B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI
NGUYN TH
Đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật - lý luận và thực
tiễn
LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 60380101
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. ..
H NI -NM 2017
LI M U
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nhằm đáp ứng các yêu cầu của quá trình quản lý đất
nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
ở nước ta đã ban hành một số lượng rất lớn các văn bản quy phạm pháp luật, góp
phần hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo tiền đề cho công
cuộc đổi mới đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật ở nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết và hạn chế, chưa
đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đời sống kinh tế xã hội,
xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, thay thế kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật
lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống; đồng thời nâng cao chất lượng
đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật.
Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu bức thiết nêu trên,
tác giả đã quyết định chọn đề tài: “ Đánh giá tác động của văn bản quy phạm
pháp luật - lý luận và thực tiễn ” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
Có khá nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước về các khía cạnh liên quan tới
hoạt động đánh giá tác động của văn bản pháp luật nói chung và văn bản quy phạm
pháp luật nói riêng. Các bài nghiên cứu này thường tập trung phân tích cách thức
triển khai một báo cáo đánh giá tác động của văn bản pháp luật, sự phù hợp của việc
3
đánh giá này tại Việt Nam…
Đã có một số tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu về vấn đề này như:
nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Minh Đoan (2009), “Các tiêu chí đánh giá tác
động của văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (23), tr. 2228; Nguyễn Minh Tuấn (2011), Sử dụng công cụ đánh giá dự báo tác động pháp
luật (RIA) trong quá trình hoạch định chính sách, Trung tâm thông tin và dự báo
kinh tế - xã hội Quốc gia, Hà Nội; hay nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Kim Thoa,
ThS. Nguyễn Thị Hạnh (2008), “Đánh giá tác động pháp luật”, Tạp chí nghiên cứu
lập pháp,(6), tr. 53-58. Cả ba nghiên cứu nói trên đều chỉ ra rằng đánh giá tác động
pháp luật là một xu hương toàn cầu, nó giúp quản lý chặt chẽ việc ban hành chính
sách và các văn bản pháp luật. Việc đánh giá tác động của văn bản pháp luật còn
được tiến hành trước và sau khi ban hành. Điểm giống nhau của cả 3 nghiên cứu
này là họ cùng đi đến một kết luận chung: hoạt động đánh giá tác động của văn bản
pháp luật cần được thực hiện trong những phạm vi nhất định và các cấp độ khác
nhau; trong từng trường hợp cụ thể những đánh giá cần được cụ thể hóa trên cơ sở
xác định rõ mục đích yêu cầu và mức độ cần thiết của việc đánh giá. Tuy nhiên,
cách tiếp cận của các tác giả trên là không giống nhau. PGS.TS Nguyễn Minh Đoan
Phân tích những tác động pháp lý ở các nước OECD, Delia Rodrigo (2005),
“Regulatory impact Analysis in OECD countries challenges for developing
countries”, chỉ ra rằng việc đánh giá tác động của văn bản pháp luật không phải là
5
một cơ sở đầy đủ để quyết định chính sách nhưng nó cần được sử dụng một cách tốt
nhất như một công cụ để nâng cao chất lượng chính trị. Nghiên cứu này cũng đề cập
sâu đến vấn đề ở các nước đang phát triển, quá trình thực hiện báo cáo đánh giá tác
động văn bản pháp luật mới chỉ đang bắt đầu áp dụng một số hình thức đơn lẻ. Các
phương pháp này là chưa đầy đủ và không được áp dụng một cách có hệ thống trên
lĩnh vực chính sách. Kết luận quan trọng của nghiên cứu này là: không có mô hình
đúng và chuẩn đối với hoạt động đánh giá tác động của văn bản pháp luật, các mô
hình thích hợp sẽ phụ thuộc vào chính trị, văn hóa, đặc điểm xã hội của mỗi quốcgia.
