Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản thuật hoài của phạm ngũ lão - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Lí luận dạy học hiện đại đã khẳng định: Sự thành công của việc giảng dạy
phụ thuộc rất nhiều vào PP-KTDH được GV lựa chọn. Cùng một nội dung
nhưng tùy thuộc vào PP sử dụng thì sẽ có những kết quả khác nhau. Làm việc
theo nh.óm là một trong những PP được áp dụng trong đổi mới PP-KTDH hiện
nay nhằm phát huy được tính tích cực của người học, dạy học hướng về người
học. Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc
theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế cuộc sống không có ai là
hoàn hảo, do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt mạnh của
từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu, hơn nữa nó còn
tạo ra được niềm vui và sự hứng thú trong học tập. Vì vậy chúng ta cần phải
thấy được những ưu điểm của hình thức dạy học theo nhóm để phát huy được
những điểm mạnh của nó.
Trên thực tế, nhiều tiết học đã được GV chuẩn bị rất công phu nhưng khi
tiến hành hoạt động theo nhóm thì chỉ có các thành viên tích cực làm việc, các
thành viên thụ động thường hay ỷ lại, trông chờ, “nghỉ ngơi” như người ngoài
cuộc hay như một quan sát viên. Do đó dẫn đến mất nhiều thời gian và hiệu quả
học tập không cao. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và thể
nghiệm hai PP-KTDH mà tôi cho là phù hợp trong quá trình hoạt động nhóm,
đó là kĩ thuật (KT) mảnh ghép và KT khăn phủ bàn. Hai PP này đòi hỏi tất cả
các thành viên phải làm việc cá nhân, suy nghĩ, viết ra ý kiến của mình trước khi
hoạt động nhóm. Từ đó, các cuộc thảo luận sẽ có sự tham gia của tất cả các
thành viên và các thành viên sẽ có cơ hội chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm của mình,
tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực. Nhờ vậy, hiệu
quả học tập được đảm bảo và không mất thời gian cũng như giữ được trật tự lớp
học.
Qua thực tế giảng dạy của bản thân và qua việc dự giờ một số đồng
nghiệp, tôi nhận thấy áp dụng KT mảnh ghép và KT khăn phủ bàn khi giảng dạy
bài Thuật hoài (Tỏ lòng) của nhà thơ – tướng quân Phạm Ngũ Lão sẽ đạt được
hiệu quả cao trong dạy và học. Đây là bài thơ viết bằng chữ Hán theo thể tuyệt

trường THPT Đông Sơn I, Thanh Hóa.
Phạm vi nghiên cứu: Một số văn bản thơ luật Đường thuộc chương trình
Cơ bản mà trung tâm thể nghiệm là bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ
Lão.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra và khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp phân tích, đánh giá

2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
PP-KTDH tích cực là những phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Để thực hiện được mục tiêu bài học, người
dạy phải tìm được những biện pháp, cách thức hoạt động của thầy và trò trong
những tình huống, hoạt động cụ thể nhằm giải quyết một nhiệm vụ, nội dung cụ
thể. Nghĩa là phải tìm được KT dạy học. Trong các PP-KTDH tích cực, bên cạnh
KT học tập hợp tác, sơ đồ tư duy, KT đặt câu hỏi… thì hai KT phát huy được
hiệu quả cao trong hoạt động nhóm là KT mảnh ghép và KT khăn phủ bàn.
KT Khăn phủ bàn là KT tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết
hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm. Tác dụng của KT này là kích thích, thúc
đẩy sự tham gia tích cực của HS, tăng cường tính độc lập của cá nhân và phát
triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS. Đây là một PP – KTDH đơn
giản, dễ thực hiện, có thể tổ chức trong tất cả các bài học, môn học, cấp học. Chỉ
cần một tờ giấy A0, nhóm sẽ vẽ một hình vuông hoặc chữ nhật, hình tròn… ở
trung tâm tờ giấy rồi chia phần trống còn lại thành bốn hoặc năm phần theo số
thành viên của nhóm. Mỗi thành viên của nhóm làm việc độc lập xây dựng chiến

