Câu hỏi: Qua 5 bài học trong chương trình, nội dung bài học tập
chính trị lớp “Bồi dưỡng nhận thức về Đảng”, anh/chị đã nhận thức và
tiếp thu được những điều gì?
Bài làm:
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3 – 2- 1930 là một bước ngoặt vĩ
đại của cách mạng Việt Nam. Hơn tám mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nhân dân ta đã làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đó là thành công của
Cách mạng tháng Tám năm 1945, xóa bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong
kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á; đó
là chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”,
là chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào và
thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày
nay.
Qua năm bài học trong chương trình, nội dung bài học tập chính trị lớp
“Bồi dưỡng nhận thức về Đảng”, tôi càng hiểu rõ hơn về lịch sử đấu tranh
oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc ta, những nội dung cơ bản của
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa, của Điều lệ
Đảng Cộng sản Việt Nam, học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Từ đó, tôi càng có quyết tâm phấn đấu học tập và rèn luyện để sớm
được đứng trong hàng ngũ cuả Đảng, đóng góp một phần công sức nhỏ bé của
mình vào sự nghiệp của Đảng.
Thứ nhất, nhận thức về sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Với hiệp ước
Pa – tơ – nôt (1884) mà triều đình nhà Nguyễn ký kết với Pháp đã hoàn toàn
đặt Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Với truyền thống yêu nước
của dân tộc, nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh chống Pháp mạnh mẽ, quyết
liệt, tiêu biểu nhất là phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, phong
trào Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi nghĩa Yên Thế…nhưng đều thất bại,
Năm 1922, Người sáng lập tờ báo “Người cùng khổ”, vạch trần tội ác của
thực dân Pháp, kêu gọi nhân dân thuộc địa hãy đứng dậy đấu tranh.
Tháng 6- 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc sáng
lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh
niên, xuất bản tác phẩm Đường Cách mệnh (1927)…nhằm tuyên truyền chủ
nghĩa Mác – Lê nin vào nước.. Người tổ chức lớp học, đào tạo cán bộ cốt cán
cho Đảng sau này. Sau đó, một số đồng chí được gửi đi học ở trường Đại học
Quốc tế phương Đông, trường quân sự Hoàng Phố, hầu hết các đồng chí về
nước hoạt động, đi vào phong trào “vô sản hóa”.
Chủ nghĩa Mác – Lê nin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái
Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người
đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”. Giai cấp
công nhân ngày càng trưởng thành và trở thành một lực lượng chính trị độc
lập, phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi. Do đó,cuối năm 1929, ở Việt Nam
đã xuất hiện ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (17/6/1929),
An Nam Cộng sản Đảng(mùa thu năm 1929), Đông Dương Cộng sản Liên
đoàn(1/1/1930).
Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng
sản tuyên bố thành lập. Điều đó đã phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu
tranh cách mạng ở Việt Nam, đồng thời sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản
hoạt động biệt lập trong một quốc gia dẫn đến nguy cơ chia rẽ lớn. Yêu cầu
bức thiết của cách mạng đặt ra là cần có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh
đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – cán bộ của Quốc tế Cộng sản, người chiễn sĩ cách
mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam – là người duy nhất có đủ năng lực và uy
tín đáp ứng yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản.
Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản
họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng , Trung Quốc ) dưới sự chủ trì của
đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất,
và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công,
đã nắm chính quyền toàn quốc”.
4
Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải
đối mặt với ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Đảng ta, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đưa ra những chủ trương và quyết sách
đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Bất chấp mong muốn độc lập và hòa bình của Chính phủ và nhân dân
ta, mặc dù chúng ta đã nhân nhượng nhưng thực dân Pháp càng lấn tới vì
chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.
Đứng trước tình hình đó, đêm 19 – 12 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên với một quyết
tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu bán nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ,
dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo
nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược, đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ.
Đánh giá ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa
nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ
vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực
lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”.
Sau Hiệp định Giơ – ne – vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai
miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta
tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (1954 – 1975):
không ít khó khăn. Thuận lợi nhất là toàn dân ta luôn đồng lòng, đồng tâm,
đồng sức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế sản
xuất nhỏ, năng suất lao động thấp,hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại.
