Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ……

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC KIỂM DỊCH SẢN PHẨM ĐỘNG VẬT
DÙNG LÀM THỰC PHẨM NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..

1


HÀ NỘI – NĂM 2017
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTP : An toàn thực phẩm
Bộ NNPTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Cục QLCLNLSTS: Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản
NTD : Người tiêu dùng
QPPL : Quy phạm pháp luật
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

2



2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản
phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 27
2.1.1. Điều kiện đối với chủ thể sản xuất, nhập khẩu sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập
khẩu 27
2.1.2. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm tra điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm sản phẩm
động vật dùng làm thực phẩm được phép nhập khẩu 31
2.1.3. Thẩm quyền, quy trình, thủ tục cấp phép đối với sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm
nhập khẩu vào Việt Nam 34
2.1.4. Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 37
2.1.5. Trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
chuyên ngành trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu 39
2.2. Đánh giá việc thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật
dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 43
2.2.1. Những kết quả đạt được trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong kiểm
dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 43
2.2.2. Những hạn chế trong thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm
động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 46
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 49
Tiểu kết chương 2: 60
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KIỂM DỊCH
SẢN PHẨM ĐỘNG VẬT DÙNG LÀM THỰC PHẨM NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM 61
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản
phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam 62
3.2.1. Xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thú y.

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam không
ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, năm 2013, cả
nước ghi nhận có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 5.558 người bị ngộ độc, 5.020 người phải
nhập viện và số nạn nhân tử vong là 28 người; năm 2014, có 194 vụ ngộ độc thực phẩm,
làm 5.203 người bị ngộ độc, 4100 người phải nhập viện và số nạn nhân tử vong là 43
người. Năm 2015, cả nước ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 4.965 người bị ngộ
độc và số nạn nhân tử vong là 23 người1. Số lượng người bị ung thư và mắc các bệnh hiểm
nghèo ở Việt Nam hiện nay cũng đang ở mức đáng báo động.
Có rất nhiều nguyên nhân làm gia tăng các vụ ngộ độc thực phẩm, gia tăng tỷ lệ
mắc các bệnh ung thư, trong đó có một phần nguyên nhân xuất phát từ con đường ăn uống.
Việc sử dụng rau, quả có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức giới hạn
cho phép; sử dụng thực phẩm là động vật, sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, hết hạn
sử dụng, bị nhiễm vi sinh vật, tồn dư kháng sinh và các chất độc hại… là một trong những
nguyên nhân cơ bản gây ngộ độc cho con người. Hậu quả là hàng năm, đã có hàng nghìn
người phải nhập viện, sức khỏe, tính mạng, tiền bạc bị ảnh hưởng; doanh nghiệp cũng chịu
thiệt hại do công nhân phải nghỉ làm, nhà nước thêm gánh nặng chi phí hỗ trợ khắc phục
hậu quả. Thực trạng về an toàn thực phẩm hiện nay đang tạo nên nhiều bức xúc cho cả
những người dân và các cơ quan có thẩm quyền. Như phát biểu của đại biểu Quốc hội Trần
Ngọc Vinh thì: “con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ
ngắn và dễ dàng thế”2.
Có thể nói, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong sử dụng thực phẩm cần
phải được xem xét một cách toàn diện và thấu đáo hơn.
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng tương đối đầy đủ. Ngoài Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, các quy phạm
pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nằm rải rác ở rất nhiều các văn bản pháp
luật khác, đặc biệt là các văn bản pháp luật chuyên ngành. Trong thực tế áp dụng pháp luật,
đã xuất hiện không ít sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau, cũng như còn tồn tại một số khoảng trống pháp
luật trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt, đối với hàng hóa là sản phẩm

Phúc trong việc bảo vệ người tiêu dùng, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội… Ngoài ra, còn có các nghiên cứu nhỏ thể hiện dưới dạng các bài viết trên các tạp
chí chuyên ngành như: ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; TS. Đặng Vũ Huân, Pháp luật
và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2000…
Với các công trình nghiên cứu nói trên, có thể nhận thấy, vấn đề bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng đã được các nhà nghiên cứu khoa học, luật học… phân tích, bình luận ở
nhiều khía cạnh khác nhau. Đó cũng là điều tất yếu bởi suy cho cùng tất cả các nền kinh tế
đều hướng đến phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Ngay kể cả đối với hoạt động kiểm
dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam cũng là nhằm mục
đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, nội dung bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong lĩnh vực này cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu, trong khi dưới
góc độ thực tiễn đây là một vấn đề cấp thiết bởi liên quan trực tiếp đến vấn đề an toàn thực
phẩm, đến tính mạng, sức khỏe con người và dưới góc độ pháp lý, việc nghiên cứu vấn đề
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong một lĩnh vực chuyên ngành sẽ đưa tới cái nhìn đa
chiều, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập
khẩu vào Việt Nam dưới góc độ pháp lý, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về
bảo vệ người tiêu dùng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả nội dung
bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm
nhập khẩu vào Việt Nam.
Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu một số nội dung
sau:
2


