BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ HỮU PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2000
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
MỤC LỤC
NỘI DUNG
SỐ TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI
2.2- Xu hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử trên thế giới
4
1.0.0- Xu hướng toàn cầu hóa sản xuất và phân phối
4
14
7.0.0- Các bài học rút ra cho ngành công nghiệp điện tử Việt Nam
15
Kết luận Chương 1
19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
1.0-
Tình hình chung về sản xuất hàng điện tử ở Việt Nam
20
1.0.0- Tình hình chung
20
2.0.0- Cơ cấu hàng hóa
22
3.0.0- Phân tích trình độ và năng lực sản xuất
23
4.0.0- Phân bổ vốn và lao động theo vùng và thành phần kinh tế
2.0.0- Đánh giá hoạt động của một số liên doanh ở Việt Nam
41
Kết luận Chương 2
45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH
CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
1.0- Cơ sở của các giải pháp
47
2.0-
51
Một số giải pháp
1.0.0- Giải pháp về tổ chức
51
2.0.0- Giải pháp về nghiên cứu triển khai
52
3.0.0- Giải pháp về vốn
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
PHẦN MỞ ĐẦU
Yo0oZ
2. Ý nghóa và mục đích nghiên cứu của đề tài
1.0-
Ý nghóa nghiên cứu
Xây dựng ngành công nghiệp điện tử việt Nam không phải là vấn đề mới
được đặt ra. Ngay từ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta
đã có chủ trương xây dựng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Đảng ta đã xác
đònh vai trò quan trọng của công nghiệp điện tử Việt Nam đối với nền kinh tế
quốc dân, an ninh, quốc phòng, giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học. Tuy
nhiên do hoàn cảnh lòch sử, cho đến những năm đầu của thập niên 90, ngành
công nghiệp điện tử Việt Nam chỉ đạt được một số kết quả rất khiêm tốn so với
vai trò và nhiệm vụ của nó. Chỉ đến khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ
trương mở của nền kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài thì ngành công nghiệp điện
tử bắt đầu vươn lên với mức tăng trưởng từ 20% đến 30% mỗi năm. Ngành điện
tử được xem như là một ngành siêu lợi nhuận. Thế nhưng chỉ trong vòng 10 năm
sau, ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trở thành một ngành nhạy cảm nhất.
Chỉ cần một cơn sốt nhẹ của nền kinh tế trong hoặc ngoài nước, hàng loạt công
ty phải cắt giảm công nhân, tạm ngưng sản xuất, thu nhập giảm sút. Đó là kết
quả tất yếu minh chứng cho sự phát triển tự phát thiếu đònh hướng chiến lược,
thiếu nền tảng vững chắc.
Đó chính là lý do, là cơ sở, động cơ thúc đẩy hình thành nên đề
tài:“THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM, MỘT SỐ
Đề ra một số giải pháp để ngành công nghiệp điện tử Việt Nam có thể hội
nhập và phát triển phù hợp với xu hướng chung trên thế giới và trong khu
vực.
Đối tượng nghiên cứu
3.
Nhằm đạt được kết quả tốt trong nghiên cứu đề tài, luận văn này tập trung
nghiên cứu hai đối tượng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát
triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam là:
-
Tổng Công ty Điện tử và Tin học Việt Nam một đơn vò duy nhất trực thuộc
Bộ Công nghiệp có khoảng 13 thành viên nắm giữ hơn 70% vốn trong ngành
công nghiệp điện tử Việt Nam được giao nhiệm vụ quy hoạch đònh hướng
chiến lược phát triển cho ngành công nghiệp điện tử- tin học Việt Nam.
-
Một số công ty liên doanh có dự án đầu tư trực tiếp lớn và chủ yếu của nước
ngoài tại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp nghiên cứu quá trình lòch sử;
-
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp để phát triển ngành công nghiệp điện tử
Trên cơ sở xu hướng phát triển và hội nhập và thực trạng của ngành công
nghiệp điện tử Việt Nam để đề ra một số giải pháp cho ngành công nghiệp
điện tử Việt Nam phát huy và tận dụng được các nguồn ngoại lực và nội lực
để hội nhập và phát triển.