tiết học sẽ là một cuộc chơi mà tất cả mọi thành viên của nhóm đều là người
trong cuộc, đều phải hoạt động một cách tích cực.
Các bài thơ Luật Đường khác được học trong chương trình về cơ bản cũng
có thể sử dụng PP-KTDH tích cực như đã trình bày ở trên.
Bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm với bốn nội dung trong bốn cặp câu
thơ thất ngôn bát cú luật Đường là: Nhàn thể hiện ở sự ung dung trong phong
thái, thảnh thơi, vô sự trong lòng, vui với thú điền viên; nhàn là nhận dại về
mình, nhường khôn cho người, xa lánh chốn danh lợi, tìm về “nơi vắng vẻ”,
sống hòa nhập với thiên nhiên để “di dưỡng tinh thần”; nhàn là lối sống thuận
theo lẽ tự nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không
phải mưu cầu, tranh đoạt; nhàn có cơ sở từ quan niệm nhìn cuộc đời là giấc
mộng, phú quí tựa chiêm bao.
Với ý nghĩa “khá rạch ròi” như vậy, ta thấy tính độc lập tương đối của
từng nội dung khá cao. Cho nên, hướng tìm hiểu bài thơ này theo bố cục bốn
phần thường gặp trong kiểu thơ thất ngôn bát cú luật Đường hết sức thuận lợi.
Sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu từng nội dung, thao tác cuối cùng chỉ là cho HS
khái quát quan niệm về chữ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghĩa là, GV có thể
hướng dẫn học sinh học theo phương pháp hợp tác (tức phân nhóm). Mỗi nội
dung giao cho một số nhóm. Trong từng nhóm lại sử dụng các kĩ thuật dạy học
tích cực như kĩ thuật đặt câu hỏi, KT mảnh ghép, KT khăn phủ bàn …
Bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, về cơ bản cũng có thể áp dụng
các PP-KTDH như vừa trình bày ở trên. Các bài đọc thêm, tùy vào sự phân
lượng thời gian cho từng bài mà hướng dẫn học sinh đọc – hiểu. Những nội
dung trọng tâm có thể áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực như Kĩ thuật
khăn phủ bàn, Sơ đồ tư duy…
2.2. Thực trạng của bài học
Không giống với những môn học khác trong nhà trường, môn Ngữ văn là
môn học có tính đặc thù. Để cảm nhận được trọn vẹn một tác phẩm văn học, đòi
hỏi HS phải có tư duy trừu tượng, khả năng liên tưởng, tưởng tượng và quan
trọng hơn hết là sự rung động của tâm hồn. Vì thế, việc áp dụng các PP-KTDH

Tiết 35:

TỎ LÒNG
(Thuật hoài)
- Phạm Ngũ Lão -

I - MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Cảm nhận được “Hào khí Đông A” thể hiện qua vẻ đẹp của con người và
thời đại.
- Nhận thức được bút pháp thơ trung đại thể hiện trong bài thơ.
II – TRỌNG TÂM KIẾN THỨC - KĨ NĂNG
1. Kiến thức
- Vẻ đẹp của con người thời Trần với tầm vóc, tư thế, lý tưởng cao cả; vẻ
đẹp của thời đại với khí thế hào hùng, tinh thần quyết chiến quyết thắng.
- Hình ảnh kỳ vĩ; ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm.
2. Kĩ năng
Đọc – hiểu một bài thơ luật Đường theo đặc trưng thể loại
3. Thái độ
- Bồi dưỡng niềm tự hào, tự tôn dân tộc.
5


- Có ý thức về bản thân, rèn luyện ý chí, ước mơ và nỗ lực hết mình để
thực hiện ước mơ đó để hoàn thiện bản thân.
III – TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động của GV - HS

Yêu cầu cần đạt

Hoạt động 1: Tìm hiểu chung (5 phút)

tứ tuyệt Đường luật. Bố cục quen
thuộc gồm bốn phần: khai – thừa –
chuyển – hợp. Với bài Thuật hoài,
tìm hiểu nội dung theo từng cặp câu
sẽ thuận lợi hơn trong việc áp dụng
PP-KTDH tích cực)

- “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (ba quân
mạnh như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt
trôi trâu) được dịch là “Ba quân khí mạnh
nuốt trôi trâu”. Câu thơ bản phiên âm có 2
vế, cả hai vế đều nói về sức mạnh của
quân ta, tức thể hiện được “Hào khí Đông
A” trong văn học viết thời nhà Trần.
=> Dịch như trên làm mất phép so sánh:
ba quân mạnh như hổ báo.
b. Bố cục
- Hai câu đầu: Hình ảnh con người và quân
đội thời Trần.
- Hai câu cuối: Vẻ đẹp nhân cách của nhà
thơ.
6