Thứ nhất, nghiên cứu những cơ sở lý luận cũng như các vấn đề pháp lý của kiểm
dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, yêu cầu bảo vệ

trong lĩnh vực kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam?
Luận văn đã đi sâu phân tích, làm rõ và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về pháp
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực
phẩm nhập khẩu hiện nay, đưa ra và phân tích những vấn đề có tính lý luận về kiểm dịch
sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu làm cơ sở cho các luận cứ khoa học của
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực
3


phẩm nhập khẩu bằng pháp luật hiện hành. Việc nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện hơn
pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động
vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu, nhất là khi Việt Nam gia nhập
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định kinh tế đối tác chiến lược xuyên
Thái Bình Dương (TPP)3.
Về mặt giá trị thực tiễn, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật Việt
Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm
thực phẩm nhập khẩu, tìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra các giải pháp để khắc phục
nhằm nâng cao tính khả thi, tính hiệu quả của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng; tạo hành lang pháp lý thuận lợi để góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người tiêu dùng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợn gười
tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu hiện nay.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong lĩnh vực kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kiểm
dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu.

bất kỳ dịch vụ nào bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa hoặc được hưởng lợi từ dịch
vụ khác với người mua hàng hóa hoặc thuê sử dụng dịch vụ đó, không bao gồm người mà
có được hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ như vậy để bán lại hoặc để cho bất kỳ mục đích
thương mại nào”.
Điểm qua một vài khái niệm người tiêu dùng của các nước cho thấy mặc dù pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng các nước có quan điểm không giống nhau về NTD, tuy nhiên
có một điểm chung là các quốc gia đều giới hạn NTD là các cá nhân mua sắm hàng hóa,
dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề
nghiệp chuyên nghiệp và cơ sở xác lập quan hệ tiêu dùng thông qua quan hệ mua bán hoặc
sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng 2010 thì người tiêu dùng “là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu
dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.
Với khái niệm này, có thể hiểu cơ sở để xác lập tư cách NTD trong pháp luật Việt
Nam bao gồm:
5


(i) Chủ thể, có thể là cá nhân, gia đình, tổ chức;
(ii) Sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia
đình, tổ chức;
(iii) Quan hệ tiêu dùng được xác lập thông qua hợp đồng mua bán, cung ứng dịch
vụ hoặc phát sinh trên cơ sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Khái niệm trên cho thấy, NTD trong pháp luật Việt Nam là những “người tiêu dùng
cuối cùng”, “người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng” và không nhằm mục đích kinh
doanh, thương mại hay nghề nghiệp. Như vậy, ngoại trừ chủ thể có thể trở thành NTD bao
gồm cả tổ chức, còn lại, NTD theo pháp luật Việt Nam được định nghĩa khá tương đồng so
với các nước khác.
1.1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Có thể nói, trong mọi nền sản xuất của tất cả các quốc gia, người tiêu dùng luôn là

