc, chỉ số giá
chứng khoán và tăng trưởng của Việt Nam.
Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu thời gian bằng phương pháp
Augmented Dickey-Fuller (ADF). Nếu chuỗi dừng ở sai phân bậc 1, kiểm định
đồng liên kết Jonhansen.
Tiến hành kiểm định nhân quả Granger để xem xét chiều tác động của các chuỗi
dữ liệu.
Hồi quy VECM để đánh giá mức độ tác động giữa các chuỗi dữ liệu thời gian.
1.4.
Đóng góp của đề tài
Bài nghiên cứu có một số đóng góp so với các tài liệu hiện có. Đầu tiên, đề tài nghiên
cứu sâu hơn về từng kênh tác động cụ thể chứ không chỉ đánh giá tổng thể như các
nghiên cứu trước. Thứ hai, Trung Quốc và hầu hết các nước Châu Á mới mở cửa giao
thương trong vài thập niên gần đây nên mốc thời gian được nghiên cứu trong mẫu từ
1999 – 2014 có tính cập nhật hơn. Thứ ba, bài nghiên cứu rõ ràng hơn sự tác động của
Trung Quốc đối với Việt Nam thông qua tăng trưởng và Thị trường chứng khoán.
của tăng trưởng các nước (hoặc nhóm nước) phát triển đến các nước, các nhóm nước
nhỏ khác trong khu vực hoặc trên toàn thế giới. Các kết quả đều ít nhiều đều đưa ra
được những mối liên kết, tương quan có ý nghĩa. Ví dụ như: Hyun-Hoon Lee và cộng
sự (2000) nghiên cứu sự tác động của chu kỳ kinh doanh của Mỹ và Nhật lên nền kinh
tế Úc theo hai kênh truyền dẫn là xuất khẩu và thị trường tài chính. Kết quả cho thấy
khi tỷ giá thả nổi, Mỹ tác động lên Úc mạnh hơn trong cả ngắn hạn và dài hạn, còn của
Nhật yếu đi và chỉ tác động trong ngắn hạn. Callen và McKibbin (2001) cho thấy trong
khi củng cố tài chính ở Nhật, ban đầu sẽ giảm tăng trưởng trong nước, trung hạn sẽ tác
động dương lên cả kinh tế trong nước và các nước trong khu vực (các nước Châu ÁThái Bình Dương). Nới lỏng tiền tệ làm tăng hoạt động trong nước ở ngắn hạn, tác
động lên các nước khu vực trong trung hạn.
Sự lan tỏa tăng trưởng từ các nước khu vực lớn đến các nước láng giềng nhỏ hơn thu
hút sự chú ý ngày càng tăng.
Arora và Vamvakidis (2001, 2005) tập trung nghiên cứu mối quan hệ tăng
trưởng giữa các nước lớn và các nước trong trong vực cũng như toàn thế giới. Năm
2001, tác giả nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế Mỹ đến các nước trên thế
giới và tác động theo từng khu vực. Thay vì thập trung ước lượng tác động của sự biến
động quốc tế (các cú sốc) lên chu kỳ kinh doanh trong nước như Ahmed và Loungani
(1999, 2001) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (a vector error-correction) để ước
8
lượng tác động của các cú sốc sản lượng quốc tế lên sản lượng nội địa của vài nhóm
nước trong các nền kinh tế thị trường mới nổi ở Châu Á và Mỹ Latinh. Arora và
Vamvakidis (2001) sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed-effects) để mục đích
phân tích tăng trưởng trong dài hạn. Tác giả hồi quy các nhân tố tăng trưởng và các các
biến kiểm soát qua một thời gian dài. Mô hình hồi quy tỷ lệ tăng trưởng thực GDP bình
có đề cập tác động của FDI và đầu tư danh mục đến dòng vốn của một số nước thông
qua kênh liên kết tài chính. Đồng thời, đề cập quy mô và và vai trò dẫn đầu của quốc
gia Nam Phi trong các chính sách đa quốc gia và sáng kiến kinh tế. Tuy nhiên, trong
các nghiên cứu của tác giả, không khuyến khích cô lập theo từng kênh tác động mà tập
trung thay thế tác động tổng hợp. Vì vậy, tác giả có đề xuất cho các nghiên cứu tương
lai có thể đánh giá tầm quan trọng của các kênh thay thế qua đó tăng trưởng được
truyền dẫn.
Frank và cộng sự (2003) nghiên cứu tác động của Mỹ đến khu vực Châu Á –
Thái bình Dương và khám phá mối liên kết thông qua kênh Thương Mại, Đầu Tư và
liên kết Tài Chính thông qua thị trường chứng khoán liên quan đến cuộc cách mạng IT.
Các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được lựa chọn trong 2 nhóm của các
nước Châu Á gồm các nước Châu Á phát triển (ADCs) như Nam Hàn, Đài Loan,
Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc cùng với 4 nước ASEAN: Indonesia, Philippin,
Thái Lan. Trước tiên, tác giả kiểm tra nhân quả của chuỗi thời gian GDP, và sau đó
kiểm tra chuỗi thời gian chỉ số giá chứng khoán. Đầu tiên, tác giả kiểm tra nhân quả
của Mỹ với các nước ADCs chính gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan.
