I. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài.
Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi cho thấy: Nhiều học sinh chưa tìm ra
cách giải cụ thể cho mỗi dạng câu hỏi trong đề thi, cứ thuộc gì là viết hết vào bài
thi. Nhiều học sinh cho rằng môn Địa lí là môn xã hội nên chỉ cần học thuộc
lòng và nhớ thật nhiều kiến thức là có thể đạt điểm cao.
Nhưng qua quá trình giảng dạy nhiều năm tôi thấy, nhiều học sinh tuy
thuộc nhiều kiến thức nhưng điểm thi lại không cao, nhất là thi học sinh giỏi.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do thí sinh
còn lúng túng trong việc nhận dạng câu hỏi và cách làm bài thi. Đặc biệt khi gặp
các dạng bài khó như dạng câu hỏi chứng minh, giải thích, so sánh, chứng minhgiải thích…thì hầu như các em đều không biết phải đưa kiến thức gì để làm rõ
yêu cầu của đề bài nên các em cứ thuộc kiến thức gì liên quan là viết vào bài
làm, thậm chí còn bị lạc đề…Hay nói đúng hơn là các em chưa có kỹ năng làm
bài nên điểm không cao.
Chính vì vậy thông qua việc tổng kết các đề thi học sinh giỏi các cấp, nhất
là ở lớp 12, qua kinh nghiệm của bản thân, qua tham khảo sách, tài liệu …tôi đã
mạnh dạn thực hiện sáng kiến: Kinh nghiệm về hướng dẫn học sinh phân loại và
giải một số câu hỏi lí thuyết khó trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí ở
trường trung học phổ thông.
Ở mỗi dạng câu hỏi, sáng kiến tập trung làm rõ các nội dung: yêu cầu của
câu hỏi, cách nhận dạng câu hỏi, phân loại câu hỏi, hướng dẫn cách giải cụ thể
và một số ví dụ minh họa, với hy vọng phần nào khắc phục được thực trạng trên
giúp học sinh học môn địa lí tốt hơn và thi học sinh giỏi tỉnh đạt kết quả cao
hơn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm trang bị cho học sinh các kĩ năng nhận dạng,phân loại và giải các
dạng câu hỏi lí thuyết khó.
- Giúp học sinh tự tin hơn khi làm bài, từ đó đạt điểm và đạt các giải cao
trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Các câu hỏi trong thi học sinh giỏi môn Địa lí rất đa dạng như: câu hỏi
trong đó có nhiều câu hỏi lí thuyết khó( ở mức vận dụng thấp và cao) .
+ Phần thực hành với số điểm 5 điểm( gồm vẽ biểu đồ, nhận xét, sử dụng
Atlat.)
- Với cơ cấu đề thi và biểu điểm trên, thí sinh (TS) cần nắm vững các kiến
thức cơ bản của toàn bộ chương trình và bản chất các kiến thức là khâu quan
trọng nhất. Tuy nhiên việc nắm vững kiến thức cơ bản không phải là tất cả, biết
vận dụng những kiến thức đó để trả lời đúng các yêu cầu của từng loại câu hỏi
trong đề thi mới là khâu quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả bài thi .
Vì vậy ngay từ khi ôn tập, TS nên phân loại các câu hỏi và cách trả lời
từng dạng câu hỏi (lý thuyết cũng như thực hành). Cách làm này rất có hiệu quả,
giúp TS nhanh chóng có định hướng làm bài ngay sau khi đọc đề thi.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Nhiều học sinh cho rằng môn Địa lí là môn xã hội nên chỉ cần học thuộc
lòng và nhớ thật nhiều số liệu là có thể đạt điểm cao trong các kỳ thi.
Nhưng qua quá trình giảng dạy nhiều năm tôi thấy, nhiều học sinh tuy thuộc
nhiều kiến thức nhưng điểm thi học sinh giỏi lại không cao.Nhất là đối với học
sinh các trường thuộc các huyện miền núi có điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều
khó khăn như trường THPT Thạch Thành 2 thì việc học và thi học sinh giỏi lại
càng khó khăn hơn, chứ chưa nói đến việc đạt giải cao trong các kì thi học sinh
giỏi cấp tỉnh.