Tóm lại, đa số các nghiên cứu đều chỉ ra được những tiêu chí và phương pháp
đánh giá tác động của văn bản pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật
nói riêng; việc đánh giá này là rất cần thiết trong việc điều hành chính sách. Nhưng
chưa có một nghiên cứu cụ thể nào quan tâm và đi sâu phân tích thực trạng đánh giá
tác động của văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta trong khoảng 10 năm trở lại
đây; thêm vào đó tác giả lấy một số ví dụ cụ thể để tiến hành phân tích hoạt động
đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đưa ra những kết luận và
khuyến nghị chính sách. Do đó, đề tài nghiên cứu này là thực sự cần thiết.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về tình hình đánh giá tác động của
văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, luận văn hướng đến mục tiêu làm rõ bản
chất và vai trò của việc đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật. Trong
đó, tập trung phân tích về khái niệm, ý nghĩa, vai trò, nội dung và phương pháp của
đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, luận văn còn đánh giá
thực tiễn hoạt động đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta
6
vấn đề lý luận cũng như thực tiễn hoạt động đánh giá tác động của văn bản quy
phạm pháp luật.
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về việc đánh giá
tác động của văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó đặc biệt đề cập sâu đến các nội
dung và phương pháp đánh giá phù hợp với điều kiện phát triển ở nước ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn, luận văn đã cho thấy thực trạng quy định pháp luật và thực
tiễn thực hiện hoạt động đánh giá văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta trong
khoảng 10 năm trở lại đây. Và một trong những kết luận quan trọng của bài nghiên
cứu là: cần thiết phải phân tích nhiều nội dung đánh giá kết hợp với nhau trong việc
đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn cũng thành công trong
việc đưa ra ví dụ nhằm phân tích báo cáo đánh giá tác động của một số văn bản quy
phạm pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng của đất nước, từ đó rút ra được những
khuyến nghị trong thực tế triển khai hoạt động đánh giá tác động này. Bên cạnh
đấy, luận văn còn chỉ ra rằng việc tham vấn ý kiến công chúng có vai trò rất quan
trọng trong quá trình xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản quy phạm
pháp luật. Cuối cùng luận văn đề ra được những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta
trong thời gian tới, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hệ thống pháp
luật, thúc đảy sự phát triển kinh tế, xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
8
Ngoài danh mục các hình, bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các
tài liệu tham khảo, lời cam đoan và các phụ lục, luận văn được kết cấu như sau:
Lời mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp
luật
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động đánh giá
phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng
thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong luật này. Văn bản có chứa
quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình
10
tự, thủ tục quy định trong luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.
Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có rất nhiều công cụ,
cách thức để nâng cao chất lượng cho văn bản quy phạm pháp luật. Một trong
những công cụ này chính là hoạt động đánh giá tác động của văn bản quy phạm
pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, tác dụng vô cùng quan trọng trong đời
sống xã hội, thường được ban hành và sử dụng trong một thời gian khá dài, nên khi
ban hành cần tiến hành đánh giá tác động của nó thật khoa học và chính xác.
Việc đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật thường được tiến hành
trong hai trường hợp: đánh giá khả năng tác động của dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật (đánh giá có tính chất dự báo về khả năng tác động của dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật) và đánh giá hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật (đánh
giá kết quả tác động thực tế của văn bản quy phạm pháp luật trong đời sống xã hội).
Đánh giá khả năng tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm dự báo
những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản để có biện pháp khắc phục
chúng trước hoặc sau khi ban hành. Đồng thời đánh giá khả năng tác động của dự
thảo văn bản còn là cơ sở so sánh, đánh giá hiệu quả của văn bản quy phạm pháp
luật sau khoảng thời gian thi hành nhất định. Việc đánh giá hiệu quả của văn bản
quy phạm pháp luật trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội có tác dụng nắm
bắt được những gì đang thực sự diễn ra trong thực tế để hoàn thiện văn bản quy
phạm pháp luật nói riêng, hệ thống pháp luật nói chung trong tương lai1.
Ở góc độ khác, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là
một quá trình phân tích các tác động có thể của một sự thay đổi về chính sách. Đặc
11
sách, bằng việc phân tích chi phí, kết quả từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật”3
. Quá trình này nhằm đưa ra nhiều phương án khác nhau để nghiên cứu, phân tích,
đánh giá so sánh tác động của các giải pháp. Từ đó cung cấp cho các cơ quan có
thẩm quyền nhằm lựa chọn những phương án tốt nhất. Công cụ này được sử dụng
để đánh giá tất cả các tác động kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị và tài chính…
của văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ
trung ương đến địa phương.