Trong quan hệ quốc tế, chủ nghĩa đế quốc và thế lực phản động bên ngoài tìm
mọi cách bao vây, phá hoại, bao vây, cấm vận, gây khó khăn cho cách mạng
6
Việt Nam. Trên thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua
nhiều diễn biến phức tạp: chủ nghĩa xã hội gặp những khó khăn, lâm vào
khủng hoảng thoái trào, đặc biệt là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu. Tinh hình đó đã tác động, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong 10 năm (1975 – 19985) dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Chúng ta đã nhanh chóng thống nhất
đất nước về mặt nước nhà về mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên
giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đại hội VI của Đảng ( tháng 12/1986 ) đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện, đặc biệt là đổi mới tư duy, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đại hội toàn quốc lần thứ VII năm 1991 của Đảng đã thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược
ổn định và phát triển kinh tê – xã hội đến năm 2000 và Nhiệm vụ kinh tê – xã
hội 5 năm 1991 – 1995. Đại hội đưa ra quan niệm tổng quát về xã hội xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, phương hướng cơ bản để xây dựng xã hội đó; khẳng
định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nên tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động của Đảng; khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng đinh: “Tiếp tục
cường; quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới.
Bốn là, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến
bộ trên cả
ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sức mạnh của đại đoàn kết
toàn dân tộc được phát huy.
Năm là, công tác xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực.
Đại hội cũng chỉ ra những khuyết điểm và yếu kém như: tăng trưởng
kinh tế chưa tương xứng với khả năng; cơ chế chính sách về văn hóa – xã hội
chậm đổi mới; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt; các lĩnh
vực quốc phòng an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế; tổ chức và hoạt
động của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm
đổi mới, bộ máy quản lý Nhà nước các cấp nhất là ở cơ sở còn yếu kém, tệ
8
quan liêu tham nhũng lãng phí vẫn tồn tại. Đây là những vấn đề sớm cần được
khắc phục.
Nhìn lại 20 năm đổi mới, Đại hội X khẳng định: với sự nỗ lực phấn đấu
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.Đại hội đã rút ra năm bài học
kinh nghiệm chủ yếu của quá trình đổi mới ở nước ta. Những thành tự và bài
học đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù
hợp với thực tiễn Việt Nam.
Chặng đường vẻ vang 80 năm qua của cách mạng Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng đã khẳng định: Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của
Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, nhan dân ta đã đạt được những thành tựu kỳ diệu.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng không ngừng được tôi
luyện, trưởng thành và đã xây dựng nên những truyền thống quý báu, thể hiện
bản chất tốt đẹp của Đảng. Đó là:
đoàn kết quốc tế; Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh
trong nước và sức mạnh quốc tế và cuối cùng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố
hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh 1991 đã nhận định, sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta diễn ra trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Đó là
sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
hiện đại, vừa tạo ra thời cơ phát triển nhanh, vừa tạo ra những thách thức đối
với nước ta và các nước.
Nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Các thế
lực thù địch và chủ nghĩa Đé quốc luôn phản kích quyết liệt nhằm xóa bỏ các
nước xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa Tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế song bản chất áp
bức bóc lột và bất công vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa
tư bản ngày càng sâu sắc.
Cuộc đấu tranh của các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát
triển chống nghèo nàn lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới, chống sự can
thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc để bảo về độc lạp chủ quyền dân tộc
đang tiếp tục diễn ra dưới mọi hình thức và rất gay go, phức tạp, quyết liệt.
10
Nhiều vấn đề toàn cầu cấp bách cần phải giải quyết như ô nhiễm suy
thoái môi trường, tình trạng nghèo đói, bùng nổ dân số…
Đặc điểm nổi bật của thời đại trong giai đoạn hiện nay là cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go quyết liệt, phức tạp; vì hòa bình,độc
lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Hoàn cảnh trong nước có những khó khăn thuận lợi khi ta bước vào
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội
không qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lực
và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Có nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát
triển. Phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa.
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo
năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diên cá nhân. Con người được phát triển toàn diện, cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh
thần.
Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến
bộ. Nước ta là quốc gia đa dân tộc. Trên đất nước ta có 54 dân tộc anh em, dù
đa số hay thiểu số, đều bình đẳng, có sự đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế
giới.
Cương lĩnh 1991 đã nêu bảy phương hướng cơ bản của quá trình xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa , Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện
đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên
chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là
nhiệm vụ trung tâm nhàm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của
12
chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải
thiện đời sống nhân dân.