5
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
CHƯƠNG 1: NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI
Yo0oZ
1.0-
Xu hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử trên thế giới
Trong những thập kỷ qua, nhân loại đã chứng kiến sự phát triển rất
mạnh mẽ của công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin. Sự tác động trực
tiếp của công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự phát triển
của nhiều ngành kinh tế và nền kinh tế của nhiều quốc gia. Theo dự đoán,
trong những thập niên tới công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin sẽ là
động lực tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của
thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ đang chuyển dần sang cuộc cách mạng
thông tin. Điện tử và công nghệ thông tin đã đẩy nhanh quá trình tự động hóa
trong công nghiệp, giúp tối ưu hóa quá trình sản xuất, hợp lý hóa sử dụng tài
nguyên, tạo ra một năng suất mới và chất lượng mới.
Có thể nói cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đều có liên
quan và dựa trên các thành tựu của kỹ thuật điện tử và tin học. Nhiều nước
-
Cạnh tranh là yếu tố sống còn của công ty, là yếu tố để tồn tại và phát triển.
Tuy nhiên, xu hướng ngày nay cạnh tranh luôn tồn tại song song với hợp tác.
Hợp tác trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình tồn tại và
phát triển của một công ty nói riêng và một quốc gia nói chung. Mục đích
chính của hợp tác là phối hợp tiềm năng tài chính, công nghệ và quan hệ để
tạo ra sản phẩm mới, giảm giá thành, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thò
trường và thâm nhập vào thò trường mới.
-
Chuyển dần các công nghệ cũ cần nhiều lao động sang các nước kém phát
triển hơn và có lợi thế về nhân công rẻ hơn để tập trung đầu tư phát triển
công nghệ mới.
-
Cơ cấu sản phẩm luôn thay đổi theo hướng gia tăng hàm lượng dòch vụ và
dòch vụ. Hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá
thành sản phẩm.
-
Thương mại điện tử đang hình thành và từng bước thay thế bổ sung vào
phương thức bán hàng và phân phối truyền thống.
-
Sản phẩm điện tử-tin học ngày càng mang tính chất quốc tế hóa. Một sản
1995
1996
1997
1998
1999
2000
Đường dẫn (Micromet)
0.55
0.45
0.4
0.35
0.3
0.25
0.2
Dung lượng 1Gb
Thò trường linh kiện bán dẫn sẽ tăng nhanh. Theo đánh giá và dự báo của
Semiconductor Industry Association như sau:
8
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
BẢNG 2
DỰ BÁO TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LINH KIỆN BÁN DẪN TRÊN THẾ GIỚI
ĐVT: Tỷ USD
Loại/năm
1999
2000
2001
2002
Tổng số bán dẫn
144
174
209
234
+ IC kiểm tra
14
18
22
26
Nguồn: Semiconductor Industry Association’s Report 1998
Qua nghiên cứu xu hướng này của ngành điện tử thế giới cho ta thấy:
2.0.0- Xu hướng phát triển công nghệ điện tử
Do đặc thù của sản phẩm điện tử và tin học là thay đổi rất nhanh nên chu
kỳ sống của sản phẩm rất ngắn so với trước đây. Do đó, sự liên kết giữa các
cộng đồng nghiên cứu và triển khai (R&D) và doanh nghiệp có thể được xem
là công cụ quan trọng để tạo ra và phát triển ưu thế cạnh tranh trong bối cảnh
toàn cầu hiện nay. đây khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, hàm lượng tri thức và phần mềm trong các sản phẩm ngày càng
tăng.
Xu hướng phát triển của thế giới trong lãnh vực công nghệ được thể hiện
qua các lãnh vực sau đây:
1.1.2.1- Xu hướng tự động hóa
-
Máy cắm linh kiện tự động: Hiện nay, chi tiết chủ yếu chiếm tỷ trọng cao
trong giá thành sản phẩm là tấm mạch in (PCB) có gắn linh kiện. Tùy loại
sản phẩm mà số lượng linh kiện gắn trên PCB thay đổi từ vài trăm đến hàng
ngàn. Về kỹ thuật lắp linh kiện lên PCB co hai kỹ thuật là kỹ thuật xuyên lỗ
(thru-hole) và kỹ thuật bề mặt (SMT). Mặc dầu, kỹ thuật SMT tiên tiến và
trong khâu cân chỉnh để giảm tối thiểu việc cân chỉnh bằng tay vì một mặt sẽ
đảm bảo được chất lượng và tính ổn đònh của sản phẩm và đồng thời thuận
10
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
tiện trong việc cập nhật và áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của thế
giới.