6


có thể đảm bảo rằng các tổ chức, cá nhân làm ăn thiếu nghiêm túc sẽ không lơ là trong việc
đảm bảo chất lượng của sản phẩm, lúc đó, người tiêu dùng sẽ là bên chịu thiệt thòi. Điều đó
hoàn toàn không có lợi cho sự phát triển kinh tế nói chung bởi nền kinh tế hàng hóa là để
phục vụ người tiêu dùng, một khi người tiêu dùng quay lưng với sản phẩm do doanh
nghiệp làm ra thì cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng phá sản, nền
kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải có các quy định
pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD. Theo đó, NTD phải có các quyền cơ bản nhất được pháp
luật bảo vệ; tổ chức, cá nhân phải có những nghĩa vụ cụ thể để đảm bảo sự an toàn của thực
phẩm mà họ cung cấp; pháp luật phải đư ra những quy định chi tiết về giới hạn các chỉ tiêu
an toàn đối với sức khỏe con người…
Tóm lại, cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật bởi trước hết là
bảo vệ một chủ thể nằm ở vị trí yếu thế, sau nữa chính là bảo vệ sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.2. Khái niệm, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kiểm dịch
sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu
1.1.2.1. Khái niệm sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm
Sản phẩm động vật là những sản phẩm thuộc về động vật, có nguồn gốc từ động vật. Vì
vậy, để hiểu thế nào là sản phẩm động vật, trước hết cần hiểu thế nào là động vật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh Thú y 2004, động vật “là các loài thú, cầm, bò
sát, ong, tằm và các loài côn trùng khác; động vật lưỡng cư; cá, giáp xác, nhuyễn thể, động vật có
vú sống dưới nước và các loài động vật thủy sinh khác”. Với cách định nghĩa theo kiểu liệt kê này,
khái niệm động vật được hiểu bao gồm các loại động vật trên cạn và động vật dưới nước.
Tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh Thú y 2004, khái niệm sản phẩm động vật cũng được định
nghĩa theo cách liệt kê, là: “thịt, trứng, sữa, mật ong, sáp ong, sữa ong chúa, tinh dịch, phôi động
vật, huyết, nội tạng, da, lông, xương, sừng, ngà, móng, các sản phẩm khác có nguồn gốc từ động
vật”. Như vậy, trong khái niệm này chưa có sự phân biệt rõ các loại sản phẩm động vật trên cạn và
động vật thủy sản, hơn nữa, đối với một số loại động vật thủy sản đã qua sơ chế hoặc chế biến ở
dạng nguyên con, sẽ rất khó xác định là động vật hay sản phẩm động vật bởi không được liệt kê

thức ăn cho gia súc hoặc làm phân bón trong nông nghiệp5.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 30/2009/TT-BNN ngày
04/6/2009 của Bộ NNPTNT ban hành quy định kiểm tra, giám sát vệ sinh thú
y đối với sản xuất, kinh doanh sản phẩm động vật, giết mổ động vật sử dụng
làm thực phẩm, khái niệm sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm được hiểu
“là thịt gia súc, thịt gia cầm, trứng gia cầm, sữa, sản phẩm của sữa ở dạng tươi
sống và sơ chế sử dụng làm thực phẩm”. Trong khi đó, khái niệm sản phẩm
động vật thủy sản dùng làm thực phẩm không có định nghĩa riêng mà hiện
đang được hiểu chung với khái niệm thực phẩm thủy sản. Theo đó, khoản 16
Điều 3 Thông tư số 55/2011/TT-BNNPTNT ngày 03/8/2011 của Bộ
NNPTNT quy định kiểm tra, chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm thủy
sản quy định: “thực phẩm thủy sản là tất cả các loài động, thực vật sống trong
8


nước và lưỡng cư, kể cả trứng và những bộ phận của chúng được sử dụng làm
thực phẩm hoặc thực phẩm phối chế mà thành phần của nó có chứa thuỷ sản”.
Như vậy, có thể thấy, trong Pháp lệnh Thú y 2004 hiện nay chưa có
khái niệm cụ thể về sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm (bao gồm sản
phẩm động vật trên cạn và sản phẩm động vật thủy sản); khái niệm này đang
được ghi nhận ở văn bản dưới luật và về cơ bản đang được phân chia theo đối
tượng quản lý nhà nước. Điều đó có nghĩa, tổ chức, cá nhân phải khai báo
chính xác mục đích sử dụng khi nhập khẩu các sản phẩm động vật, trên cơ sở
đó, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành các quy trình kiểm
tra cụ thể (có thể là kiểm tra chất lượng nếu sản phẩm động vật nhập khẩu với
mục đích chế biến thức ăn chăn nuôi; hoặc thực hiện kiểm dịch, chứng nhận
an toàn thực phẩm nếu sản phẩm động vật nhập khẩu với mục đích sử dụng
làm thực phẩm…).
Từ những nội dung phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sản phẩm
động vật dùng làm thực phẩm như sau: “sản phẩm động vật dùng làm thực

vật, các chất tồn dư độc hại, các loại kháng sinh, chất cấm có trong sản phẩm
động vật. Hiện nay, mới chỉ có 121 loại bệnh động vật, 05 nhóm vi sinh vật
22
gây hại và 08 nhóm chất độc hại thuộc danh mục đối tượng kiểm dịch theo
quy định tại Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày 25/7/2005 của Bộ
NNPTNT ban hành danh mục đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động
vật; danh mục động vật, sản phẩm động vật thuộc diện phải kiểm dịch.
Như vậy, khái niệm kiểm dịch có thể hiểu “là việc thực hiện các biện
10


