Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà thực tiễn phát triển kinh tế của Việt
Nam đang dần hội nhập với thế giới, sự phát triển của thị trường tài chính là
một đòi hỏi tất yếu. Thị trường tài chính trực tiếp mà điển hình là thị trường
chứng khoán, những năm gần đây đã được cung cấp các yếu tố như môi
trường pháp lý, tổ chức trung gian hỗ trợ phát triển để tạo ra kênh huy động
vốn mới cho nền kinh tế. Nhưng nó vẫn cần có thời gian phát triển ổn định để
thực hiện chức năng này. Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu mà nền kinh tế đặt ra là
huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa Đất nước, đang đặt
lên vai các ngân hàng thương mại (NHTM) - thị trường tài chính gián tiếp
điển hình nhất, với tư cách là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế.
Sự ra đời của một loạt các ngân hàng thương mại và một số ngân hàng
100% vốn nước ngoài trong những năm gần đây đã làm cho quá trình cạnh
tranh trong lĩnh vực ngân hàng mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong đó sự giành
giật thị phần từ nguồn vốn huy động từ dân cư đang có xu hướng giảm trong
khối ngân hàng thương mại nhà nước so với các ngân hàng khác. Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Hào nằm trong khối chi
nhánh của một trong những Ngân hàng thương mại mới được chuyển đổi Cổ
phần hoá với tỷ lệ vốn Nhà nước tham gia trên 87% mặc dù hiện đang đứng ở
tốp đầu các NHTM lớn và có uy tín, tuy nhiên vấn đề huy động vốn vẫn được
đặc biệt quan tâm.
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên và thực tế tại nơi Công tác, thực tập
em đã chon đề tài: “Mở rộng huy động tiền gửi dân cư tại ngân hàng TMCP
Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Hào làm đề tài cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
1
đều có tiền gửi tại ngân hàng, đây cũng đồng thời là tổ chức cho vay chủ yếu
đối với các tổ chức, cá nhân trong các thành phần kinh tế. Vậy ngân hàng là
gì? Có thể nói đây không phải là câu hỏi gắn với một thời điểm nhất định và
với một đối tượng nhất định. Ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức
năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề
là ở chỗ các nhân tố trên đang không ngừng thay đổi.
Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét ngân hàng trên phương diện
cung cấp các loai hình dịch vụ: Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng, đặc biệt là tín dụng đầu tư, huy động
vốn tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong lĩnh vực kinh tế. Và trong
phạm vi nghiên cứu của bài này thì đây cũng đồng thời là khái niệm Ngân
hàng thương mại.
1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Là một loại hình doanh nghiệp cung cấp hàng hoá đặc biệt chủ yếu là
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiền tệ và các dịch vụ Ngân hàng, hoạt động của NHTM vì thế cũng có những
đặc trưng riêng. Một ngân hàng cơ bản bao gồm các hoạt động sau: Hoạt
động huy động vốn, hoạt động tín dụng đầu tư, dịch vụ tài chính và các hoạt
động khác.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là cơ sở để quyết định mức
độ huy động vốn cũng như giới hạn đầu tư tín dụng. Nguồn chủ yếu phục vụ
dầu tư của các ngân hàng là nguồn vốn huy động. Huy động vốn và hoạt động
tạo nguồn vốn của ngân hàng thương mại, đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng
1.1.2.2. Hoạt động đầu tư
Công việc của các ngân hàng là tìm kiếm các khoản vốn để sử dụng
nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các tài sản
khác nhau của ngân hàng trong đó hoạt động cho vay và đầu tư là hai hoạt
động chính và quan trọng của NHTM.
- Hoạt động đầu tư Là hoạt động đặc trưng của ngân hàng được phân
chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Theo thời gian đầu tư, cho vay sẽ có:
Đầu tư ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Theo hình thức đầu tư được chia thành:
cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê…. Theo tài sản đảm bảo được chia
thành đầu tư, cho vay có tài sản đảm bảo và đầu tư, cho vay không có tài sản
đảm bảo. Và nhiều cách phân loại khác như: theo thành phần kinh tế, theo đối
tượng tài trợ, theo mục đích… Hoạt động đầu tư, cho vay được đảm bảo an
toàn sẽ là nhân tố quan trong làm tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng vì vậy
chính sách đầu tư luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM.