- Và thực tế, những năm trước bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp
trong bộ môn Địa lí, thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc bồi dưỡng sinh
giỏi, khi thi, học sinh thường có điểm số không cao và không có, hoặc có nhưng
ít giải và giải không cao.Đầu năm học 2016- 2017, tôi đã tiến hành khảo sát mức
2
độ biết vận dụng kiến thức trong để trả lời các câu hỏi lí thuyết khó( như dạng so
sánh, chứng minh, giải thích..)qua phiếu trắc nghiệm và qua kì thi khảo sát học
sinh giỏi lần 1 năm học 2016- 2017, đối với 10 em học sinh thuộc các đội tuyển
7
70
3
30
minh
9
90
1
10
Giải thích 8
80
2
20
Chứng
8
80
2
20
minh- giải
thích
- Qua kết quả điều tra cho thấy: đầu năm học 2016-2017, phần lớn các em
trong đội tuyển học sinh giỏi của trường chưa nắm vững cách làm các dạng câu
hỏi lí thuyết khó, 90% các em có điểm thi khảo sát chất lượng học sinh giỏi lần
1 dưới 10 điểm.
- Từ thực trạng đó , việc đưa ra những giải pháp giúp các em có kĩ năng
làm bài tốt hơn trong các kì thi học sinh giỏi là rất cần thiết, nhất là khi những đề
tài nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất hạn chế.Vì vậy, ngay sau kì thi khảo sát
chất lượng học sinh giỏi lần 1, tôi đã mạnh dạn áp dụng những kinh nghiệm của
mình vào trong công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi nhằm tạo ra những
chuyển biến tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT Thạch
- Cuối cùng, biết cách khái quát hoá kiến thức để có thể tìm ra các tiêu chí
so sánh. Việc xác định được các tiêu chí so sánh phù hợp với yêu cầu câu hỏi có
ý nghĩa rất quan trọng giúp cho bài làm của thí sinh mạch lạc và không sót ý.
c. Phân loại câu hỏi so sánh
Phân loại các câu hỏi so sánh chỉ mang tính chất tương đối, nhưng lại có
giá trị thực dụng cao. Về đại thể, có thể phân tất cả các câu hỏi so sánh thành 2
loại:
- Loại câu hỏi so sánh hai (hay nhiều) chỉnh thể với nhau (gọi tắt là so
sánh chỉnh thể).
Chỉnh thể ở đây có thể hiểu như là một đối tượng địa lí (tự nhiên hoặc kinh tế xã hội) tương đối hoàn chỉnh như vùng hay miền địa lí tự nhiên, vùng thuộc lĩnh
vực địa lí kinh tế - xã hội (vùng chuyên canh, vùng kinh tế) hoặc ngành kinh tế
cũng như một nội dung trọng vẹn nào đó về địa lí dân cư. Với các chỉnh thể này,
việc so sánh phải đa chiều, toàn diện.
Có thể đưa ra một số thí dụ sau đây để minh hoạ:
+ So sánh 2 vùng núi: Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.
+ So sánh đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng châu thổ sông Cửu
Long.
+ So sánh miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung
Bộ.
+ So sánh 3 vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng đầu của nước ta:
Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung du và miền núi Bắc Bộ.
+ So sánh 2 trung tâm công nghiệp: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
+ So sánh 2 ngành công nghiệp trọng điểm đang được phát triển mạnh ở
nước ta hiện nay: công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm và công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng.
- Loại câu hỏi so sánh một bộ phận (hay một phần, một khía cạnh) của
hai (hay nhiều) chỉnh thể (gọi tắt là so sánh bộ phận).
4
núi: Đông Bắc và Tây Bắc, hoặc so sánh 2 vùng chuyên canh cây công nghiệp:
Tây Nguyên với Trung du và miền núi Bắc Bộ).
Khi câu hỏi yêu cầu so sánh thì bắt buộc phải làm nổi bật sự giống nhau
và khác nhau. Cũng thuộc cách hỏi này, nhưng câu hỏi rõ ràng hơn, cụ thể hơn
khi yêu cầu hãy tìm sự giống nhau và khác nhau (thí dụ, tìm sự giống nhau và
khác nhau về điều kiện hình thành, đặc điểm địa hình và đất giữa đồng bằng
sông Hồng với đồng bằng sông Cửu Long). Như vậy, việc phải làm rõ sự giống
nhau và khác nhau là lẽ đương nhiên, không còn gì phải bàn cãi.