Trung Quốc được lựa chọn từ các nước ASEAN+ vì quy mô nền kinh tế và tầm quan
trọng tăng trưởng của Trung Quốc trong nền kinh kế khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương. Sau khi sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết, mô hình
tự hồi quy vector (VAR) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa 5 chuỗi tỷ lệ
tăng trưởng GDP. Đối với chỉ số giá chứng khoán cũng tiến hành tương tự theo tiến
trình: kiểm định quan hệ nhân quả Granger theo cặp, và kiểm định quan hệ nhân quả
VAR. Dữ liệu chỉ số giá chứng khoán được thu thập theo ngày ở mức giá đóng cửa cho
10
11
như tác động của điều kiện tài chính lên hoạt động kinh tế thực. Trong bài sử dụng mô
hình tự hồi quy vector cấu trúc (SVAR) 6 biến bao gồm tỷ lệ lạm phát CPI, tỷ lệ tăng
trưởng GDP thực, và lãi suất T-bill 3 tháng cho mỗi quốc gia. Lãi suất đại diện cho
điều kiện tài chính. Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát đo lường hoạt động kinh tế
thực. Dữ liệu được thu thập theo quý từ quý I/1983 đến quý I/2007. Số quan sát khá
lớn nhưng xét ở vĩ mô các số liệu biến động không nhiều trong thời kỳ trước đó. Với
dữ liệu theo quý, độ trễ được sử dụng là 4. Nghiên cứu cho thấy sự thắt chặt trong điều
kiện tài chính của Mỹ tác động có ý nghĩa lên hoạt động thực ở Canada. Ví dụ 1% tăng
lên trong lãi suất T-bill 3 tháng (các yếu tố khác không đổi) dẫn tới giảm hơn 1% trong
tăng trưởng GDP thực ở Canada sau 3 quý. Điều này có thể giải thích bởi ba cách thức
tác động: kênh tài chính trực tiếp, sự suy giảm là do chi phí sử dụng vốn tăng khi các
công ty Canada tăng vốn ở Mỹ; kênh tài chính gián tiếp, sự tăng trưởng bị cản trở bởi
các điều kiện tài chính ở Canada bị thắt chặt do phản ứng với sự thắt chặt ở Mỹ; và
kênh thương mại, thông qua sự chậm lại của nền kinh tế Mỹ, và tương ứng với nhu cầu
giảm trong xuất khẩu Canada.
Ilahi và Shendy (2008) tìm thấy tỷ lệ tăng trưởng của GDP thực, tiêu dùng tư
nhân và đầu tư tư nhân ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi (bao gồm Pakistan) được
liên kết mạnh mẽ với dòng Kiều hối và tích lũy thặng dư tài chính trong các nước GCC
– Hội đồng hợp tác vùng vịnh. Sử dụng phương pháp VAR, tác giả nghiên cứu các mối
liên kết thông qua hai kênh là tài chính và kiều hối. Khác với định nghĩa kênh tài chính
như bài nghiên cứu của Swiston và Bayoumi (2008) – đại diện cho điều kiện tài chính
– trong bài, Ilahi và Shendy sử dụng khái niệm kênh tài chính với ý nghĩa tích lũy dòng
tài chính. Vì không có dữ liệu dòng tài chính song phương giữa GCC và các nước
Có một số phương pháp để kiểm tra mối liên kết giữa nền kinh tế các nước với nhau.
Arora và Vamvadidis (2001) áp dụng hồi quy tăng trưởng thông thường để nghiên cứu
1
Arora và Vamvakidis nghiên cứu Paper China’s economic growth: International Spillovers năm 2010 trên IMF
working paper. Năm 2011, chỉnh sửa và ấn bản trên tạp chí China & World Economy
13
tác động của tăng trưởng kinh tế của Mỹ đến các nước còn lại trên thế giới, mà không
quan tâm đến các kênh liên kết cụ thể như tài chính, đầu tư,… và áp dụng phương pháp
này cho các nghiên cứu tương tự sau đó. Callen và McKibbin (2001) sử dụng G-Cubed
để nghiên cứu tác động của thay đổi chính sách Nhật lên các nước Châu Á – TBD.
Watanabe (1996) nghiên cứu tác động của giá chứng khoán Mỹ và biến động lên các
nước Châu Á – TBD, sử dụng mô hình EGARCH (an exponential autoregressive
conditionally heteroskedastic). Frank và cộng sự (2003) sử dụng Granger kiểm tra quan
hệ nhân quả của các liên kết, và sau khi tìm ra nguyên nhân và ảnh hưởng, sử dụng
phân tích “phản ứng đẩy”. Tác giả kiểm tra quan hệ nhân quả và các động lực của
chuỗi thời gian GDP, sau đó, kiểm tra chuỗi thời gian của chỉ số giá chứng khoán.
Alain và Elsabé (2007) sử dụng mô hình a novel dynamic factor2 để điều tra mối quan
hệ giữa chu kỳ kinh doanh của Nam Phi với 11 nước Cộng đồng Phát triển Miền nam
Châu Phi (SADC).
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đều cho thấy mối quan hệ phụ thuộc
giữa các nước nhỏ và các nước lớn, do đó, chúng ta kỳ vọng một mối tương giữa các
quốc gia Châu Á với Trung Quốc thông qua nhiều lĩnh vực, nhiều kênh tác động.
Trong bài này, chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu theo hai phần lớn. Một là xét mối quan
hệ giữa nền kinh tế Trung Quốc và tăng trưởng của các nước trong khu vực Châu Á
(25 nước được xét trong mẫu) bằng cách hồi quy dữ liệu bảng Pool-OLS và FEM cho
dòng kiều hối từ Trung Quốc đến các nước không đáng kể, nên chúng ta sẽ bỏ qua yếu
tố này khi xem xét mối tác động của Trung Quốc đến các nước trong khu vực.