Thực trạng huy động tiền gửi dân cư tại Ngân Hàng công thương chi nhánh Yên Viên - Pdf 30

Lời nói đầu
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các thành viên tham
gia phải có sự năng động và yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện
nay đòi hỏi phải có nhiều vốn. Huy động vốn trở thành công tác quan trọng
và chiến lược nhằm phát triển kinh tế đất nước theo định hướng trên. tuy
nhiên vốn cho đầu tư phát triển của đất nước ta vẫn chưa vẫn chưa đáp ứng
đủ nhu cầu, công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển vẫn gặp rất nhiều
khó khăn. để có thể xây dựng đất nước theo con đường phát triển của kinh
tế thị trường cần phải giải quyết các vấn đề về vốn.
Vốn cho đầu tư phát triển có thể tạo được từ nhiều nguồn, trong đó
nguồn huy động qua hệ thống ngân hàng chiếm tỷ trọng cao. Trong những
bước đầu đi theo kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng góp phần quan
trọng vào việc đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển, từ đó tích cực tham gia
trong việc ổn định và điều hoà và lưu thông tiền tệ, ổn định kinh tế quốc
gia
Trước những đòi hỏi phải không ngừng phát triển của thời đại và yêu
cầu đổi mới cơ chế quản lý, điều hành của ngành ngân hàng , công tác huy
động vốn qua ngân hàng vẫn chưa phát huy được hết khả năng , vẫn còn
nhiều bất cập về quản lý điều hành. Chi nhánh ngân hàng công thương yên
viên không là ngoại lệ. Vấn đề tìm ra những giải pháp để hoàn thiện công
tác huy động vốn trở thành đề tài nghiên cứu được nhiều nhà kinh tế
quantâm.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của công tác huy động vốn, và những
tồn tại cần giải quyết, hơn nữa,trong thời gian thực tập tại chi nhánh ngân
hàng công thương yên viên ,em cũng đã nhận ra nhiều bất cập trong công
tác huy động vốn của chi nhánh, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp
tăng cường huy động tiền gửi dân cư tại ngân hàng công thương Yên
Viên” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập.
Chuyên đề nghiên cứu của em ngoài phần mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, bao gồm 3 phần cơ bản sau:

của Ngân hàng. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của Ngân hàng, song nó lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một
Ngân hàng. Vì đây là một nguồn vốn ổn định, nên một mặt Ngân hàng chủ
động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt khác lại được coi
như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng
thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Vốn tự có đóng
vai trò quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của Ngân
hàng, quyết định đến năng lực và thế phát triển của Ngân hàng Thương
mại.
Vốn tự có của Ngân hàng Thương mại được hình thành bởi vốn điều lệ (
vốn pháp định ) và vốn tự bổ sung ( Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự
trữ đặc biệt dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ phát triển kinh doanh, quỹ khen
thưởng, quỹ phóc lợi, quỹ khấu hao cơ bản tài sản cố định ).
1.1.1.2- Vốn huy động
là những giá trị tiền tệ thuộc các chủ sở hữu khác nhau được Ngân hàng
huy động từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá
trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh
doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh. Ngân hàng chỉ có quyền
sử dụng mà không có quyền sở hữu đối với nguồn vốn này và phải có trách
nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu
rút vốn.
Vốn huy động của Ngân hàng Thương mại bao gồm: Tiền gửi của các tổ
chức kinh tế ( tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn ) và tiền gửi huy
động từ các tầng líp dân cư ( tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu ).
Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các
Ngân hàng Thương mại. Nó là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, nó giữ vị trí rất quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng.
1.1.1.3- Vốn đi vay của các Ngân hàng
là vốn được hình thành từ mối quan hệ vay-mượn giữa Ngân hàng