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản pháp luật chứa đựng các quy
phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính
chất quan trọng trong phạm vi toàn đất nước. Chính vì vậy trong quá trình xây dựng
cơ quan soạn thảo cần tính toán, xem xét kỹ lưỡng để cho ra đời một văn bản quy
phạm pháp luật tốt nhất có thể. Do đó, đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp
luật là một khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cũng như đẩy mạnh hiệu
quả của hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp cơ quan có thẩm
quyền có cái nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề sẽ giải quyết trong văn bản quy
phạm pháp luật. Không chỉ riêng Việt Nam mà rất nhiều các quốc gia trên thế giới
từ lâu đã đề cao vai trò của việc đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật. Quá
trình này là yêu cầu bắt buộc tại 13 quốc gia thành viên của tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế châu Âu (OECD). Sở dĩ, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp
13
luật ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm và sử dụng bởi nó mang lại những
hiệu quả vô cùng thiết thực. Cụ thể như sau:
1.2.1 Là công cụ hoạch định chính sách và lập pháp hữu hiệu.
Quá trình thực hiện đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật buộc các cơ
quan soạn thảo phải xác định rõ ràng mục tiêu của đề xuất thay đổi chính sách trong
văn bản quy phạm pháp luật; cũng như đánh giá đầy đủ các tác động của những
tính thống nhất đồng bộ và tính khả thi trong thực tiễn nhằm điều chỉnh kịp thời các
vấn đề bức thiết của đời sống kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Nói một cách chi
tiết hơn thì đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật là phân tích toàn
diện, tổng thể về các phương án chính sách trong mối tương quan giữa chi phí và lợi
ích, đánh giá tiềm năng các tác động trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, thống nhất hài hòa
giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và đảm bảo, nâng cao chất lượng môi
trường, lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững vào nội dung pháp luật. Từ đó,
giúp các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn được các phương án chính sách tối ưu và
cho ra đời một sản phẩm lập pháp có tính bền vững, ổn định và khả thi.
Đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật còn giúp giảm thiểu văn
bản kém chất lượng và tạo ra tính bền vững cho chính sách. Cụ thể là nó góp phần
giảm thiểu các tác động tiêu cực của pháp luật, hạn chế việc làm tăng gánh nặng
pháp luật tới các đối tượng, hạn chế chi phí quản lý ở mức tối thiểu nhưng đem lại
hiệu quả vì đạt được mục tiêu đề ra. Vì vậy, nếu làm tốt, việc đánh giá tác động của
15
12
văn bản quy phạm pháp luật sẽ nâng cao hiệu quả chi phí của các quyết định liên
quan đến quản lý nhà nước, qua đó giảm được số các quy định chất lượng thấp và
không cần thiết. Sau quá trình đánh giá tác động, nếu văn bản quy phạm pháp luật
đó là chưa thực sự cần thiết thì Nhà nước có thể thực hiện các công cụ khác điều
chỉnh góp phần giảm chi phí cho ngân sách nhà nước mà vẫn đem lại hiệu quả cho
xã hội.
1.2.3 Đảm bảo quy trình xây dựng pháp luật được công khai, minh bạch.
Xây dựng pháp luật dựa trên cơ sở đánh giá tác động là quá trình học hỏi và
tham vấn ý kiến các bên liên quan, thể hiện trách nhiệm của cơ quan ban hành với
đối tượng chịu tác động. Tính minh bạch của văn bản quy phạm pháp luật cũng
được bảo đảm dựa trên cơ sở tham vấn ý kiến đối tượng chịu tác động rất đa dạng.
Thực tế, nếu không có sự tham vấn ý kiến, quá trình xây dựng văn bản quy phạm
1.2.4 Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội.
Đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật góp phần hình thành một
nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, một xã hội công bằng, văn minh, đảm bảo các
mục tiêu phát triển bền vững. Thông qua hoạt động này, những quy định không cần
thiết, tạo ra gánh nặng cho xã hội và làm méo mó hoạt động của thị trường, làm
giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế sẽ bị loại bỏ. Ngày nay,
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc sử dụng công cụ đánh giá tác động
17
của văn bản quy phạm pháp luật càng góp phần cải thiện năng lực điều hành kinh tế
của Chính phủ trong việc cắt giảm các chi phí, rủi ro từ các quy định của pháp luật
và các rào cản thương mại để tạo ra một môi trường đầu tư tích cực cho doanh
nghiệp.