+ Cách thứ hai, câu hỏi chỉ yêu cầu tìm sự khác nhau (hoặc giống nhau)
mà thôi. Thí dụ, địa hình vùng núi Trường Sơn Bắc và vùng núi Trường Sơn Nam
khác nhau như thế nào? hoặc tìm sự khác nhau về các nguồn lực giữa 3 vùng
chuyên canh cây công nghiệp hàng đầu của nước ta là Trung du và miền núi Bắc
5
Bộ, Tây Nguyên với Đông Nam Bộ. Rõ ràng, tuỳ theo yêu cầu câu hỏi mà thí sinh
sẽ có định hướng trả lời.
+ Bước thứ nhất được coi là quan trọng và không thể thiếu được trong
quy trình xử lí câu hỏi. Tuy nhiên, ý nghĩa của nó chỉ giới hạn ở việc định hướng
cách giải (tìm cả sự giống nhau và khác nhau, hoặc chỉ 1 trong 2).
+ Sở dĩ phải trình bày bước này vì khi gặp loại câu hỏi so sánh, nhiều thí
sinh không biết cách làm, dù rằng thuộc bài. Do có thể không hiểu câu hỏi nên
các đối tượng so sánh lần lượt được trình bày theo kiểu thuộc bài. Chẳng hạn,
đối với câu hỏi yêu cầu so sánh 2 vùng chuyên canh cây công nghiệp (thí dụ,
Đông Nam Bộ và Tây Nguyên) thì đầu tiên thí sinh trình bày vùng Đông Nam
Bộ (với các kiến thức nhớ được, thậm chí rất thuộc bài như trong SGK), sau đó
là đến vùng Tây Nguyên. Cách trả lời như vậy không phù hợp với câu hỏi so
sánh và được đánh giá là không hiểu câu hỏi, thậm chí là lạc đề.
- Bước thứ hai: Xác định các tiêu chí để so sánh.
+ Xác định các tiêu chí để so sánh là bước có ý nghĩa quyết định đến chất
+ Cách thứ hai là lần lượt phân tích sự giống nhau, rồi đến sự khác nhau
theo từng tiêu chí. Nên chọn cách này vì có thể trình bày được chi tiết, đầy đủ
nội dung cần phải so sánh, mà không bị giới hạn bởi tờ giấy thi.
- Một điểm nữa cần lưu ý là tương quan về lượng kiến thức phải sử dụng và
về cả số điểm giữa hai phần (giống nhau, khác nhau).
+ Ở phần giống nhau, lượng kiến thức thường ít hơn, bởi vì đây là những
điểm chung, tương đồng giữa các đối tượng phải so sánh. Vì thế, trong cơ cấu tổng
số điểm dành cho cả câu hỏi, phần này chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ (thườngvào khoảng
1/3 tổng số điểm).
+ Ngược lại, ở phần khác nhau, lượng kiến thức thường nhiều hơn và số
điểm cũng cao hơn (thườngvào khoảng 2/3 tổng số điểm).
- Đối với câu hỏi so sánh, có 2 trường hợp thí sinh dễ bị mất điểm do bỏ
sót ý với những nguyên nhân hầu như trái ngược nhau.
+ Trường hợp thứ nhất là ở phần giống nhau. Để tìm ra sự tương đồng,
lượng kiến thức sử dụng tuy ít nhưng lại đòi hỏi mức độ khái quát hoá cao. Đó
chính là lí do dễ dẫn đến bỏ sót ý và mất điểm.
+ Trường hợp thứ hai, ngược lại, là ở phần khác nhau. Ở phần này đòi hỏi
phải có sự chi tiết, tỉ mỉ về kiến thức cơ bản để lấp đầy các tiêu chí giữa hai (hay
nhiều) đối tượng phải so sánh. Nếu như không lưu ý đầy đủ thì cũng dễ sót ý và
mất điểm.
* Hướng dẫn cách giải cụ thể:
- Loại câu hỏi so sánh chỉnh thể
+ Yêu cầu của loại câu hỏi này là phải so sánh toàn bộ hai (hay nhiều)
chỉnh thể với nhau. Như đã nêu ở phần trên, chỉnh thể đó có thể là vùng, miền
địa lí tự nhiên hoặc vùng kinh tế (vùng chuyên canh, vùng kinh tế) hoặc ngành
kinh tế...