Doanh nghiệp.
3. Huy động vốn dài hạn.
Nguồn vốn này có thời hạn huy động trên ba năm và được Ngân hàng
Thương mại sử dụng vào nhiệm vụ đầu tư phát triển theo định hướng phát
triển kinh tế của Đảng và Nhà nước như cho vay dài hạn đầu tư vào các dự
án phục vụ quốc kế dân sinh, các dự án đổi mới thiết bị công nghệ của các
Doanh nghiệp, xây dựng mới các nhà máy Lãi suất mà Ngân hàng
Thương mại phải trả cho chủ sở hữu nguồn vốn này thường rất cao.
* Phân loại theo đối tượng huy động:
1. Huy động từ các tổ chức kinh tế.
Với tư cách là trung tâm thanh toán, các Ngân hàng Thương mại thực
hiện mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các khách hàng. Từ đó một khối
lượng tiền khổng lồ được chuyển qua các Ngân hàng Thương mại để thực
hiện chức năng thanh toán của nó theo yêu cầu của chủ tài khoản. Do có sự
đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả, cho nên trên hệ
thống tài khoản thanh toán của Ngân hàng luôn tồn lại một số dư tiền gửi
nhất định và nó đã trở thành một nguồn vốn huy động có chi phí thấp, nếu
biết khai thác sử dụng thì nguồn vốn này sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại.
2. Huy động từ các tầng líp dân cư.
Mỗi mét gia đình, mỗi một cá nhân trong xã hội đều có những khoản
tiền tiết kiệm để dự phòng cho nhưng nhu cầu chi dùng trong tương lai, khi
xã hội càng phát triển thì khoản dự phòng này càng lớn. Nắm được đặc tính
này, các Ngân hàng Thương mại đã tìm mọi hình thức nhằm huy động tối
đa các khoản tiết kiệm này, từ đó tạo ra một nguồn vốn không nhỏ để đáp
ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và thu được lợi nhuận cho bản thân Ngân
hàng.
3. Huy động từ Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng khác.
Như trên đã nói, nguồn vốn này được hình thành từ mối quan hệ vay-
mượn giữa Ngân hàng Thương mại với Ngân hàng Trung ương, hoặc giữa

hàng có nhu cầu đột xuất cần chi tiêu một khoản tiền trong khi tiền gửi
chưa đến hạn rút. Để tháo gỡ khó khăn, tạo được lòng tin lâu dài đối với
các khách hàng của mình, các Ngân hàng đã cho khách hàng lùa chọn hai
cách giải quyết: Một là, cho khách hàng vay tiền của Ngân hàng, khi đến
thời hạn rút tiền thì khách hàng sẽ rút tiền gốc và lãi ra để trả nợ và lãi vay
cho Ngân hàng; Hai là, khách hàng có thể rút tiền gửi trước hạn và nhận lãi
suất tiền gửi không kỳ hạn tại thời điểm rút tiền.
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn mang tính chất ổn định vì mục
đích của người gửi thực chất là để kiếm lời, do đó các Ngân hàng Thương
mại hoàn toàn có thể sử dụng tối đa số tiền này vào cho vay. Để tăng cường
khả năng huy động nguồn vốn vốn này, các Ngân hàng thường có những
chính sách huy động phù hợp trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng được mọi
nhu cầu của các khách hàng, mà nổi bật nhất là chính sách lãi suất: Lãi suất
huy động vốn luôn tuỳ thuộc vào kỳ hạn gửi tiền, kỳ hạn gửi tiền các dài thì
lãi suất huy động càng cao. Hiện nay các Ngân hàng thường định ra các kỳ
hạn: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 2 năm, 5 năm.
- Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào
Ngân hàng nhằm hưởng lãi theo định kỳ. Có các loại tiền gửi tiết kiệm:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn ( tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ ):
Người gửi tiền có quyền rút tiền bất cứ lúc nào khi có nhu cầu chi dùng cá
nhân. Người gửi tiền không kỳ hạn không được sử dụng các công cụ thanh
toán của Ngân hàng để chi trả cho người thứ ba.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ( tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ ): Có lãi
suất cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và tuỳ thuộc vào từng loại kỳ hạn cụ
thể.
2. Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ của Ngân hàng:
Là hình thức huy động vốn có kỳ hạn trên 6 tháng của các Ngân hàng
Thương mại để sử dụng chủ yếu cho các kế hoạch đầu tư phát triển của
Đảng và Nhà nước.
+ Trái phiếu Ngân hàng là một chứng khoán có giá xác định việc nhận