- Chức năng cơ bản của hệ thống NHTM ngày nay là tạo ra và cung cấp
các dịch vụ tài chính mà thị trường có nhu cầu, một trong những dịch vụ quan
trọng nhất là cho vay, tuy nhiên ngân hàng không sử dụng toàn bộ vốn huy
động để cho vay. Thu nhập từ cho vay là khoản phải chịu thuế, các khoản cho
vay có tính thanh khoản thấp, rủi ro cao vì vậy ngân hàng thường phân chia
danh mục tài sản của mình và dành một phần vào đầu tư chứng khoán: chủ
yếu là vào tín phiếu, trái phiếu. Hoạt động này ngày càng đóng vai trò quan
trọng đối với danh mục tài sản của các ngân hàng: đem lại thu nhập nâng cao
tính thanh khoản trong điều kiện thị trường tài chính phát triển và ổn định
1.1.2.3. Các hoạt động khác
Ngoài huy động vốn, cho vay và đầu tư các NHTM còn cung cấp nhiều
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
5
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
huy động của NHTM. Đặc điểm này là do bản chất những khoản huy động từ
dân cư chính là nhứng khoản tiết kiệm và nhàn rỗi tạm thời trong xã hội được
người dân tích trữ lại gửi ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong
tương lai. Dân cư cũng đồng thời là thành phần chính của nền kinh tế nên xét
về tổng thể nếu nguồn tiển gửi dân cư được tập trung sẽ tạo ra một nguồn vốn
lớn cho ngân hàng. Và chi phí huy động từ dân cư có ảnh hưởng rất lớn đến
chi phí huy động chung của tổng nguồn huy động và là một trong những chỉ
tiêu quan trọng để ngân hàng quyết định lãi suất cho vay.
Tiền gửi dân cư là nguồn vốn có tính ổn định, là cơ sở để ngân hàng
quyết định tỉ lệ dự trữ và cho vay. Vốn huy động từ các tổ chức tổ chức kinh
tế xã hội, định chế tài chính thường không ổn định do có sự chuyển dịch liên
tục trong nền kinh tế. Trong khi đó nguồn tiền gửi dân cư thường là do mục
đích tích lũy cho tương lai do đó các ngân hàng có thể có kế hoạch và dự
báo được
Nguồn vốn huy động từ dân cư thường có thời gian tương đối dài: sẽ là
những yếu tố thuận lợi cho việc cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng.
Như vậy ta có thể thấy được Nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân cư có
vai trò chủ chốt trong việc các NHTM quyết định khối lượng vốn cung cấp
cho nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp có khả năng tài chính lớn mạnh đầu tư
để sản xuất, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, tăng thu nhập trong
nền kinh tế.
1.2.2.2. Vai trò huy động tiền gửi dân cư của NHTM
Việc phát triển các hình thức huy động tiền gửi dân cư không những đem
lại lợi ích cho các NHTM, mà còn cho cả xã hội và khách hàng là dân cư.
thì một ngân hàng càng thu hút được nguồn vốn dồi dào với giá cả phù hợp sẽ
càng có nhiều cơ hội kinh doanh. Vai trò này đối với ngân hàng là rõ nét hơn
cả vì đặc thù của ngân hàng là huy động để cho vay mà dân cư là đối tượng
rộng nhất và quan trọng nhất mà các ngân hàng hướng tới. Dân cư không chỉ
là đối tượng huy động vốn của NHTM mà còn là đội ngũ khách hàng tiềm
năng mà ngân hàng hướng tới. Khi có thu nhập thặng dư thì một bộ phận dân
cư tiến hành gửi khoản thặng dư của mình vào ngân hàng, trong khi một bộ
phận khác không có vốn sẽ tìm đến ngân hàng đề nghị được sử dụng vốn dưới
dạng các khoản vay. Như vậy hoạt động huy động tiền gửi dân cư mang lại lợi
ích cho cả ngân hàng, dân cư và nền kinh tế.
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi dân cư của ngân hàng thương mại
Các hình thức huy động tiền gửi dân cư mà NHTM áp dụng bao gồm: tiền
gửi tiết kiệm dân cư, phát hành các giấy tờ có giá, mở tài khoản cá nhân…
1.2.3.1. Huy động tiền gửi tiết tiết kiệm dân cư
Hiện nay, các NHTM huy động nguồn này từ dân cư chủ yếu thông qua
hình thức tiền gửi tiết kiệm và bao gồm nhiểu loại:
a. Theo kỳ hạn
- Tiết kiệm không kỳ hạn
Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng không được sử
dụng các công cụ thanh toán. Loại tiền này có lãi suất cao hơn tiền gửi thanh
toán, tuy nhiên mức lãi suất không cao nên mục đích chủ yếu của người gửi
tiền là đảm bảo an toàn vốn.