+ Quy trình xử lí loại câu hỏi này được thực hiện theo 3 bước. Các hướng
dẫn ở đây chỉ tập trung vào việc xác định tiêu chí, còn lấp đầy các tiêu chí (hay
nói cách khác là nắm vững kiến thức cơ bản) thì phụ thuộc vào thí sinh.
+ Khó có thể có một mẫu tiêu chí chung cho tất cả các chỉnh thể (địa lí tự
+ Ngoài loại câu hỏi có thể xác định các tiêu chí theo mẫu như trên đã
trình bày còn có loại câu hỏi mà việc xác định các tiêu chí không theo một mẫu
nào cả. Loại câu hỏi này khó hơn, mặc dù có thể lượng kiến thức phải sử dụng
không nhiều, nhưng lại đòi hỏi trình độ cao về tư duy. Ví dụ như so sánh 2 tháp
dân số của nước ta ở hai thời điểm khác nhau, loại câu hỏi này hầu như gặp rất
nhiều trong các đề thi học sinh giỏi.
- Loại câu hỏi so sánh bộ phận
Loại câu hỏi so sánh bộ phận bao trùm cả phần địa lí tự nhiên và phần địa
lí kinh tế - xã hội Việt Nam.
Vậy bộ phận nào trong chương trình và SGK Địa lí 12 hay được bóc tách
ra để thiết kế làm câu hỏi thi?
+ Đối với phần Địa lí tự nhiên Việt Nam, các bộ phận đó thường là:
• Thành phần tự nhiên (thí dụ, so sánh về địa hình giữa 2 vùng núi Tây
Bắc và Đông Bắc; so sánh địa hình và đất giữa đồng bằng sông Hồng với đồng
bằng sông Cửu Long...).
• Đặc điểm tự nhiên (thí dụ, so sánh đặc điểm của 3 miền địa lí tự nhiên
ở nước ta...).
• Thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên giữa các vùng (khu vực, miền) để
phát triển kinh tế (thí dụ, so sánh thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên đối với
việc phát triển kinh tế giữa khu vực đồi núi với khu vực đồng bằng ở nước ta...).
Vấn đề còn lại đối với thí sinh là căn cứ vào yêu cầu câu hỏi, trên nền tảng kiến
thức đã học phải tìm ra sự giống nhau và khác nhau về bộ phận nào đó giữa các
đối tượng cần so sánh.
+ Đối với phần Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, các bộ phận có thể gặp là:
• Thế mạnh/nguồn lực (rất hay gặp trong các đề thi). Thí dụ, so sánh thế
mạnh để phát triển lương thực - thực phẩm giữa Đồng bằng sông Hồng và Đồng
bằng sông Cửu Long; so sánh nguồn lực để phát triển cây công nghiệp giữa Trung
du và miền núi Bắc Bộ với Tây Nguyên Đông, Nam Bộ...
8
Giống nhau:
• Đều là đồng bằng châu thổ, có diện tích lớn nhất trong số các đồng bằng
của nước ta.
• Đều là hai vùng lương thực - thực phẩm hàng đầu của cả nước.
• Có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước
và cho xuất khẩu.
Khác nhau:
• Đồng bằng sông Hồng có một phần nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc nên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nói chung và lương thực thực phẩm nói riêng.
• Đồng bằng sông Cửu Long có ưu thế hơn hẳn về một số mặt như diện
tích tự nhiên, diện tích trồng cây lương thực, sản lượng lương thực và bình quân
lương thực theo đầu người (dẫn chứng, so sánh với Đồng bằng sông Hồng và
với mức trung bình của cả nước).
9
Thứ hai, cần lưu ý đến yêu cầu câu hỏi (thế mạnh hay nguồn lực) để trả
lời cho đúng. Nếu câu hỏi yêu cầu so sánh thế mạnh thì chỉ tập trung phân tích
lợi thế mà không cần đề cập tới hạn chế (hay khó khăn). Ngược lại, khi so sánh
về nguồn lực thì cần phải nêu cả thế mạnh lẫn hạn chế. Thiếu ý nào, tất nhiên, sẽ
bị trừ điểm ý đó.