vay ngân hàng trung ương có thể thực hiện dưới các hình thức: tái chiết
khấu; và ở việt nam còn có tái cho vay.
Chiết khấu là một hình thức mà ngân hàng thương mại thực hiện vay
vốn từ ngân hàng trung ương; là hình thức mà vốn được ngân hàng trung
ương cho phép các ngân hàng thương mại sử dụng nhưng phải được ký
quỹ đầy đủ bằng các thương phiếu hoặc giấy tờ thích hợp, các hối phiếu
chấp nhận thanh toán, các chứng khoán chính phủ. Khi việc vay mượn
được đảm bảo bằng thương phiếu, nó phải được định giá xem có đáp ứng
được các tiêu chuẩn Ên định không. Do thủ tục định giá các thương phiếu
này tốn kém thời gian nên nó Ýt được sử dụng mà chủ yếu là việc vay
mượn được cầm cố bằng các giấy tờ có giá khác của chính phủ và kho bạc
nhà nước. với những loại này thì được cầm cố một cách rễ dàng và nhanh
chóng. Tuy nhiên việc vay mượn ngân hàng trung ương thông qua chiết
khấu không phải lúc nào cũng thực hiện được, nó bị ảnh hưởng bởi tình
hình kinh ,tế và các chình sách tài chính – tiền tệ mà ngân hàng trung ương
đang thực hiện.
Tái chiết khấu (còn gọi là tái cấp vốn): bản chất kinh tế của tái chiết
khấu là khả năng mà nhờ đó các ngân hàng thương mại có thể tậm vay các
vốn của ngân hàng trung ương để đảm bảo khả năng thanh toán tiền gửi
khách hàng. Đồng thời qua đó ngân hàng trung ương có thể nhanh chóng
ngăn cản được khủng hoảng tài chính nếu như ngân hàng thương mại bị
phá sản và người gửi tiền ở các ngân hàng khác do hoảng sợ đến rút tiền ra
làm ảnh hưởng đến sự ổn định của cả hệ thống. Như vậy tái cấp vốn đã
giúp ngân hàng tránh được hoạ phá sản. tuy nhiên trong những trường hợp
bình thường ngân hàng trung ương vẫn cho các ngân hàng vay tái cấp vốn
nhưng phải được đảm bảo bằng các chứng khoán tương đương với số tiền
vay, hoặc gửi lại cho ngân hàng trung ương vật làm thế chấp cho đến khi
khoản nợ được thanh toán.
- Ngoài ra còn có các nguồn vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư phát triển,
vốn liên doanh liên kết và các nguồn vốn khác được hình thành trong quá

quen - ca dõn c. Vỡ vy vic huy ng vn bng hỡnh thc ny hin ti
cũn rt hn ch.s vn thu c cha cao.
+ Doanh s hot ng qua ti khon cỏ nhõn hin nay ch yu do
ch ti khon cú thu nhp t vic bỏn sn phm hng hoỏ - dch v ca
mỡnh cho khỏch hng m khỏch hng tr bng chuyn khon (sộc. u nhim
chi). Ch ti khon s dng s tin trờn ti khon phn chớnh l rỳt tin
mt hoc ngõn phiu thanh toỏn trc tip t Ngõn Hng chi tiờu,ch cú
mt b phn nh s dng u nhim chi tr cho ngi th hng.Vỡ
vy mi vic thanh toỏn thu chi t ti khon tin gi cỏ nhõn thỡ ch ti
khon phi n tr s Ngõn Hng thc hin. õy cng l hn ch ln
trong vic s dng ti khon cỏ nhõn hin nay.
+ Nhc im ti khon tin gi cỏ nhõn cng chớnh l do Ngõn
Hng cha cung cp cho khỏch hng cỏc dch v hon ho- tin ích. Cha
cú cỏc hỡnh thc thanh toỏn khụng dựng tin mt khoa hc hin i.
Đối với séc cá nhân : chỉ được thanh toán giữa các khách hàng có tài
khoản ở cùng một chi nhánh Ngân Hàng trong cùng hệ thống hoặc khác hệ
thống nhưng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh thành phè;
tuy nhiên vấn đề cơ bản là ở chỗ người bán hàng(người thụ hưởng) chưa tin
tưởng vào giá trị của tờ séc cá nhân, mặt khác thủ tục thanh toán qua Ngân
Hàng còn chậm và tính xã hội hoá chưa cao trong việc sử dụng sec cá nhân.
Đối với các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác như uỷ
nhiệm chi… thì luân chuyển chứng từ giữa các Ngân Hàng chậm làm cho
người thụ hưởng chậm thường 1 –3 ngày.
1.2.2.2 tiền gửi tiết kiệm
tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn truyền thống của Ngân
Hàng được dân quen dùng và trở thành tập quán của dân cư khi có nhu cầu
gửi tiền vào Ngân Hang, để hưởng lãi hoặc tiết kiệm chi tiêu trong trong
tương lai. Vì vậy trong khoảng thời gian từ 1991 trở về trước các NHTM
Việt Nam chỉ dùng hình thức này huy động vốn trong dân cư là chính, các
hình thức khác chưa có hoặc không đáng kể.