Hoạt động 2: Đọc hiểu văn bản ( 25 phút)
GV tổ chức giờ học theo kĩ thuật
mảnh ghép. GV chia lớp thành 4
nhóm chuyên sâu, mỗi nhóm một
nhiệm vụ tìm hiểu:
- Nhóm 1(phần a): Bối cảnh lịch

Các thành viên ở nhóm mới sẽ thảo
luận về các vấn đề đã tìm hiểu ở
nhóm chuyên sâu. Như vậy nhóm
b. Hình ảnh người tráng sĩ đời Trần
mới sẽ tổng hợp được tất cả các vấn
đề xoay quanh nội dung về hình ảnh + Tư thế chiến binh: hoành sóc (Cầm
người anh hùng và khí thế thời đại.. ngang ngọn giáo) -> tư thế xung trận với
vũ khí chĩa thẳng về phía kẻ thù -> tư thế
- GV lần lượt yêu cầu đại diện từng dồn nén sức mạnh để bùng nổ -> biểu
nhóm mảnh ghép trình bày vấn đề. trưng của tinh thần xông pha, của tư thế
làm chủ chiến trường.
Nhóm còn lại theo dõi và bổ sung.
+ Sứ mệnh chiến binh: trấn giữ giang sơn,
giữ yên bờ cõi với ý chí và quyết tâm
không thay đổi theo thời gian (kháp kỉ
thu).
-> Tư thế hiên ngang với vẻ đẹp kì vĩ
mang tầm vóc vũ trụ. Nhân vật trữ tình
hiện lên trong tư cách một chiến binh dạn
dày trận mạc.
- c. Khí thế thời đại:
+ Tam quân tì hổ: Đội quân ra trận vô
cùng đông đảo, trùng điệp với sức mạnh
phi thường, mạnh như hổ báo.
+ Khí thôn ngưu: ba quân mạnh như hổ
báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu(hoặc
7


cách hiểu khác: Khí thế, tráng chí làm lu

thảo luận, thống nhất câu trả lời. Ý
kiến thống nhất của nhóm được viết
vào phần chính giữa tờ A0.
- GV lần lượt yêu cầu đại diện từng

+ Hình ảnh kì vĩ, hoành tráng thích hợp
với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời
đại và tầm vóc, chí hướng của người anh
hùng.
+ Nghệ thuật so sánh, cường điệu.
+ Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc thể hiện sự
dồn nén cảm xúc.
=> Đặc trưng của nghệ thuật thơ trung đại
Tiểu kết phần 1: Hai câu thơ khắc họa
vóc dáng hùng dũng
+ Hình ảnh tráng sĩ hiện lên qua tư thế
“cầm ngang ngọn giáo” (hoành sóc) giữ
non sông. Đó là tư thế hiên ngang với vẻ
đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ
+ Hình ảnh “ba quân”: hiện lên với sức
mạnh của đội quân đang sục sôi khí thế
quyết chiến thắng
 Hình ảnh tráng sĩ lồng trong hình
ảnh “ba quân” mang ý nghĩa khái
quát, gợi ra hào khí dân tộc thời
Trần – Hào khí Đông A
2. Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ
- Quan niệm của các nhà Nho thời trung
đại về chí làm trai: làm trai phải lập được
công danh, phải để lại tiếng thơm cho đời

người thời đại Đông A.
- Từ hai nôi dung đã tìm hiểu: Hình
ảnh con người và quân đội thời Trần
và Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ.
Em hãy rút ra ý nghĩa văn bản?

3. Ý nghĩa văn bản
- Thể hiện lí tưởng cao cả của vị danh
tướng Phạm Ngũ Lão, khắc ghi dấu ấn
đáng tự hào về một thời kì oanh liệt, hào
hùng của lịch sử dân tộc.