1.1.2.2- Xu hướng tiêu chuẩn hóa các khối bán thành phẩm và phân công lại
-
Sự xuất hiện kỹ thuật số đã tạo ra một bước nhảy vọt làm cho các sản phẩm
điện tử dân dụng giống như trong lãnh vực máy tính được tiêu chuẩn hóa các
khối, cụm chức năng ở mức độ cao.
-
Chính vì có thể tiêu chuẩn hóa sản phẩm điện tử dân dụng thành từng khối,
cụm chức năng nên tiến thêm một bước, mỗi khối, chức năng được chuyên
môn hóa sản xuất ở một nhà máy nào đó trong sự phân công lao động toàn
cầu. Sự chuyên môn hóa này phù hợp với xu hướng phát triển toàn cầu hóa
và thông qua việc chuyên môn hóa, giá thành sản phẩm sẽ giảm đáng kể.
-
Hiện nay, một số cơ sở lắp ráp sản xuất tại Việt Nam vẫn còn áp dụng công
nghệ cũ nên việc tiêu chuẩn hóa này một mặt sẽ giảm thiểu công đoạn lắp
ráp nhưng mặt khác sẽ nãy sinh vấn đề dây chuyền công nghệ không phù hợp
1.0-
Kinh nghiệm phát triển công nghiệp điện tử của một số nước
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia sau đây có thể rút ra các
bài học cần thiết cho việc hoạch đònh chính sách phát triển công nghiệp điện tử Việt
Nam.
1.0.0- Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ)
Mỹ là một trong hai siêu cường về công nghiệp điện tử- tin học- viễn
thông trên thế giới. Mỹ đang dẫn đầu trong các lónh vực công nghệ cao như
công nghiệp bán dẫn, tạo ra các chuẩn cho máy tính, phần mềm tin học, chế
tạo các thiết bò đo lường điều khiển và tự động hóa, chế tạo các thiết bò công
nghệ sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử. Tổng sản lượng ngành công
nghiệp điện tử và công nghệ thông tin của Mỹ năm 1996 khoảng 800 tỷ USD,
trong đó sản phẩm phần mềm chiếm 300 tỷ USD, chiếm vò trí độc tôn trên
toàn thế giới vượt xa các đối thủ Nhật và Tây Âu. Mỹ là nơi cung cấp công
nghệ cơ bản về điện tử và tin học cho Nhật, Hàn quốc, Đài Loan, Singapore,
Malaysia, Thailan, Mexico và các nước Nam Mỹ.
1.0.0.0- Chính sách chung có ảnh hưởng đến ngành công nghiệp điện tử của Mỹ
-
Luật chống độc quyền được coi lànghiêm ngặt hơn so với các nước cạnh
tranh. Chính vì vậy, các công ty điện tử-tin học- viễn thông có một sân chơi
thông thoáng nhưng để tồn tại và phát triển sự cạnh tranh quyết liệt đã tạo
cho ngành công nghiệp điện tử-tin học, công nghệ thông tin luôn đi trước một
bước so với các ngành khác;
12
-
Thành lập Microelectronics and Computer Technology Con-MCTC năm
1983, SEMATECH 1987- hàng năm SEMATECH được Chính phủ Mỹ cấp
khoảng 200 triệu USD để thiết kế và hoàn thiện các công nghệ mới thông
qua lầu năm góc. Năm 1991, Chính phủ chi 516 triệu USD, năm 1992 chi 657
triệu USD, năm 1993 chi 800 triệu USD và từ năm 1994 đến nay hàng năm
chi trên dưới 1 tỷ USD. (nguồn EUSA, 1999,2).