- Tiết kiệm có kỳ hạn
Là khoản tiền có sự thỏa thuận về thời hạn gửi tiền và rút tiền và khách
- Tiết kiệm trả lãi định kỳ
Là hình thức tiết kiệm trả lãi cho từng kỳ hạn mà khách hàng và ngân
hàng đã thỏa thuận. Đến kỳ tính lãi, khách hàng có thể rút phần lãi của kỳ đã
đăng ký vào bất cứ ngày làm việc nào của ngân hàng. Nếu khách hàng không
tính lãi theo kỳ hạn đã đăng ký thì ngân hàng chỉ thực hiện sao kê tính lãi, hết
kỳ tính lãi cuối cùng thì số lãi còn chưa lĩnh được nhập vào gốc.
d. Theo phương thức nộp gốc
- Tiết kiệm gửi một lần
Là loại hình tiết kiệm mà ngân hàng chỉ gửi vào đó một lần và từ thời
điểm đó đến khi đáo hạn. Với hình thức này ngân hàng không tốn nhiều chi
phí quản lý do số dư tài khoản của khách hàng không biến động. Chính vì vậy
mức lãi suất của loại tiền gửi này cao.
- Tiết kiệm gửi nhiều lần
Tiết kiệm gửi nhiều lần hay tiết kiệm gửi góp là hình thức tiết kiệm mà
định kỳ đã đăng ký với ngân hàng, khách hàng gửi vào ngân hàng một số tiền,
số tiền gửi từng lần có thể là cố định hoặc thay đổi theo khả năng của khách
hàng. Lãi suất của loại tiền này thấp hơn tiết kiệm thông thường và ngoài việc
phụ thuộc vào kỳ hạn gửi thì lãi suất tiết kiệm gửi góp còn phụ thuộc vào
khoảng cách giữa hai lần gửi, khoảng cách này càng nhỏ thì lãi suất càng cao.
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.3.2. Huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá
Cũng giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng tiến hành đi
vay bằng cách phát hành các giấy nợ như: kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu trên
thị trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn do đó
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động quan trọng của ngân hàng. Dưới đây em xin đề cập đến vấn đề mở rộng
huy động tiền gửi dân cư và những chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng huy
động tiền gửi dân cư của NHTM.
1.3. Mở rộng huy động tiền gửi dân cư ở NHTM
Tiền gửi dân cư là một trong những nguồn có chi phí thấp nhất mà ngân
hàng huy động được cùng với tính ổn định cao nhằm làm tăng khả năng sinh
lợi của ngân hàng vì vậy thu hút tiền gửi dân cư là mục tiêu mà các NHTM
luôn hướng tới trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau.
1.3.1. Khái niệm mở rộng huy động tiền gửi dân cư của NHTM
Trong ngôn ngữ hàng ngày nói chung cũng như trong hoạt động kinh tế
nói riêng ta thường bắt gặp các cụm từ: Nâng cao, kéo dài hay mở rộng. Nâng
cao hay được sử dụng để nói về sự phát triển hay kéo dài chỉ sự thay đổi về
thời gian. Bàn về khái niệm mở rộng ở đây có thể hiểu là: sự tác động bổ sung
lên một mặt nào đó của đối tượng đã có sẵn theo chiều hướng tăng lên về mặt
lượng so với trạng thái ban đầu. Khái niệm "mở rộng" có thể hiểu theo nhiều
cách khác nhau ở các góc độ khác nhau song điều quan trọng cần bàn đến ở
đây là mở rộng huy động tiền gửi dân cư. Với định nghĩa dân cư đã trình bày
ở trên thì mở rộng huy động tiền gửi dân cư là việc ngân hàng sử dụng các
phương tiện, cách thức để làm tăng lên về quy mô và phạm vi của hoạt động
huy động vốn hướng tới đối tượng là dân cư nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
Là một trong những hoạt động truyền thống và quan trọng trong ngân hàng
nên đánh giá việc huy động tiền gửi dân cư mà cụ thể là đánh giá mức độ mở
rộng huy động tiền gửi dân cư cũng cần có các chỉ tiêu để đánh giá : Số lượng
khách hàng, phượng tiện thanh toán, số lượng tài khoản ở ngân hàng...