pháp kiểm tra, chẩn đoán, xét nghiệm để phát hiện dịch bệnh động vật, các
chất tồn dư, vi sinh vật gây hại, các chất độc hại... có trong sản phẩm động
vật”.
Kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu cũng là
một hình thức kiểm dịch. Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm dịch là hàng hoá có
khả năng gây mất an toàn (sản phẩm, hàng hoá nhóm 2): “là sản phẩm, hàng
hoá trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng
mục đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản,
môi trường” (khoản 4 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa). Đối
tượng của kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu là
các loại kháng sinh, vi sinh vật gây hại, chất tồn dư trong sản phẩm động vật.
Nếu như kiểm dịch động vật là để phát hiện các loại dịch bệnh động vật
nhằm ngăn ngừa sự lây lan dịch bệnh động vật, ngăn chặn sự lây truyền dịch
bệnh từ động vật sang con người thì kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm
thực phẩm kiểm tra các chất kháng sinh tồn dư trong sản phẩm do quá trình
chăn nuôi sử dụng để phòng, chữa bệnh cho động vật mà khi giết mổ các chất
kháng sinh này vẫn chưa được động vật đào thải hết. Về lâu dài, việc sử dụng
thường xuyên sản phẩm động vật tồn dư chất kháng sinh sẽ dẫn tới tình trạng
kháng kháng sinh ở con người.

có nghĩa trách nhiệm của các cơ quan chỉ phát sinh sau khi hàng hóa đã được
lưu thông trên thị trường. Riêng đối với hàng hóa là sản phẩm động vật dùng
làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người
6 sinh-vat- trong-thit- va-cac- san-pham- tu-thit- 2074/
12


24
tiêu dùng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát sinh từ rất sớm, ngay từ
khi doanh nghiệp có đề nghị nhập khẩu sản phẩm, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đã tiến hành kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y tại cơ sở sản xuất, nếu đáp
ứng các tiêu chuẩn theo quy định cơ sở mới được phép xuất khẩu vào Việt
Nam. Khi nhập khẩu, sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm sẽ được cơ
quan có thẩm quyền kiểm dịch, cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho
sản phẩm đạt yêu cầu ngay tại cửa khẩu hoặc tại điểm tập kết trước khi sản
phẩm được đưa ra tiêu thụ trên thị trường. Như vậy, có thể xem kiểm dịch sản
phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu là một hình thức tiền kiểm
trong công tác bảo vệ người tiêu dùng. Chính vì vậy, nếu thực thi công tác
kiểm dịch tốt thì việc bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực này là vô cùng
hiệu quả.
Trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kiểm dịch
sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu trước hết là trách nhiệm
của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm của toàn xã hội. Luật
Bảo vệ quyền lợi NTD quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Các Bộ chuyên ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng. Khoản 3 Điều 63 Luật An toàn thực phẩm quy định trách nhiệm của Bộ

14


đó, việc nhập khẩu các sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm góp phần thúc
đẩy doanh nghiệp trong nước chú trọng hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao
chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập ngay chính
trên sân nhà.
26
Mặt trái của việc cho phép nhập khẩu ồ ạt các loại sản phẩm động vật
dùng làm thực phẩm là nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ trong nước đã bị ảnh
hưởng không nhỏ bởi một số loại sản phẩm có giá bán rẻ hơn nhiều so với sản
phẩm cùng chủng loại được sản xuất trong nước. Ngoài ra, người tiêu dùng
cũng phải đứng trước nhiều lựa chọn mà không biết hoặc không có khả năng
để nhận biết được sự lựa chọn của mình có đúng hay không? số tiền phải trả
có tương xứng với chất lượng sản phẩm mua về hay không?
Thời gian vừa qua, thị trường thực phẩm trong nước chứng kiến sự hiện
diện của thịt đùi gà, cánh gà Mỹ nhập khẩu có giá bán chỉ bằng một nửa giá
sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước7, hay sự xuất hiện các thông tin về
việc một số chợ đầu mối nhập tim lợn đông lạnh giá 30 nghìn, sau đó dùng
tiết tươi phủ lên và bán với giá 220 nghìn đồng8; Vụ Chi cục Thú y TP. Hồ
Chí Minh và Phòng Cảnh sát môi trường thành phố (PC49) bất ngờ kiểm tra
và phát hiện một số cửa hàng kinh doanh thịt bò có hành vi rã đông thịt trâu
đông lạnh có nguồn gốc từ Ấn Độ, sau đó ngâm tẩm hóa chất để bán ra thị
trường với danh nghĩa thịt bò tươi9; Vụ 10 tấn thịt bò nhập khẩu từ Úc về
Việt Nam sau hai lần kiểm tra mẫu vẫn phát hiện nhiễm vi sinh vật gây hại, có
chất kháng sinh nhưng vẫn được cơ quan có thẩm quyền cho phép thông quan
và chuyển đổi mục đích sử dụng làm thức ăn cho cá sấu. Báo chí và người
tiêu dùng đặt ra câu hỏi nghi ngờ khi với số lượng cá sấu nuôi hạn chế thì việc
15


làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam chính là một bộ phận trong hệ thống
pháp luật chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, có trách nhiệm kiểm
soát, quản lý rủi ro về an toàn đối với thực phẩm nhập khẩu, tạo ra một hàng
rào kỹ thuật nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của các loại sản phẩm động vật
không đạt tiêu chuẩn dùng làm thực phẩm tràn qua biên giới, đặc biệt từ các
quốc gia láng giềng vốn chưa có hệ thống pháp luật về ATTP vận hành một
cách hữu hiệu, góp phần bảo vệ và củng cố niềm tin của người tiêu dùng đối
với các sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm được phép nhập khẩu và lưu
thông trên thị trường, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa tham gia ký kết
Hiệp định kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương mà với hiệp
28
định này, các chuyên gia kinh tế dự báo là sẽ có một lượng lớn hàng hóa từ
nước ngoài sẽ nhanh chóng chen chân vào thị trường Việt Nam11.
1.2.2. Quá trình phát triển và nội dung của pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong kiểm dịch sản phẩm động vật dùng làm thực
phẩm nhập khẩu
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kiểm dịch
sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam đã có một
quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử.
Từ những năm 60 của thế kỷ 20, nhận thức được tầm quan trọng của
công tác kiểm dịch trong việc ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh, Hội đồng
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111-CP ngày 23/7/1963 về việc ban
hành Điều lệ về phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm trong đó quy
định cụ thể việc thực hiện công tác kiểm dịch đối với gia súc, gia cầm, sản
17


phẩm động vật khi xuất, nhập khẩu và việc thu mua, vận chuyển gia súc, gia
cầm ở trong nước. Có thể nói đây là Nghị định đầu tiên của Chính phủ và là
văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cao nhất tại thời điểm đó quy định về

25/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/4/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT
hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa có
nguồn gốc động vật nhập khẩu; Thông tư số 06/2010/TT–BNNPTNT ngày
02/02/ 2010 Quy định trình tự, thủ tục kiểm dịch thủy sản, sản phẩm thủy sản;
Thông tư số 29/2010/TT- BNNPTNT ngày 06/5/2010 của Bộ NN&PTNT ban
hành “Danh mục chỉ tiêu, mức giới hạn cho phép về an toàn vệ sinh thực
phẩm đối với một số sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc động vật nhập khẩu,
sản xuất lưu thông trong nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ NNPTNT”;
Thông tư số 32/2012/TT–BNNPTNT ngày 20/7/2012 ban hành Danh mục đối
tượng kiểm dịch thủy sản, sản phẩm thủy sản; Danh mục thủy sản, sản phẩm
thủy sản thuộc diện phải kiểm dịch; Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày
25/7/2005 ban hành Danh mục đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động
vật; Danh mục động vật, sản phẩm động vật thuộc diện phải kiểm dịch; Quyết
30
định số 15/2006/QĐ-BNN ngày 08/03/2006 ban hành quy định về quy trình,
thủ tục kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm tra vệ sinh thú y; Quyết
định số 46/2005/QĐ-BNN ngày 25/7/2005 ban hành Danh mục đối tượng
kiểm tra vệ sinh thú y; Danh mục đối tượng thuộc diện phải kiểm tra vệ sinh
thú y; Danh mục đối tượng thuộc diện phải kiểm tra vệ sinh thú y bắt buộc áp
dụng tiêu chuẩn vệ sinh thú y; Thông tư số 37/2010/TT-BNNPTNT ngày
19


25/6/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia về chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm nông sản; Quyết định số
118/2008/QĐ-BNN ngày 11/12/2008 của Bộ NNPTNT ban hành Quy chế
kiểm tra, chứng nhận chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hoá thuỷ
sản; Thông tư số 78/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2009 của Bộ NNPTNT
quy định về kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng thuỷ sản; Quyết định số
86/2005/QĐ-BNN ngày 26/12/2005 của Bộ NNPTNT ban hành mẫu hồ sơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status