Ngoài ra việc đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật còn tiết chế tác
động tiêu cực đến cạnh tranh, giúp nhà hoạch định chính sách so sánh được lợi ích
của cộng đồng với những chi phí bỏ ra, phù hợp tình hình thực tế và không tạo thêm
chi phí phát sinh quá lớn. Ví dụ, trong lĩnh vực thương mại các văn bản quy phạm
pháp luật cần tránh việc gây trở ngại cho việc ra nhập, rút lui khỏi thị trường và
ngăn cản quá trình sáng tạo. Văn bản quy phạm pháp luật không nên hạn chế cạnh
tranh trừ khi đảm bảo được rằng: Lợi ích của cộng đồng từ việc hạn chế cạnh tranh
lớn hơn chi phí.
Thông qua quá trình đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan
soạn thảo cũng xây dựng được văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, phù hợp với
lợi ích quốc gia và đảm bảo tuân thủ các điều ước quốc tế. Nói rộng ra, việc đánh
giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật sẽ góp phần tạo nên hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
theo hướng tích cực. Kết quả cao nhất của việc đánh giá văn bản quy phạm pháp
luật là hình thành một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế toàn cầu trong nền tảng duy trì một xã hội công bằng.
19
+ Đánh giá tác động về kinh tế
+ Đánh giá tác động về xã hội
+ Đánh giá tác động về thủ tục hành chính (nếu có)
+ Đánh giá tác động về giới (nếu có)
+ Đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật
Bước 3: Phân tích tổng hợp các tác động và xây dựng dự thảo báo cáo đánh
giá tác động
Tổng hợp, phân tích các tác động của các giải pháp chính sách là bước hết sức
quan trọng. Đối với một số chính sách có mục tiêu rõ ràng hoặc sẽ chủ yếu có thuần
túy tác động kinh tế hoặc thuần túy tác động xã hội, khi đó đơn vị đánh giá có thể
tổng hợp và phân tích hoặc đưa ra các phân tích so sánh và đưa ra khuyến nghị về
giải pháp chính sách được lựa chọn một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên trên thực tế,
nhiều chính sách mang lại đồng thời cả tác động kinh tế, tác động xã hội, bình đằng
giới và hệ thống pháp luật. Thực tế cho thấy, nhiều lợi ích kinh tế lại không hoàn
toàn song trùng với lợi ích về xã hội, bình đẳng giới hoặc môi trường, thậm chí
chúng có tỷ lệ nghịch với nhau. Vì vậy, vai trò quan trọng của đơn vị nghiên cứu là
tổng hợp tất cả các tác động, kết quả đánh giá, phân tích một các ngắn gọn, dễ đọc,
dễ hiểu làm cơ sở cho quá trình tham vấn ý kiến hoặc thảo luận với các chuyên gia.
Bước 4: Tham vấn ý kiến đối với kết quả và báo cáo đánh giá tác động
Việc tham vấn có thể được thực hiện với các chuyên gia, nhà khoa học, với
công chúng, với các đối tượng chịu sự điều chỉnh hoặc các hiệp hội doanh nghiệp,
tổ chức xã hội… Quá trình tham vấn có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức
như: hội thảo, thảo luận nhóm, xin ý kiến bằng văn bản, thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, Internet… Các ý kiến thu thập được từ quá trình tham vấn, đặc
20
Xác định được các phương án để giải quyết vấn đề
Xác định các phương án để đạt được mục tiêu đã đặt ra. Mỗi vấn đề có thể có từ
3- 6 phương án, trong đó phải có ít nhất một phương án “giữ nguyên hiện trạng”,
một phương án “sửa đổi, ban hành văn bản quy phạm pháp luật” - biện pháp can
thiệp trực tiếp và có một biện pháp khác không mang tính pháp lý.