dân cư quen dùng và tín nhiệm.
+ Thủ tục gửi tiền và lĩnh tiền tiết kiệm đơn giản, dễ hiểu đối với người
gửi, Ngân Hàng hạch toán theo dõi và quản lý tiền gửi tiết kiệm cũng đơn
giản.
+ Ngày nay lãi suất tiền gửi tiết kiệm cũng thay đổi theo lãi suất thị
trường đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền.
+ Đảm bảo an toàn- bí mật
+ Tiết kiệm không kỳ hạn người gửi tiền có thể gửi vào hoặc lĩnh ra
bất kỳ lúc nào khi họ có nhu cầu.
+ Tìên gửi tiết kiệm có nhiều kỳ hạn như 3 tháng ,6 tháng, 9 tháng và
12 tháng đã đáp ứng được nhu cầu người gửi.
+ được uỷ quyền lĩnh ra, cầm cố hoặc thừa kế theo luật định.
*nhược điểm của tiền gửi tiết kiệm
+ Nhược điểm lớn nhất của tiền gửi tiết kiệm là vấn đề lãi suất. Do
lạm phát cao dẫn đến tiền tệ mất giá lớn, lãi suất tiền gửi tiết kiệm không
bù đắp được phần thiệt hại đó,làm cho người gửi tiền bị thua thiệt dẫn đến
mất niềm tin khi gửi tiền ( vấn đề này đã được khắc phục dần trong những
năm gần đây).
+ Tiết kiệm không kỳ hạn có lãi suất thấp do đó không khuyến khích
người gửi tiền vào Ngân Hàng .
+ Tiết kiệm có kỳ hạn mới chỉ dừng ở một số kỳ hạn như 3,6,9,12
tháng do đó chưa thu hót được vốn nhàn dỗi trong dân cư có kỳ hạn khác
như 1,2,5

tháng … và nhất là vốn trung và dài hạn
+ Mỗi lần gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn Ngân Hàng phát hành một số
“sổ tiết kiệm có kỳ hạn” giao cho khách hàng lưu giữ. Như vậy một người
gửi nhiều lần thì Ngân Hàng phải phát hành nhiều sổ tiết kiệm và người gửi
tiền phaỉ lưu giữ, bảo quản nhiều sổ tiết kiệm. điều này gây nhiều bất lợi
cho cả khách hàng và Ngân Hàng .

Mục đích của trái phiếu là:
-Tạo lập nguồn vốn trung hạn ,dài hạn từ các thành phần kinh tế ,xã
hội ,dân cư để đầu tư phát triển kinh tế.
- Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế có cơ hội đầu tư vốn góp
phần phát triển kinh tế đất nước ,mang lại lợi Ých cho cộng
đồng ,cho người đầu tư ,người vay vốn và Ngân Hàng nhà nước
- Tạo tiền đề hàng hoá trên thị trường chứng khoán trong tương lai.
2. Kỳ phiếu Ngân Hàng
NHTM phát hành kỳ phiếu nhằm mục đích huy động vốn trong dân
cư để đáp ứng vốn cho NH và cân đối vốn tại địa phương.
Kỳ phiếu Ngân Hàng thường kỳ hạn 12,13 tháng,lãi suất kỳ phiếu
thay đổi từng thời kỳ nhưng thường cao hơn lãi suất tiết kiệm và có thể trả
lãi trước.
Khi huy động cho Ngân Hàng lớn các Ngân Hàng đại lý được hưởng
hoa hồng trên tổng số tiền huy động.
* ưu điểm của kỳ phiếu:
+ Ngân hàng chủ động phát hành về số lượng huy động. thời hạn.lãi
suất … đây là ưu điểm nổi bật của kỳ phiếu.
+ Hạch toán kế toán đơn giản.thủ tục gửi và lĩnh ra đơn giản. do đó
Ngân Hàng thuận lợi trong việc tổ chức mạng lưới huy động và chi trả khi
kỳ phiếu đến hạn.
+ Ngân Hàng có thể sử dụng hình thức huy động vốn thường xuyên
liên tục cũng như tiền gửi tiết kiệm nhưng lãi suất .cách tính trả lãi( cóthể
trả trước hoặc trả sau). thời hạn thanh toán linh hoạt phù hợp hơn tiền gửi
tiết kiệm.
+ Có thể dụng hình thức huy động này để huy động vốn ngắn hạn
hoặc trung và dài hạn tuỳ theo nhu cầu đòi hái .
+ Kỳ phiếu có thể trả lãi trước hoặc trả lãi sau vì vậy Ngân Hàng có
thể sử dụng hình thức này để chủ động tính toán kế hoạch tài chính- kết quả
kinh doanh của Ngân Hàng .