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng huy động tiền gửi dân cư
♦ Số lượng khách hàng tăng lên
Khách hàng nói đến ở đây là đối tượng huy động vốn của các NHTM bộ phận dân cư có thu nhập nhàn rỗi. Với những ưu việt của hình thức huy
động tiền gửi dân cư mà các ngân hàng luôn trong cuộc chạy đua tìm kiếm
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
thì mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm với bộ phận dân cư có thu nhập nhàn rỗi
vẫn là ưu tiên hàng đầu, trường hợp này mối tương quan thuận giữa tài khoản
giao dịch và việc mở rộng huy động tiền gửi từ dân chúng của NHTM không
phải là hoàn toàn đúng.
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
♦ Phương tiện thanh toán đa dạng và hiện đại
Một trong ba chức năng cơ bản của ngân hàng là tạo phương tiện thanh
toán. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận: thứ
nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao
dịch của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền
gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn. Trong xu hướng mà tài khoản tiền gửi
giao dịch không chỉ dành cho các tổ chức kinh tế mà còn hướng về cả bộ phận
dân cư là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng
thay thế cho thói quen sử dụng tiền mặt của đại bộ phận dân cư ỏ một số nền
kinh tế đang phát triển hiện nay. Do đó việc mở rộng huy động tiền gửi dân cư
theo cả hình thức mở tài khoản cá nhân hay tiền gửi tiết kiệm đều có chức
năng tạo phương tiện thanh toán một trong những chức năng cơ bản của ngân
hàng. Có thể nói đây là chỉ tiêu mang tính vĩ mô và khó định lượng song nó
lại đánh giá được mức độ gia tăng huy động tiền gửi dân cư ở các NHTM.
♦ Sự tăng lên về lượng tiền gửi từ dân cư: Mục tiêu của việc mở rộng
huy động tiền gửi dân cư cuối cùng là làm sao để ngân hàng có thể cải thiện
được nguồn vốn này, việc mở rộng thành công hay thất bại phản ánh qua
lượng tiền gửi có tăng lên không, có đủ đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của
ngân hàng hay không.
♦ Loại tiền huy động tăng lên: Khi nền kinh tế phát triển ở một mức độ
chính sách tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn đến nghiệp vụ tạo
vốn của NHTM. Nó thể hiện trên các khía cạnh:
- Mục tiêu chính sách tiền tệ
Mục tiêu chính sách tiền tệ bao gồm: Kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả,
ổn định sức mua của đồng tiền, tăng trưởng kinh tế... Tùy thuộc vào việc thực
hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ mà sự ảnh hưởng của nó đến sự tạo vốn
của NHTM cũng khác nhau. Khi lạm phát trong nền kinh tế tăng nhà nước có
chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền gửi
ngoài xã hội thì lúc đó NHTM thu hút vốn dễ dàng hơn. Khi nhà nước có
chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân hàng khó huy
động vốn vì người có tiền bỏ vào sản xuất có lợi hơn khi gửi vào ngân hàng.
- Việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ
Trong việc vận hành các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của
NHTW, mỗi công cụ đều tác động đến nghiệp vụ tạo vốn nói chung cũng như
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạt động huy động tiền gửi dân cư của ngân hàng thương mại nói riêng. Hai
công cụ chính đó là lãi suất chiết khấu và dự trữ bắt buộc.
- Chính sách đầu tư của nhà nước
Chính sách đầu tư của nhà nước hợp lý hay không hợp lý đều ảnh hưởng
đến chính sách huy động vốn của ngân hàng. Bởi vì trên thực tế, những chính
sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường kinh doanh không chỉ đối với
khách hàng mà còn đối với cả ngân hàng.
• Tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Nền kinh tế ở vào thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển, người dân có
thu nhập cao từ đó tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho
Ngân hàng là một ngành dịch vụ chất xám mà thành công của nó đòi hỏi
phải có những cá nhân xuất sắc, có tham vọng kinh doanh làm giàu và thăng
tiến. Khả năng huy động vốn của gắn trực tiếp với trình độ, kỹ năng, kinh
nghiệm của các cán bộ nhân viên ngân hàng. Rất nhiều mảng hoạt động của
ngân hàng đặc biệt là hoạt động huy động vốn mà cụ thể là huy động tiền gửi
dân cư đòi hỏi người lao động phải có tay nghề cao, đòi hỏi kinh nghiệm tích
lũy liên tục. Ngân hàng cũng là một ngành có tốc độ đổi mới và cải tiến rất
cao vì thế khả năng tự học tự đào tạo của nhân viên sẽ có ý nghĩa quyết định
với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng.
+ Năng lực và trình độ quản lý của cán bộ ngân hàng
Một ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, về tài sản nợ, tài sản có tức là
trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng dự đoán được những rủi ro
xảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay không,
nắm bắt được những biến đổi ngoài thị trường một cách nhanh chóng để có
thể tư vấn được cho khách hàng của mình có hiệu quả nhất. Từ đó thu hút
khách hàng làm cho môi trường đầu tư của ngân hàng ngày càng được mở
rộng. Mặt khác do quản lý tốt nên trong quá trình hoạt động, ngân hàng đảm
bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có điều kiện thu hút khách hàng dân
cư đến gửi tiền cũng như sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng. Một vấn
đề nữa là trình độ của cán bộ làm công tác huy động vốn càng cao thì trong
quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác sẽ được thực hiện nhanh chóng,
chính xác và có hiệu quả. Từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng hoạt động
kinh doanh, thu hút được ngày càng nhiều khách hàng.
+ Hình thức huy động vốn
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán bằng tiền mặt. Nhưng ngày nay do công nghệ thanh toán hiện đại, thanh
toán không dùng tiền mặt ngày càng chiếm ưu thế, thay vì thanh toán bằng
tiền mặt khách hàng có thể thực hiện việc thanh toán bằng séc, thẻ… qua
ngân hàng. Để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt khách hàng phải mở
tài khoản tại ngân hàng từ đó ngân hàng đồng thời thực hiện được công việc
huy động vốn qua tài khoản của khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng, việc thu thập thông tin là rất cần thiết. Nhờ có tin học hiện đại có
thể giúp ngân hàng thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường, thông qua
đó có thể xác định được thị trường đầu tư vốn hiệu quả phát triển nghiệp vụ
và các dịch vụ của mình. Mặt khác nhờ thu thập thông tin tốt nên hạn chế rủi
ro trong kinh doanh dẫn đến lợi nhuận tăng, ngân hàng có điều kiện mở rộng
nguồn vốn huy động.
+ Mạng lưới phục vụ cho việc huy động tiền gửi dân cư
Với những ngân hàng sát với địa bàn dân cư hoặc gần với trung tâm
thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn. Mạng lưới huy động vốn của
các NHTM thường biểu hiện qua số lượng các quỹ tiết kiệm. Khi dân chúng
có tiền nhàn rỗi, họ thường đưa ra các quầy tiết kiệm gần nhà để gửi. Vì vậy
mạng lưới huy động cần rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền.
Mạng lưới huy động không chỉ mở rộng ở vùng dân cư mà còn ở những nơi
cách xa trung tâm kinh tế như: nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nếu mạng lưới
hẹp sẽ gây khó khăn cho các khách hàng có tiền nhàn rỗi ở xa khi muốn gửi
tiền vào ngân hàng sẽ khiến cho phí giao dịch lớn và mất nhiều thời gian.
+ Các dịch vụ do ngân hàng cung cấp
Nếu ngân hàng đưa ra các dịch vụ tốt và đa dạng thường có lợi thế hơn
so với các ngân hàng khác có dịch vụ giới hạn. Vì ngân hàng nào càng đáp
thường biểu hiện qua số lượng việc tổ chức các quỹ tiết kiệm. Khi dân chúng
có tiền nhàn rỗi họ thường đưa ra quầy tiết kiệm gần nhà nhất để gửi tiền.
Mạng lưới huy động cần rộng rãi tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền.
Mạng lưới huy động không chỉ tập trung ở vùng đông dân cư mà còn phải
thiết lập ở các khu vực xa trung tâm kinh tế như: vùng nông thôn, vùng xâu,
vùng xa. Nếu mạng lưới hẹp sẽ gây khó khăn cho khách hàng có tiền nhàn rỗi
vì phí giao dịch lớn hơn nữa lại mất nhiều thời gian.