Để phát triển ngành điện tử, Mỹ đã sử dụng một hệ thống đồng bộ các chính
sách từ việc đònh ra luật chống độc quyền, khuyến khích sản xuất trong nước
và đưa công nghệ có chọn lọc ra nước ngoài bằng cách nhập khẩu những sản
13
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
phẩm có phần linh kiện do Mỹ chế tạo. Đồng thời, Chính phủ luôn hỗ trợ tối
đa và cụ thể đối với việc phát triển công nghệ phục vụ cho mục tiêu chung.
2.0.0- Hàn quốc
Công nghiệp điện tử là một ngành mũi nhọn giúp Hàn quốc trở thành một
trong 5 con rồng Châu Á. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1995 là 125,6 tỷ USD
thì hàng điện tử tin học chiếm 32,7% trong đó phần lớn là linh kiện bán dẫn và
điện tử tiêu dùng.
Trong hơn 30 năm xây dựng và phát triển, công nghiệp điện tử Hàn quốc
đi qua các giai đoạn sau mà Việt Nam có thể xem xét học hỏi rút kinh nghiệm:
-
Lắp ráp dạng OEM.
Thực hiện ba phương hướng là đảm bảo cơ sở tin cậy để thúc đẩy phát triển;
thiết kế soạn thảo công nghệ sản xuất có tính chiến lược; xây dựng môi
14
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
trường thuận lợi để phát triển khoa học công nghệ. Từ năm 1990 đến năm
1994, Chính phủ Hàn quốc có kế hoạch phát triển khoa học công nghệ để
giảm phần công nghệ vay mượn nước ngoài, cụ thể dự chi 38,8 tỷ USD, trong
đó có 16,4 tỷ để thiết kế công nghệ mới (kể cả phần điện tử), riêng việc thiết
kế mạch tích hợp mới được cấp 120 triệu USD. Chính phủ tạo điều kiện để
mở các lớp huấn luyện công nghệ, thúc đẩy công nghệ phần mềm máy tính.
-
Cấm các công ty nước ngoài áp dụng các công nghệ lạc hậu, chỉ cho đầu tư
trên cơ sở áp dụng công nghệ tiên tiến nhất.
-
Chính phủ có kế hoạch tăng phần sản xuất linh kiện điện tử trong nước hàng
năm.
-
Để thực hiện chính sách khoa học công nghệ của quốc gia, Hàn quốc đã xây
dựng một hệ thống tổ chức thống nhất từ cơ quan trung ương đến đòa phương
để thực hiện chức năng nhiệm vụ chuyên thiết kế những công nghệ điện tử
then chốt.
hợp sự năng động sáng tạo của đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong nước.
-
Nhà nước cho vay với lãi suất thấp và các khoản trợ cấp khác để tập trung
sản xuất những mặt hàng chiến lược.
-
Tăng cường sản xuất linh kiện trong nước, chú trọng xuất khẩu để bù nhập
khẩu.
-
Cấm nhập khẩu 20 loại thiết bò điện tử dân dụng và 53 loại dây chuyền lắp
ráp khác.
-
Giảm thuế nhập khẩu một số thiết bò điện tử và linh kiện từ 15%-40% xuống
9%-20%.
Với những chính sách như thế, chỉ trong vòng 10 năm, Trung Quốc đã có thể
cân đối được nhu cầu nội đòa về sản phẩm điện tử, bắt đầu xuất khẩu sản phẩm
mang thương hiệu của Trung quốc và từng bước tự thiết kế sản phẩm phục vụ
nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Các tập đoàn điện tử như ChangHong, Konka,
TCL, Hisense… là nhưng tập đoàn điện tử lớn của Trung quốc có thể cạnh tranh
trực tiếp với các tập đoàn của Mỹ, Nhật, Hàn quốc.
4.0.0- Đài Loan
Đài Loan có ngành công nghiệp điện tử phát triển mạnh, nhưng nổi bất nhất
-
Hàng năm Chính phủ chi khoảng 280 triệu USD để hỗ trợ cho công nghiệp
điện tử và trực tiếp xét cấp tài chính để thực hiện kế hoạch phát triển công
nghệ thông tin.