Đánh giá tác động các phương án
Tùy vào mỗi vấn đề cần giải quyết mà ban soạn thảo quyết định đánh giá các
phương án đã được lựa chọn dựa trên phương pháp phân tích định lượng, hay
phương pháp phân tích định tính, hoặc kết hợp cả hai. Dữ liệu cho quá trình phân
tích này có thể được thu thập bằng nhiều hình thức khác nhau: dựa vào nguồn tài
liệu sẵn có, tham khảo các công trình nghiên cứu, các kinh nghiệm liên quan, thông
qua phỏng vấn, lập bảng hỏi… Sau khi đã đánh giá tác động tích cực và tiêu cực
của các phương án, cơ quan soạn thảo văn bản phải so sánh các tác động này và đưa
ra lựa chọn. Khi so sánh thống nhất các phương án đã đề xuất, cần trình bày các ưu,
nhược điểm của từng phương án một cách thuyết phục để chứng minh phương án
được lựa chọn rõ ràng có ưu thế hơn so với các phương án khác.
Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật thì nội dung đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật cần được
đánh giá tác động trên nhiều phương diện: kinh tế, xã hội, thủ tục hành chính (nêu
22
có), bình đẳng giới (nếu có) và tác động đối với hệ thống pháp luật:
- Tác động về kinh tế của văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá trên cơ sở
phân tích chi phí và lợi ích đối với một hoặc một số nội dung về sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng, môi trường đầu tư và kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, tổ chức và cá nhân, cơ cấu phát triển kinh tế của quốc gia hoặc địa phương,
chi tiêu công, đầu tư công và các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế.
- Tác động về xã hội của văn bản quy phạm pháp luật cần được đánh giá trên cơ
trực tiếp với nhau;
* Chi phí và lợi ích được đánh giá về phương diện toàn bộ nền kinh tế, và do
vậy đảm bảo được cái nhìn toàn cục. Điều này tương phản với những trường hợp
như đánh giá tài chính mà thường được sử dụng để đánh giá một cá nhân, một
doanh nghiệp hoặc một tổ chức4.
Như vậy, phương pháp phân tích chi phí lợi ích giúp lượng hóa các chi phí và
lợi ích cơ bản thành giá trị tiền tệ. Phương pháp này cho phép so sánh các phương
án về phương diện chi phí (hoặc lợi ích) xã hội ròng của chúng, qua đó góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình đánh giá và ra quyết định. Khi có thể, nên tiến
hành các phân tích về chi phí lợi ích hơn là phân tích về tính hiệu quả chi phí. Tuy
nhiên, một vấn đề của phương pháp này là những khó khăn nảy sinh khi tiến hành
đánh giá chi phí và lợi ích trong bối cảnh không có giá thị trường (ví dụ, như giá trị
thị trường của tinh thần làm việc). Do những tác động không thể đánh giá theo giá
24
trị tiền tệ đó mà phương pháp phân tích chi phí lợi ích thường được sử dụng kết hợp
cùng các phương pháp khác trong việc xem xét một vấn đề có nhiều khía cạnh.
Các quyết định về tính hiệu quả tổng thể của hành động pháp lý cần được thực
hiện trên cơ sở ảnh hưởng của nó đối với một nhóm trong xã hội. Các nhà xây dựng
chính sách cần ra quyết định dựa trên những gì được coi là tốt nhất cho cộng đồng.
Bằng cách đánh giá chi phí xã hội, hơn là chỉ đánh giá chi phí và lợi ích tư nhân và
thị trường. Phân tích chi phí lợi ích góp phần đảm bảo rằng có chính sách tốt nhằm
giải quyết các vấn đề chính sách. Theo quy luật chung, các hành động của Chính
phủ chỉ có cơ sở khi có lợi ích xã hội thuần lớn hơn 0.
Một lợi thế của phương pháp đánh giá chi phí lợi ích là lợi ích thu được và chi
phí phát sinh tại các thời điểm khác nhau có thể được so sánh một cách rõ ràng.
Bằng phương pháp chiết khấu, có thể quy đổi giá trị trong tương lai về giá trị hiện
tại. Tương tự như vậy, có thể sử dụng lãi suất để quy đổi giá trị tiền tệ hiện tại của
một khoản tiền nào đó sang giá trị trong tương lai của nó, ví dụ như là trong 15