+ Lãi suất huy động và cho vay
Đối với người gửi tiền là doanh nghiệp họ gửi tiền vào ngân hàng với
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục đích thanh toán thì lãi suất có thể không phải là vấn đề quan tâm hàng
đầu, Tuy nhiên cũng có một lượng đáng kể nguồn vốn của ngân hàng là thu
hút từ khu vực dân cư, bộ phận này gửi tiền vào ngân hàng với mục đích
chính là để hưởng lãi vì vậy lãi suất là điều mà họ quan tâm và đây cũng là
những đối tượng rất nhạy cảm với lãi suất. Ngoài ra khi huy động mà chưa đủ
vốn để sử dụng thì ngân hàng còn phải đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ
NHTW…
Hiện nay, một số ngân hàng để thu hút khách hàng gửi tiền đã sử dụng
lãi suất rất linh hoạt như: chia nhỏ lãi suất theo nhiều thời hạn khác nhau kể
cả lãi suất cho tiền gửi 2 tháng ở các ngân hàng đầu tư và để không ứ đọng
vốn thì họ phải giảm lãi suất cho vay tuy nhiên sự tăng giảm này phải ở trong
biên độ cho phép.
+ Bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro là điều không tránh
khỏi. Vì vậy sự an toàn của các NHTM luôn là mối quan tâm hàng đầu của
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI DÂN CƯ
Ở NH TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH MỸ HÀO
2.1. Khái quát về NHTMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Mỹ Hào
Ngân hàng TMCP Công Thương VN được thành lập từ năm 1988 sau
khi tách ra từ ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đến nay cơ cấu sở hữu tại
NHTMCP Công Thương VN gồm: Chính phủ là 80%; International Finance
Corp IFC là 10%; cổ đông khác: 10%. Trong năm 2011, NHTMCP Công
Thương VN sẽ bán tiếp 15% vốn cho Bank of Nova Scotia – một trong 10
ngân hàng hàng đầu của Canada và thế giới.
Nhận biết được tiềm lực phát triển kinh tế của huyện Mỹ Hào- Hưng
Yên ban lãnh đạo ngân hàng đã cho thành lập một chi nhánh trên địa bàn
quận. Chi nhánh đã đóng vai trò là cầu nối chu chuyển luồng vốn giữa các
thành phần kinh tế đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh cho Mỹ
Hào cũng như các vùng lân cận của Hưng Yên. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao, ngay sau khi thành lập NHTMCP Công Thương Việt Nam Chi
nhánh Mỹ Hào đã thực hiện chủ trương đúng đắn của ban lãnh đạo NHTMCP
Công Thương Việt Nam: Về hoạt động kinh doanh, đổi mới công nghệ, không
ngừng trau dồi và nấng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên của chi
nhánh.
SV: Đỗ Thị Bích Ngãi - Lớp: 30K7
23
KHDN
Tổ
TTKQ
PGD
Văn
Lâm
PGD
Ân
Thi
Phòng
KTGD
NHTMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Mỹ Hào được tách ra từ
Chi nhánh NHCT Hưng Yên, trở thành chi nhánh cấp 1 từ 10/08/2006, có trụ
sở chính tại thị trấn bần, huyện Mỹ hào, tỉnh Hưng Yên. Hiện tại chi nhánh có
4 phòng giao dịch là : PGD Văn Giang- Văn Giang- Hưng Yên; PGD Khoái
Châu- Dân Tiến- Khoái Châu- Hưng Yên; PGD Ân Thi – Ân Thi- Hưng Yên;
PGD Văn Lâm- Chợ đường cái- Văn Lâm – Hưng Yên.
Phòng giao dịch là nơi có nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụ: huy động
vốn, nhận tiền gửi, rút tiền gửi... với khách hàng khi khách hàng đến giao dịch
tại chi nhánh, đồng thời chuyển các chứng từ của nghiệp vụ trên cho phòng kế
toán ngân quỹ để phòng này vào sổ sách và thực hiện nghiệp vụ lưu chứng từ
theo quy định của NHTMCP Công Thương Việt Nam. Một hệ thống hoạt
động tốt là hệ thống mà ở đó ngoài yêu cầu đối với từng bộ phận đòi hỏi phải
có sự gắn kết và mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận thống nhất. Bộ máy tổ
chức của chi nhánh cũng không nằm ngoài quy luật đó.Trong những năm qua,