Với việc thực hiện cương lĩnh 1991 trong thời gian từ 1995 – 2005
công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử . Đát nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, có sự thay
đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và những bài học kinh nghiệm được rút
ra, Đị hội X đã bổ sung phát triển một số nội dung của cương lĩnh 1991. Đại
hội X khẳng định: “Qua tổng kết lý luận – thực tiễn 20 năm đổi năm đổi mới,
chúng ta càng thấy rõ giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh xây
dụng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hôi (năm 1991), đồng
thời cũng thấy thêm những vấn đề mới cần được giải đáp. Sau đại hội X,
Đảng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển cương lĩnh, làm nền
tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động củ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, nắm bắt được những nội dung cơ bản Điều lệ Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Điều lệ Đảng là văn bản pháp lý cơ bản của Đảng, xác định tôn chỉ,
mục đích, hệ tư tưởng, các nguyên tắc về tổ chức, hoạt động, cơ cấu bộ máy
của Đảng; quy định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của đảng viên và của tổ
chức đảng các cấp.
Mục đích của việc xây dựng Điều lệ Đảng là nhằm thống nhất tư tưởng,
tổ chức và hành động trong toàn Đảng, thực hiện mục tiêu của Đảng.
Điều lệ Đảng do Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng thông qua và ban
hành. Mọi tổ chức Đảng và đảng viên đều phải chấp hành Điều lệ Đảng.
Bản chất của Đảng là mang bản chất của giai cấp công nhân.Trong
Chương trình tóm tắt của Đảng đã khẳng định: Đảng là đội tiên phong lãnh
đạo của đội quân vô sản gồm một số lớn giai cấp công nhân và làm cho hộ có
đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”. Sách lược vắn tắt viết: “Đảng là đội tiên
14
15
“1. Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị,
Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, biểu quyết công
việc của Đảng.
2. Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo
quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
3. Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên ở
mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách
nhiệm và yêu cầu được trả lời.
4. Trình bày ý kiến khi tổ chức Đảng nhận xét, quyết định công tác
hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
Đảng viên dự bị có quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và
bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng.”
Những quy định về quyền của đảng viên tạo điều kiện cho đảng viên và
tổ chức đnagr thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt
Đảng, được quy định tại Điều 9 của Điều lệ Đảng. Trong quá trình phát triển,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn kiên trì và từng bước cụ thể hóa nguyên
tắc này phù hợp với sự phat triển của cách mạng Việt Nam qua mỗi giai đoạn.
Ngoài ra, Điều lệ Đảng còn quy định : tự phê bình và phê bình; đoàn
kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng; giữ mối liên hệ mật thiết
với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là
những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.
Khen thưởng trong Đảng. Điều 34 Điều lệ Đảng quy điịnh: “Tổ chức
Đảng và đảng viên có thành tích được khen thưởng theo quy định của Ban
Chấp hành Trung ương”. Tại Hướng dẫn số 03- HD/BTCTW ngày 29-122006 của Ban Tổ chức Trung ương có quy định hình thức khen thuongwe
định kỳ và không định kỳ cho các tổ chức đảng và đảng viên.
Kỷ luật Đảng là những quy định bắt buộc mọi đảng viên và tổ chức
trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm
tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng.
17
Trước hết, Người khẳng định vai trò to lớn của đạo đức trong xã hội và
trong đời sống của mỗi người. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới
có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân.”
Người quan niệm, đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp con người vững
vàng trong mọi thử thách: “Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ,
thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước…khi gặp thuận lợi và thành công
cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên
hạ, vui sau thiên hạ”.
Đối với Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, Chủ tịch Hồ Chí
Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức,
là văn minh”. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một đảng
cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phỉa giữ gìn Đảng ta thật
sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất cơ bản của con người
Việt Nam cần có là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống
có nghĩa, có tình; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và có tinh
thần quốc tế trong sáng.
Để xây dựng một nền đạo đức mới, Hồ Chí Minh đã nêu ra những
nguyên tắc cơ bản để định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng, cũng như cho
việc rèn luyện của mỗi người.
trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
Trong rèn luyện đạo đức,Hồ Chí Minh coi tự rèn luyện có vai trò rất
quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ
xấu chỗ tốt, ai cũng có thiện có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng
vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc, thấy rõ cái hay, cái tốt, cái
ác để khắc phục. Tu dưỡng đạp đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động
19
thực tiễn, trong mọi mối quan hệ của mình, trong đời tư cũng như trong sinh
hoạt cộng đồng.