+ Đối với câu hỏi so sánh các bộ phận khác (tình hình, cơ cấu, phân bố)
thì thường chỉ bắt gặp trong các đề thi học sinh giỏi quốc gia. Trong trường hợp
này, việc xác định tiêu chí hoàn toàn phụ thuộc vào câu hỏi cụ thể và sự nhanh
nhạy của thí sinh.
2.3.2. Dạng câu hỏi chứng minh
Câu hỏi chứng minh là gì? Là dạng câu hỏi cần làm rõ về một vấn đề hay
một đối tượng địa lí nào đó, yêu cầu cần sử dụng hàng loạt các dẫn chứng để
khẳng định, để làn sáng tỏ vấn đề cần chứng minh, các dẫn chứng chính là chân
lý để thuyết phục người đọc, người nghe. Khi làm bài HS cần trình bày trình tự
+ Chứng minh rằng nước ta có nhiều điều kiện để phát triển tổng hợp kinh
tế biển...
d. Hướng dẫn cách giải dạng câu hỏi chứng minh
* Hướng dẫn cách giải loại câu hỏi chứng minh hiện trạng.
- Cách giải loại câu hỏi này nhìn chung không theo một mẫu cố định nào.
Câu hỏi như thế nào thì phải đưa ra bằng chứng tương ứng như thế để chứng
minh. Ta có thể đưa ra quy trình chứng minh theo các bước sau:
+ Bước 1: Đọc kỹ và nhận dạng câu hỏi. Chú ý xem câu hỏi yêu cầu
chứng minh cái gì: về tự nhiên hay kinh tế -xã hội, về vùng hay về ngành...Đây
là tiền đề quan trọng để định hướng và lựa chọn cách giải phù hợp.
+ Bước 2: Hệ thống hóa kiến thức và số liệu liên quan đến câu hỏi. Cần
chú ý gắn kiến thức với số liệu liên quan.
Về kiến thức: Dựa vào yêu cầu của câu hỏi để chọn lọc kiến thức thích
hợp.
Về số liệu: Cần chú ý đưa ra những số liệu gốc và số liệu bản lề.
+ Bước 3: Sử dụng những kiến thức cơ bản và số liệu đã chọn lọc để
chứng minh theo yêu cầu câu hỏi nhưng cần chú ý tìm ra bằng chứng có tính
thuyết phục.
- Trong quá trình làm bài HS cần linh hoạt phát hiện các mối liên hệ giữa
yêu cầu của câu hỏi với hệ thống kiến thức đã học.
- Câu hỏi chứng minh hiện trạng bao gồm:
+ Chứng minh hiện trạng về địa lí dân cư và các nội dung liên quan như:
đặc điểm chung dân cư cả nước, đặc điểm lao động, vấn đề lao động và việc
làm...
+ Chứng minh hiện trạng về địa lí kinh tế: các câu hỏi dạng chứng minh
hiện trạng về địa lí kinh tế thường có liên quan đến các ngành, các vùng lãnh thổ
hoặc nội dung kinh tế của vùng.
+ Chứng minh hiện trạng về tự nhiên: thường liên quan đến các thành
phần tự nhiên như khí hậu, sông ngòi, đất đai ... mối liên hệ giữa các thành phần
- Tiềm năng lớn về thủy điện.
+ Hệ thống sông Hồng: 11 triệu KW, chiếm 37% tiềm năng thủy điện của
cả nước. Riêng sông Đà gần 6 triệu KW.
+ Các nhà máy thủy điện lớn như: Hòa Bình (1,92 triệu KW) trên sông
Đà, Thác Bà trên sông Chảy. Đang xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La công
suất 2,4 triệu KW lớn nhất nước ta (đã xây dựng xong).
- Tiềm năng lớn về nhiệt điện
+ Dựa trên nguồn than phong phú.
+ Các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than lớn là Uông Bí, Phả lại lớn nhất
cả nước.
Câu 2: Chứng minh dân cư nước ta phân bố không đều.
- Dân cư nước ta phân bố không đều giữa vùng đồi núi với vùng đồng
bằng, ven biển.
+ Đồng bằng với 1/4 diện tích nhưng chiếm 3/4 dân số nên có mật độ dân
số cao.
+ Trung du miền núi ngược lại: chiếm 3/4 diện tích nhưng chỉ chiếm 1/4
dân số nên có mật độ thấp, ví dụ như Tây Nguyên hầu hết dưới 100 người/km 2,
nhiều nơi dưới 50 người/km2 .