5.0.0- Singapore
Đất nước Singapore có trình độ công nghiệp điện tử rất cao, đứng hàng thứ 7
trên thế giới về phổ cập máy tính với tỷ lệ 1 máy trên 12 người dân, 70% số
công ty đã áp dụng công nghệ tin học trong sản xuất kinh doanh vì Singapore có
ít lao động và công nghiệp điện tử tin học phát triển cao.
Đặc trưng phát triển công nghiệp điện tử Singapore là chiến lược về con
người. Song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng tương hoàn chỉnh, Singapore
đã đào tạo được một đội ngũ chuyên gia kỹ thuật có trình độ cao, nhờ đó thu hút
17
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
đầu tư nước ngoài vào các lónh vực sản xuất và dòch vụ ứng dụng công nghệ cao,
chất lượng tốt, tốc độ thay đổi công nghệ theo kòp thế giới.
Singapore là một quốc gia mới thành lập, nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn
chế, do đó để phát triển ngành điện tử, Singapore đã áp dụng hàng loạt các
chính sách điều tiết vó mô như sau:
-
Singapore bắt đầu ưu tiên phát triển ngành điện tử từ những năm 1970 và đặc
biệt chú ý đầu tư vào hoạt động nghiên cứu triển khai. Nhà nước đầu tư cho
hoạt động này 40% còn lại là của tư nhân.
Singapore đã thành lập được nhiều viện, trường đại học về điện tử tin học;
Nhà nước đầu tư cho các hoạt động R&D 40%, còn lại là nguồn của tư nhân.
Ước tính Singapore đã đào tạo được khoảng 20.000 chuyên gia tin học.
6.0.0- Nhật Bản
18
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
Nhật là một trong những siêu cường về công nghiệp điện tử. Công nghiệp
điện tử giữ vò trí số 1 trong nền kinh tế Nhật Bản. Trong giai đoạn 1950-1994 tỷ
trọng sản phẩm điện tử trong công nghiệp chế biến đã tăng từ 1% lên 11,2%
(nguồn RJ,96,5). Hầu như các công nghệ cao trong lónh vực công nghiệp điện tử
và công nghệ thông tin Nhật đều đóng vai trò quan trọng trong phát triển công
nghiệp điện tử toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, Nhật là nhà đầu tư và
vừa là thò trường tiêu thụ đáng kể.
Sau thế chiến thứ II, kinh tế Nhật gần như là con số 0, Nhật đã áp dụng hàng
loạt các chính sách kinh tế khắc khe và kể cả việc áp dụng các yếu tố truyền
thống văn hóa dân tộc để phát triển kinh tế đất nước trên đống hoang tàn đổ nát
sau chiến tranh như sau:
-
Chính sách quốc gia về kinh tế của Nhật Bản dựa trên đòn bẩy là tinh thần
yêu nước mang đặc điểm phương Đông. Nhật quyết tâm xóa bỏ khoảng cách
về khoa học kỹ thuật so với phương tây theo công thức “tinh thần Nhật Bản
và khả năng phương Tây”
-
Khuyến khích các công ty Nhật đầu tư sản xuất ở nước ngoài với mục đích
làm tăng chu kỳ sống của sản phẩm và xuất khẩu sang nước thứ ba. Phần giá
trò nhập khẩu từ các chi nhánh của Nhật ở nước ngoài được miễn thuế (Luật
thương mại năm 1970). Điều này đã được các công ty Nhật khai thác triệt để.
Các công ty điện tử của Nhật có hơn 700 xí nghiệp ở nước ngoài, trong đó đa
phần là sản xuất linh kiện. Các công ty Nhật hạn chế chuyển giao công nghệ
hiện đại nhất cho các chi nhánh nước ngoài và tiến hành sản xuất ở Nhật cho
đến khi sản phẩm hết khả năng cạnh tranh.
-
Nhiều sản phẩm điện tử của Nhật ở nước ngoài được mang tên, nhãn hiệu
Nhật nhưng không do các hãng này sản xuất hoặc chỉ có một số ít linh kiện
do Nhật sản xuất hoặc theo giấy phép của Nhật (dưới hình thức OEM).