huy ng vn ca bn thõn Ngõn hng, do vy Ngõn hng phi linh hot
bỏm sỏt th trng, quyt oỏn trong khi quyt nh ỏp dng cỏc hỡnh thc
huy ng vn cho thớch hp nhm huy ng ti a lng tin tit kim
trong nn kinh t.
Chớnh sỏch lói sut cnh tranh.
Chớnh sỏch lói sut cnh tranh (bao gm lói sut cnh tranh huy ng v
lói sut cnh tranh cho vay) l mt chớnh sỏch quan trng ca Ngõn hng.
Vic duy trỡ lói sut cnh tranh huy ng c bit cn thit khi lói sut th
trng ó mc tng i cao. Cỏc Ngõn hng Thng mi cnh tranh
ginh vn khụng ch vi nhau, m cũn vi cỏc t chc tit kim v ngi
phỏt hnh cỏc cụng c khỏc nhau ca th trng vn.
Chớnh sỏch khỏch hng.
Trongcụng tỏc khỏch hng, Ngõn hng thng phõn loi khỏch hng
cú cỏch ng x phự hp. Vi nhng khỏch hng lõu nm, giao dch
thng xuyờn, cú s d tin gi ln , gõy c tớn nhim cho bn thõn
Ngõn hng thỡ Ngõn hng s cú mt chớnh sỏch thớch hp v lói sut, k
hn ca mún vay, cng nh thc hin bo lónh cho cỏc doanh nghip trong
quỏ trỡnh sn xut kinh doanh công tác khách hàng, Ngân hàng thờng
phân loại khách hàng để có cách ứng xử phù hợp. Với những khách hàng
lâu năm, giao dịch thờng xuyên, có số d tiền gửi lớn , gây đợc tín nhiệm
cho bản thân Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ có một chính sách thích hợp
về lãi suất, kỳ hạn của món vay, cũng nh thực hiện bảo lãnh cho các doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh
Cụng tỏc cõn i vn ca Ngõn hng.
Mt chin lc huy ng vn ỳng n, phự hp vi k hoch s dng
vn trong tng thi k s to iu kin cho cỏc Ngõn hng Thng mi t
được mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. Sự
hài hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn
của Ngân hàng. Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết đối
với hoạt động của bất cứ Ngân hàng nào. Đó là một biện pháp nghiệp vụ, là

thức.
• Chính sách marketing
Trong hoạt động Ngân hàng hiện đại, marketing luôn được đề cao và
cần phải có một chi phí nhất định cho công tác này. Đồng thời, Ngân hàng
cũng phải có chiến lược quảng cáo đặc biệt không chỉ trên truyền hình mà
còn dùng cả panô, áp phích nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn.
1.2.4. Vai trò của tiền gửi dân cư trong hoạt động NHTM
Bất cứ một ngân hàng thương mại nào cũng hoạt động với mục đích
chung là vì lợi nhuận .và sự tăng trưởng không ngừng của nguồn vốn là yếu
tố không thể thiếu được để tiến hành và phát triển các hoạt động kinh
doanh .Với nguồn vốn lớn và có sự hợp lí trong cơ cấu,ngân hàng có khả
năng cung cấp loại hình tín dụng và dịch vụ ngân hàng tốt nhất trong khả
năng của mình cho khách hàng ,và nguồn vốn cũng là yếu tố thu hót vô
hình, ảnh hưởng tới tâm lí của khách hàng. Trong khi các chức năng của
ngân hàng là: “Huy động để vay” thì cùng với công tác sử dụng vốn, công
tác huy động vốn để tạo nguồn cho ngân hàng là nghiệp vụ quan trọng ảnh
hưởng bao trùm lên toàn bộ hoạt động của ngân hàng.nó giữ vai trò duy trì
và phát triển các hoạt động kinh doanh của ngân hàng .
vốn kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng là nguồn vốn huy động được ,
trong đó vốn huy động từ dân cư rất quan trọng (ở các nớc phát triển tỷ lệ
này khá cao thường là 80%). Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có được
trong dân cư và Ngân hàng có thể dùng cho vay. Chính vì thế, công tác huy
động vốn từ tiết kiệm của dân cư được các Ngân hàng Thương mại rất quan
tâm trong nhiều năm qua. Theo một kết quả điều tra của bộ kế hoạch và
đầu tư còn có đến 44% tiền để dành của dân được dùng để mua vàng,ngoại
tệ, chỉ có 17% gửi tiền tiết kiệm và phần lớn là ngắn hạn
Nếu quốc gia nào có tỷ lệ tiết kiệm cao thì qui mô và chất lượng công
tác huy động vốn của Ngân hàng sẽ tăng lên, và do đó công tác tín dụng
cũng rất phát triển.
Nh vậy tiền gửi dân cư có vai trò nền tảng trong hoạt động kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status