- Dân cư nước ta phân bố không đều giữa nông thôn và thành thị : năm
2003: nông thôn khoảng 74%, thành thị khoảng 26%.
- Dân cư nước ta phân bố không đều giữa các vùng miền hay trong một
địa phương.
+ Đồng bằng sông Hồng dân cư đông hơn đồng bằng sông Cửu Long :
Đồng bằng sông Hồng với 1192 người/km2, đồng bằng sông Cửu Long 425
người/km2
+ Miền Bắc: dân cư tập trung đông ở đồng bằng sông Hồng, thưa ở phía
Tây Bắc và Đông Bắc…
2.3.3. Dạng câu hỏi giải thích
12
- Hướng dẫn loại câu hỏi có cách giải theo mẫu nguồn lực
+ Muốn trả lời được loại câu hỏi này ta phải căn cứ vào nguồn lực để giải
thích hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội mà câu hỏi yêu cầu. Nguồn lực cũng có
thể hiểu là điều kiện (tự nhiên, kinh tế xã hội) để phát triển.
+ Nguồn lực phát triển kinh tế xã hội bao gồm :
+ Nguồn lực tự nhiên: Địa hình, đất, khí hậu, thủy văn, sinh vật, khoáng
sản
+ Nguồn lực kinh tế - xã hội : Dân cư, lao động; cơ sở hạ tầng, cơ sở vật
chất kĩ thuật; thị trường; đường lối chính sách; các nguồn lực khác (vốn đầu tư,
lịch sử khai thác lãnh thổ..).
Lưu ý: Tùy vào từng yêu cầu của câu hỏi, từng đối tượng địa lí KT-XH
mà học sinh trình bày tất các nguồn lực hoặc chọn lọc những nguồn lực có liên
quan để trình bày, nguồn lực nào không liên quan thì không phải trình bày sẽ đỡ
mất thời gian.
13
+ Nguồn lực thường bao hàm cả thuận lợi (thế mạnh) và khó khăn (hạn
chế). Nhưng tùy vào yêu cầu của câu hỏi có thể cần hoặc không cần nêu hạn chế
(thuận lợi thì là điều tất yếu phải nêu) do đó HS cần nhậy bén và linh hoạt xác
định đúng hướng trả lời để tránh thiếu mà mất điểm, thừa thì mất thời gian.
+ Khi giải thích cho các đối tượng phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng cao
trong cơ cấu hoặc qui mô lớn nhất ta phải dựa vào các điều kiện thuận lợi
(không nêu hạn chế) và cố gắng sắp xếp các nhân tố quan trọng lên trước, điều
này tùy thuộc vào từng đối tượng. Giải thích cho các đối tượng phát triển chậm,
không ổn định, tỷ trọng thấp hoặc giảm ta nên dựa chủ yếu vào những hạn chế,
khó khăn.
- Hướng dẫn dạng câu hỏi có cách giải theo mẫu khái niệm
Riêng loại câu hỏi này thường gắn với việc giải thích các ngành công
nghiệp trọng điểm. Muốn giải thích được ta cần tìm trong khái niệm ngành công
14
• Nước ta có đường bờ biển dài, vùng biển rộng, nhiều vũng vịnh, đầm,
phá, rừng ngập mặn...
• Nhiệt độ vùng biển : ấm quanh năm...
• Có trữ lượng thủy sản lớn, với nhiều loại hải sản ... ( d/c)
• Có nhiều bãi cá, tôm, tập trung ở 4 ngư trường(d/c)
=>là cơ sở phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản.
• Với mật độ sông suối dày đặc là cơ sở phát triển nghề đánh bắt, nuôi
trồng, chế biến thủy sản nước ngọt.
+ Điều kiện kinh tế - xã hội:
• Dân số đông, lao động đồi dào....
• Cơ sở vật chất kĩ thuật: phương tiện đánh bắt ngày càng hiện đại, công
nghiệp chế biến phát triển...
• Chính sách nhà nước...
• Thị trường trong và ngoài nước mở rộng...
Câu 3: Vì sao chăn nuôi còn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu giá trị
sản xuất nông nghiệp của nước ta?
HS cần nêu những điều kiện khó khăn ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi nước ta:
+ Môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm dễ phát sinh dịch bệnh cho vật nuôi.