7.0.0- Các bài học rút ra cho ngành công nghiệp điện tử Việt Nam
Các nước đang phát triển có nền công nghiệp điện tử phát triển nhanh và
mạnh trong vòng 35 năm trở lại đây phần lớn tập trung ở Châu Á và nhiều nhất
là ở Đông Nam Á và Viễn Đông. Các nước và lãnh thổ có những phương hướng
chính sách đường lối phát triển khác nhau nhưng nhìn chung qua quá trình phát
triển công nghiệp điện tử của các nước đang phát triển, chúng ta rút ra được các
bài học bổ ích cho sự phát triển công nghiệp điện tử của Việt Nam như sau:
1.0.0.0- Quá trình phát triển ngành điện tử ở Việt Nam cũng có thể như ở các nước
đang phát triển. Chúng ta có thể chia làm 03 giai đoạn phát triển như sau:
-
Giai đoạn 1: Lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh từ những chi tiết đồng bộ được
nhập từ nước ngoài, bắt đầu từ thiết bò điện tử dân dụng sau đó là thiết bò tin
20
xuất chủ yếu là để thay thế nhập khẩu, không chú trọng đến trình độ sản
xuất, chất lượng sản phẩm vì thiếu yếu tố cạnh tranh.
-
Con đường thứ 2: Sản xuất chủ yếu là để xuất khẩu, tăng sản lượng thiết bò
điện tử hoàn chỉnh có chất lượng cao, hướng ra thò trường xuất khẩu. Đặc
điểm của các nước này là thò trường trong nước eo hẹp. Con đường này cũng
làm cho các nước phụ thuộc ở mức độ cao vào các nước phương Tây có công
nghiệp điện tử phát triển như Mỹ, Nhật, đặc biệt là các linh kiện chính.
21
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
Tuy nhiên, đối với Việt Nam chúng ta nên chọn con đường thứ hai vì chúng ta
không cần thiết phải đầu tư sản xuất tất cả linh kiện trong khi nhập khẩu từ các
nước khác hiệu quả hơn trong sự phân công quốc tế hợp lý để đáp ứng nhu cầu
nội đòa có hạn và hướng tới xuất khẩu.
3.0.0.0- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài luôn góp phần tích cực đối với việc phát triển nền ông
nghiệp điện tử của các nước. Việc sử dụng vốn, công nghệ nước ngoài để nâng cao
trình độ chuyên môn của các chuyên gia trong nước, mở rộng sản xuất và xuất khẩu
đã tạo điều kiện phát triển công nghiệp điện tử ở một số nước và lãnh thổ. Ngày
nay, các nước đều có chính sách thu hút vốn, công nghệ nước ngoài có chọn lọc xây
dựng các khu chế xuất, các công viên khoa học- công nghệ để ưu tiên phát triển các
ngành công nghệ cao trong đó có điện tử và tin học.
Trong những năm vừa qua, đầu tư nước ngoài đã góp phần to lớn trong sự
phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Tuy nhiên, cần quy hoạch đònh
vụ quản lý hành chánh, kinh tế vó mô, ngân hàng tài chính… chính nhu cầu sử
dụng to lớn của Nhà nước bước đầu thúc đẩy công nghệ thông tin ở các nước
này phát triển.
-
Ở các nước có nền công nghiệp điện tử phát triển đều có cơ quan chuyên
trách cho dù dưới tên gọi là gì, để tư vấn cho Chính phủ về lónh vực chuyên
ngành.
-
Nhiều Chính phủ can thiệp rất mạnh vào sự phát triển công nghệ thông tin để
phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội. Các chính sách thu hút đầu tư, công
nghệ, kỹ thuật nước ngoài, chính sách thuế, kiểm soát xuất nhập khẩu đã có
tác động điều chỉnh, tác động tích cực đối với công nghiệp công nghệ thông
tin.
23
Luận án thạc só kinh tế- Giáo viên hướng dẫn P. G.S. Tiến só Võ Thanh Thu- Học viên Lê Hữu Phước
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu xu hướng phát triển ngành công nghiệm điện tử của thế giới và
kinh nghiệm phát triển của một số nước, chúng ta có một số nhận đònh sau:
-
Sản xuất, phân phối trong lónh vực điện tử cũng mang tính toàn cầu hóa. Các
quốc gia phát triển ngành điện tử đều trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau
24