PHỊNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO ĐỨC PHỔ
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 3 PHỔ THẠNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY LUYỆN CÂU CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG GIAO TIẾP
Lĩnh vực: Phương pháp dạy học
Tên tác giả: THÁI THỊ THU THẢO
Chức vụ: Giáo viên
Tài liệu kèm theo: Đĩa CD
NĂM HỌC: 2014 - 2015
MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1
PHẦN I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1-2
2
CHƯƠNG 3:
CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3.1 Năng lực sư phạm
3.2 Phương pháp dạy học
3.3 Hình thức dạy học
3.4 Biện pháp thực hiện
3.5 Phương pháp cụ thể
3.6 Dạy các kiểu bài luyện câu theo hướng giao tiếp
3.7 Các loại bài tập luyện câu theo hướng giao tiếp.
8-20
8
8-9
9-10
10-11
11-16
16-18
18-21
6
CHƯƠNG 4:
HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
22-23
7
CHƯƠNG 5:
chất lượng thì nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học là cung cấp kiến thức một
cách toàn diện cho học sinh. Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển
nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho
cuộc sống, học tập, sinh hoạt, vui chơi sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao. Đặc
biệt môn Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu học. Môn học
giúp các em biết diễn đạt bằng ngôn ngữ từ các sự vật, hiện tượng, biết dùng từ,
đặt câu, viết văn, biết dùng ngôn ngữ để giao tiếp và học tốt các môn học khác
một cách chắc chắn.
Với vai trò, vị trí, nhiệm vụ của giáo viên trong trường Tiểu học, đối chiếu với
thực tại của trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh, các thầy cô giáo đã góp nhiều công
sức vào việc giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập, phát triển các năng lực cho
học sinh được thể hiện cụ thể trong môn Tiếng Việt. Thực tế khi học đến phần
1
luyện câu thì nhiều em gặp khó khăn và lúng túng, sử dụng từ chưa phù hợp trong
khi nói và viết, miêu tả, đặt câu, viết văn, chưa nắm, chưa tự chiếm lĩnh được kiến
thức. Nhiều em còn rụt rè, chưa mạnh dạn tự tin nói trước đông người và chưa
phát huy được năng lực của mình trong quá trình học tập. Vậy làm thế nào để
nâng cao chất lượng dạy- học Tiếng Việt nhất là luyện cho học sinh kỹ năng giao
tiếp bằng ngôn ngữ nên tôi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số phương
pháp dạy luyện câu cho học sinh Tiểu học theo hướng giao tiếp.”. Mong được
chia sẻ và nhận được những đóng góp chân tình từ quý thầy giáo, cô giáo và đồng
nghiệp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
2
PHẦN II
NỘI DUNG
viết. Cùng diễn đạt một nội dung nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ, có thể sử
dụng dạng nói hoặc dạng viết tuỳ theo yêu cầu, mục đích, đối tượng, điều kiện,
hoàn cảnh giao tiếp. Chính vì vậy mà nhà trường chủ yếu luyện cho học sinh kỹ
năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Giao tiếp được thể hiện ở bốn chức năng: Chức năng thông tin, chức năng tự
biểu hiện, chức năng tạo lập và duy trì quan hệ, chức năng giải trí.
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn của môn Tiếng Việt được tập hợp lại
xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn
luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả nhất
thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu
và các môn học khác. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập
luyện từ- câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung giao tiếp rất rõ
về sự việc, cảnh vật, thiên nhiên, con người,...
Qua việc dạy học giáo viên biết được trình độ, kiến thức, tâm tư, tình cảm,
nguyện vọng của các em về việc học ở lớp, cũng như việc học ở nhà để từ đó giáo
viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp và đạt kết quả tốt
nhất. Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một tình huống, những hoàn cảnh, những
điều kiện rất gần gũi của cuộc sống.
Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích thực
trạng và lựa chọn một số phương pháp giúp học sinh học tập có hiệu quả theo
hướng giao tiếp.
4
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Môn Tiếng Việt ở tiểu học bao gồm các phân môn: Học vần( ở lớp 1), tập đọc,
luyện từ và câu, chính tả, tập viết, tập làm văn, kể chuyện. Mỗi phân môn đều có
nhiệm vụ riêng nhưng mục đích cuối cùng của việc dạy và học là cung cấp cho
học sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ để nói, viết
cách thấu đáo cho học sinh.
Phụ huynh chưa thật sự quan tâm sâu sát đến vấn đề học tập và giáo dục con
em. Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy? Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận
thấy học sinh học còn nhiều điểm yếu và thiếu sót là do nhiều nguyên nhân.