+ Hình thức chăn nuôi chủ yếu theo lối quảng canh, lạc hậu.
+ Cơ sở thức ăn chưa ổn định vững chắc (diện tích đồng cỏ nhỏ, phân
tán, có nhiều cỏ tạp khó cải tạo, năng suất đồng có thấp, thức ăn công nghiệp
chế biến chưa nhiều và chất lượng chưa cao...).
+ Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ chăn nuôi còn thiếu;
công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và công tác dịch vụ thú y còn hạn chế.
+ Giống gia súc, gia cầm năng suất thấp; chất lượng chưa cao, vệ sinh an
toàn thực phẩm chưa đảm bảo nên chưa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
- Dạng câu hỏi giải thích có cách giải dựa vào mẫu khái niệm.
+ Các thế mạnh khác : chính sách, cơ sở vật chất…
- Đem lại hiệu quả cao:
+ Kinh tế:Nâng cao năng suất lao động .Nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Xã hội:Nâng cao chất lượng lao động.Giải quyết việc làm cho 1 bộ phận
lao động.Giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng trong nước.
- Tác động mạnh mẽ đến ngành kinh tế khác.
+ Bản thân các ngành công nghiệp.
+ Các ngành cung cấp nguyên liệu.
* Câu hỏi giải thích không theo mẫu cố định.
Câu 1: Vì sao nhiệt độ trung bình năm của nước ta tăng dần từ Bắc
vào Nam
- Lãnh thổ kéo dài theo chiều Bắc - Nam, càng vào Nam càng gần xích
đạo hơn, góc nhập xạ tăng nên nhận được nhiều nhiệt hơn.
- Càng vào Nam, mức độ ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc giảm dần, từ
16ºB vào Nam không có mùa đông lạnh, nóng quanh năm.
Câu 2: Giải thích vì sao tỉ lệ dân thành thị nước ta thấp, tăng nhưng
tăng chậm.
- Tỉ lệ dân thành thị thấp và tăng chậm do chiến tranh, nền kinh tế chủ yếu
vẫn là nông nghiệp, mới ở giai đoạn đầu công nghiệp hóa, trình độ đô thị hóa
thấp….
- Tỉ lệ dân thành thị tăng do đẩy mạnh công nghiệp, dịch vụ, mở mang các
đô thị, di dân từ nông thôn vào thành thị…
Câu 3: Giải thích vì sao năng suất lúa của Đồng bằng Sông Hồng cao
nhất cả nước nhưng sản lượng lúa bình quân lại thấp.
- Dân số quá đông (dẫn chứng).
- Bình quân đất canh tác theo đầu người thấp, khả năng thâm canh có giới
hạn.
- Khả năng mở rộng diện tích đất canh tác hầu như không còn.
- Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh dẫn đến diện tích đất canh tác
+ Dân cư nước ta phân bố không đều giữa nông thôn và thành thị : năm
2003: nông thôn khoảng 74%, thành thị khoảng 26%.
+ Dân cư nước ta phân bố không đều giữa các vùng miền hay trong một
địa phương.
* Dân cư phân bố không đều là do:
+ Do điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
+ Do điều kiện kinh tế - xã hội.
+ Do lịch sử khai thác lãnh thổ.
Câu 2: Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có nhiều thế mạnh.
1. Chứng minh các thế mạnh đó của vùng đã phục vụ cho phát triển kinh
tế - xã hội.
2. Giải thích tại sao việc khai thác những thế mạnh này lại có ý nghĩa lớn
về mặt kinh tế và ý nghĩa sâu sắc về mặt chính trị, xã hội.
* Chứng minh các thế mạnh của vùng Trung du và miền núi phía Bắc để
phát triển kinh tế - xã hội.
- Thế mạnh về khoáng sản và thủy năng:
+ Là vùng có hầu hết các loại khoáng sản của nước ta, nhiều loại có trữ lượng
lớn và có giá trị như: than, sắt, đồng, thiếc, niken, boxit, vàng…
17
+ Tiềm năng lớn về thủy điện:
Với hệ thống sông Hồng có trữ lượng thủy năng chiếm 37% cả nước ( 11 triệu
kw). Phần lớn các sông trong vùng đều có giá trị thủy điện.
+ Nhiều nhà máy đã và đang xây dựng như : Hòa Bình, Thác Bà, Đại Thị, Na
Hang, Sơn La…
- Thế mạnh về cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt đới và ôn
đới.