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của một vĩ nhân, một
lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đồng thời cũng là
tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo, để
làm theo, để trở thành một người cách mạng, một công dân tốt trong xã hội.
Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân
loại. Ngay từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã lực chọn một cách rõ ràng mục
tiêu phấn đấu cho cả cuộc đời mình là vì nước, vì dân. Người nói: “Tôi chỉ có
một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được độc lập,
đồng bào được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to
lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích cách mạng. Cuộc đời
Người là một chuỗi năm tháng đấu tranh vô cùng gian khổ. Người đã từng bị
triều dình An Nam kết án tử hình vắng mặt năm 1929, bị bắt giam ở Hồng
Kông và nhà tù Tưởng Giới Thạch và muôn vàn những khó khăn nhưng
Người vẫn kiên trì mục đích của cuộc sống, bảo vệ chân lý, giữ vững quan
điểm, khí phách; bình tĩnh, chủ động vượt qua mọi thử thách. Người tự răn
mình: “Muốn nên sự nghiệp lớn
Nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân
phục vụ.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ
nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị
giữa các dân tộc, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng
cao đối với sự hình thành vả phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của
con người Việt Nam. Vì vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ
Chí Minh là một giải pháp quan trọng nhằm hình thành con người Việt Nam
mới, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát
triển nhanh, hiệu quả, bền vững.
21
Thứ năm, phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng cộng sản Việt
Nam.
Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một vinh dự và hạnh phúc lớn
lao. Vì vậy, tôi luôn cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện thật tốt ngay từ
khi vừa bước chân vào Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng
để thăng quan, phát tài? Không phải!...Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết
sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng
viên”. Bác đã căn dặn nếu không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách
mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là tổ chức cách
mạng có sức mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc
lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị,
thu hái lợi lộc.
Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Người, tôi đã xác định động cơ vào
Đảng là được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp
cách mạng của Đảng. Vào Đảng là dấn thân theo sự nghiệp cách mạng, chấp
Ngày nay, đạo đức cách mạng còn là ý chí, quyết tâm và góp sức đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia giàu mạnh,
văn minh, nhân dân làm chủ xã hội và có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Không thể có đạo đức cách mạng nếu làm gì cũng tính toán thiệt hơn với
Đảng, lúc nào cũng đòi hỏi hưởng thụ, muốn lựa chọn công việc theo ý thích
và lợi ích cá nhâm, sống cơ hội, thực dụng, coi đồng tiền là tất cả; lợi dụng
cơ chế, chính sách để tham nhũng, lãng phí, làm giàu phi pháp…
Sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những thế hệ chúng tôi luôn được
Đảng, Nhà nước và cả xã hội quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện cho chúng
tôi được phát huy những sở thích, những năng lực, thể hiện “cái tôi” của
mình. Nhưng chúng tôi cũng hiểu rằng chủ nghĩa cá nhân là một căn bệnh
nguy hiểm. Vì vậy, chúng tôi luôn luôn tôn trọng lợi ích của tập thể, của cộng
đồng, không vì cá nhân mình mà làm hại cho tập thể.
Là một sinh viên, nhiệm vụ lớn nhất của tôi lúc này là không ngừng
học tập, tích lũy tri thức, kinh nghiệm. Tôi học chuyên ngành Tư tưởng Hồ
23
Chí Minh, chuyên nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Người đã đi xa nhưng đã để lại cho dân tộc ta một di sản
tinh thần vô cùng to lớn. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của
Người được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành
động cách mạng. Khi ngồi trên giảng đường đại học, bên cạnh việc được các
thầy cô giáo cung cấp tri thức, tôi cố gắng học qua sách vở, tích lũy thêm tri
thức về Bác. Sau này khi tốt nghiệp, tôi có thể góp một phần nhỏ bé của mình
vào việc tuyên truyền tư tưởng và đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh cho thế
hệ trẻ học tập và noi theo tấm gương của Người.
Còn trong cuộc sống, tôi luôn gắn bó với tập thể,lễ phép với người trên,
chan hòa với bạn bè, tích cực tham gia các hoạt động do Đoàn trường và khoa
tổ chức. Ở khoa, tôi đã tham gia chương trình kỷ niệm ngày sinh nhật Bác
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
25