Hoạt động 3: Tổng kết ( 5 phút)
III. Tổng kết
GV yêu cầu HS tổng kết giá trị nội
- Bài thơ không chỉ là lời “tỏ lòng” riêng
dung và nghệ thuật của bài thơ?
của Phạm Ngũ Lão mà còn là ý chí, khí
phách của quân dân thời Trần (sử dụng đại
từ: tam quân, nam tử). Đó là “hào khí
Đông A”, là cảm hứng yêu nước trong bài
thơ.
- Hình ảnh thơ hoành tráng, ngôn ngữ cô
đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về
cảm xúc.
Hoạt động 4: Củng cố ( 5 phút)
- GV hướng dẫn HS so sánh, mở rộng: - Mỗi một thời đại sản sinh ra một nhân
- Hãy so sánh hình tượng người tráng cách và một mẫu hình nhân vật lí tưởng,
cũng luận về chí khí anh hùng nhưng ở
sĩ trong bài thơ Thuật hoài với hình

qua bài Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão?
2.4 Thực nghiệm sư phạm.
2.4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm mục đích kiểm tra giả thuyết
khoa học của đề tài nghiên cứu trong điều kiện hiện nay ở trường THPT đảm
bảo yêu cầu về tính khoa học, sư phạm, khả thi; từ đó góp phần nâng cao chất
lượng dạy học. Cụ thể quá trình TNSP tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Có giúp HS có thái độ tích cực và hứng thú học tập hơn hay không?
- Có tạo cơ hội giúp HS rèn luyện, phát triển tư duy hay không?
- Có tạo điều kiện để HS bộc lộ quan niệm, trao đổi thảo luận với nhau và
với GV hay không?
- Có giúp HS có tính tích cực, đoàn kết, hợp tác trong học tập hay không?
- Có nâng cao kết quả học tập của HS hay không?
2.4.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm
2.4.2.1. Đối tượng
Học sinh lớp 10A4, 10A5 ở trường THPT Đông Sơn I huyện Đông Sơn,
tỉnh Thanh Hóa năm học 2016 - 2017.
2.4.2.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhóm đối chứng: 10A4 (45 HS) ở trường THPT Đông Sơn 1, huyện Đông
Sơn.
Nhóm thực nghiệm: 10A5(45HS) ở trường THPT Đông Sơn 1, huyện
Đông Sơn
2.4.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm
10


2.4.3.1. Đánh giá định tính
Qua quá trình giảng dạy ở lớp thực nghiệm tôi thấy:
- Học sinh hứng thú và tự giác học tập, tích cực hoạt động suy nghĩ, độc
lập sáng tạo.

10A4 (đối chứng)

45

10

22

31

69

4

9

10A5(thực nghiệm)

45

4

9

33

73

8


* Đối với học sinh:
- Một yếu tố vô cùng quan trọng là HS. GV cần phải giúp các em làm
quen với cách học theo PP mới, phải yêu cầu HS chuẩn bị bài mới thật chu đáo,
phát huy vai trò của các cá nhân… có thế bài dạy mới đạt được hiệu quả.
3.2. Kiến nghị:
Để tạo cho việc dạy học theo tinh thần hiện đại, Bộ GD & ĐT cần phải
mạnh dạn đổi mới hơn nữa trong hoạch định chương trình.
Các nhà trường cần khuyến khích giáo viên tìm tòi đổi mới để nâng cao
chất lượng dạy học, nỗ lực và đầu tư hơn nữa để đổi mới phuơng pháp, kĩ thuật
dạy học. Về phía học sinh, cần phát huy tích cực, chủ động và sáng tạo trong
quá trình học tập của mình.
Không nhất thiết và cũng không phải ở bài đọc hiểu văn bản nào cũng có
thể áp dụng hai kĩ thuật dạy học Khăn phủ bàn và Mảnh ghép. Cần căn cứ vào

12


bài học cụ thể để có thể lựa chọn phù hợp nhằm gây hứng thú cho học sinh và
nâng cao hiệu quả giờ học.
3.3. Lời kết:
Trong khuôn khổ của một bài nghiên cứu mang tính chất cá nhân, do điều
kiện và thời gian nên đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Trong khi đó, vấn đề vận dụng PP-KTDH tích cực phải hết sức linh hoạt
trong quá trình lên lớp. Nó thực sự là một nghệ thuật và là cả một quá trình tích
lũy kinh nghiệm lâu dài của giáo viên. Rất mong nhận được sự ủng hộ, góp ý
của đồng nghiệp để bài viết được hoàn thiện hơn và có thể dược áp dụng rộng
rãi, có hiệu quả trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở các trường THPT, góp phần
nâng cao chất lượng giờ dạy môn Ngữ văn.
Trân trọng cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status