+ Có diện tích đất feralit lớn và đất phù sa cổ ở trung du.
+ Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, có sự phân hóa theo độ
4. Giải thích vì sao Đông Nam Bộ có nền kinh tế phát triển nhất so với các
vùng khác.
5. Giải thích và chứng minh khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới, gió
mùa ẩm.
18
2.4. Kết quả triển khai sáng kiến
Sáng kiến đã được áp dụng vào công tác bồi dưỡng HS giỏi môn Địa lí
cấp tỉnh ở trường THPT Thạch Thành 2 năm học 2016 - 2017. Bước đầu nhận
được phản hồi tích cực từ các bạn đồng nghiệp và từ phía học sinh: học sinh đã
có kỹ năng phân tích đề tốt hơn, nhận đúng dạng câu hỏi và biết đưa nguồn kiến
thức hợp lí để làm bài.Qua phiếu thăm dò, qua việc phân tích bài làm của các em
và đặc biệt qua điểm số kì thi khảo sát chất lượng học sinh giỏi lần 3, kết quả
như sau:
Dạng câu Mức độ
Điểm thi KSCL học
sinh
hỏi
giỏi lần 3( Thang điểm 20)
Chưa nắm vững Nắm vững
Dưới 10 điểm Từ 10 điểm
trở lên
Số lượng Tỉ lệ Số
Tỉ lệ Số
Tỉ lệ Số
Tỉ lệ
(học
( %) lượng ( %) lượng ( %) lượng ( %)
sinh)
được cách trả lời các câu hỏi lí thuyết khó, chỉ còn 1 em duy nhất còn chưa thật
chắc chắn khi trả lời dạng câu hỏi kết hợp chứng minh- giải thích. Kết quả qua
điểm số của kì thi cho thấy các e đã có sự tiến bộ rõ rệt: 9/10 em có điểm bài thi
khảo sát chất lượng học sinh giỏi lần 3 từ 10 điểm trở lên( chiếm 90%)
- Đặc biệt, kết quả trong kì thi học sinh giỏi tỉnh môn Địa lí của trường
THPT Thạch Thành 2 đã có nhiều chuyển biến tích cực, điểm số của các em
tham gia kì thi cao hơn các năm trước và số lượng giải cũng nhiều hơn: Có 5 em
tham gia thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Địa lí năm học 2016-2017 vừa qua, thì
cả 5 em đều đạt từ 12 điểm trở lên, trong đó 3 em đạt giải khuyến khích học sinh
giỏi cấp tỉnh.
III. KẾT LUẬN
3.1. Kết luận
- Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, trên nền kiến thức cơ bản đã có và vốn
kinh nghiệm của bản thân, tôi xin mạnh dạn chia sẻ với các bạn đồng nghiệp
một vài kinh nghiệp về bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua sáng kiến: Kinh
nghiệm về hướng dẫn học sinh phân loại và giải một số câu hỏi lí thuyết khó
trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí ở trường trung học phổ thông
Những kinh nghiệm trong sáng kiến này có thể áp dụng đối với bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 nói riêng và với môn Địa lí nói chung. Với mỗi dạng
19
câu hỏi, ngoài việc đưa ra cách giải , chuyên đề còn nêu rõ những yêu cầu
chung, cách phân loại và các ví dụ cụ thể để minh họa.
- Tuy nhiên, do kinh nghiệm và thời gian hạn chế nên sáng kiến chỉ đưa ra
được một số ví dụ cụ thể. Để sáng kiến của tôi có thể áp dụng rộng và có hiệu
quả cao hơn vào việc giảng dạy và bồi bưỡng học sinh giỏi, tôi rất mong được
sự góp ý chân thành của các thế hệ đồng nghiệp.
3.2. Kiến nghị.
- Để sáng kiến đi vào thực tiễn, cần có sự tạo điều kiện của Ban giám hiệu
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thanh Trường
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THPT Thạch Thành 2
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá Năm
học
giá xếp loại
TT Tên đề tài SKKN
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A,
B, loại
Tỉnh...)
hoặc C)
1. Một số biện pháp nhằm Sở
GD& C
2010- 2011
ĐT Thanh
nâng cao hiệu quả công tác
Hoá
chủ nhiệm lớp ở trường
THPT Mường Lát.
22