2.3.NGUYÊN NHÂN:
2.3.1.Về học sinh:
Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để nói
hoặc viết mạch lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về
một sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó.
Các em chưa chịu khó đọc sách, báo, tài liệu tham khảo.
Học sinh Tiểu học tư duy các em còn thấp, các em còn ham chơi, lười học, ít có
điều kiện tiếp xúc sâu và xa hơn vào lĩnh vực kiến thức ngoài chương trình học,
các em còn rụt rè, thiếu tự tin trong học tập và sinh hoạt. Các em chưa thường
xuyên có điều kiện giao lưu, học hỏi cùng bạn bè về các hoạt động tập thể, hoạt
động nghệ thuật.
2.3.2.Về phụ huynh học sinh:
Phụ huynh đa số là nông dân lao động, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn,
ít quan tâm đến việc học tập của con em, việc học tập và giáo dục con em, việc
học tập của các em thường giao phó cho giáo viên là chính.
2.3.3.Về giáo viên:
Giáo viên chưa vận dụng nhiều phương pháp để phát huy tối đa năng lực học
6
tập của học sinh, chưa thường xuyên bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quý
Tiếng Việt ham thích học Tiếng Việt.
Việc tự nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi đầu tư trong việc bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ chưa thường xuyên. Giáo viên mới ra trường chưa có nhiều kinh
nghiệm trong công tác giảng dạy.
2.3.4. Về phía nhà trường:
sự theo dõi, nhận xét, đánh giá của giáo viên. Do vậy để có được trình độ kiến
thức thực chất trong các em, các em phải biết cách học, cách tự tìm ra và chiếm
lĩnh kiến thức, ghi nhớ kiến thức thông qua việc tổ chức và hướng dẫn của giáo
viên. Vì thế, để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng
thú học tập cho các em thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều:
3.1. NĂNG LỰC SƯ PHẠM:
Trước hết giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề mến trẻ, tức
là phải có năng lực sư phạm được thể hiện ở các yếu tố sau:
- Năng lực khoa học.
- Năng lực hiểu học sinh.
- Năng lực tổ chức.
- Năng lực ngôn ngữ.
- Năng lực phân phối chú ý.
- Năng lực trình bày bài giảng.
- Có óc tưởng tượng sư phạm.
Đồng thời phải biết lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
thích hợp.
3.2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
Hiện nay, để thực hiện theo xu thế đổi mới toàn diện của ngành giáo dục thì cần
thay đổi một số phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh, phù
hợp với từng nội dung môn học, tổ chức dạy học theo đối tượng học sinh, dựa trên
8
chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ,
vận dụng sáng tạo kiến thức đã học của học sinh. Và trong quá trình dạy học cần
phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, cụ thể là:
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp thuyết minh.
- Phương pháp thảo luận.
nghiệp, rút kinh nghiệm giảng dạy ở các khối chuyên môn, thao giảng cấp trường,
cấp huyện.
3.4. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
3.4.1. Đối với học sinh:
Các em phải hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, có ý thức tự giác trong
học tập, trong giờ học phải chú ý nghe thầy cô giáo giảng bài, tích cực tham gia
phát biểu xây dựng bài, trao đổi thảo luận ý kiến với bạn, bày tỏ ý kiến của mình
trước lớp. Luyện tập thói đi thưa về trình, chào hỏi người trên. Xưng hô phù hợp
thân thiện.
Tích cực, chủ động chuẩn bị bài ở nhà.
Thường xuyên đến thư viện nhà trường để tìm đọc sách báo và tài liệu tham
khảo. Có sổ tay ghi chép những kiến thức đã học để ghi nhớ.
3.4.2. Đối với phụ huynh học sinh:
Trang bị đầy đủ sách vở cho con em về phân môn Tiếng Việt. Quan tâm sâu sát
và dành nhiều thời gian cho việc học tập và giáo dục các em ở nhà.
Thường xuyên phối hợp với giáo viên để biết cách hướng dẫn, kiểm tra bài vở
về việc học tập và giáo dục con em ở nhà.
3.4.3. Đối với nhà trường:
Tham mưu với lãnh đạo ngành để đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy
học. Mua thêm một số sách tham khảo của nhà xuất bản Giáo dục.
Tăng cường tổ chức thao giảng một số tiết dạy phân môn Tiếng Việt để giáo
viên trao đổi rút kinh nghiệm trong giảng dạy.
3.4.4. Đối với giáo viên:
10
Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Dự giờ, rút
kinh nghiệm ở đồng nghiệp.
Thiết kế giáo án, nghiên cứu bài trước khi lên lớp, chuẩn bị đồ dùng, phương
tiện dạy học phù hợp và khoa học. Thực hiện giảng dạy đúng chuẩn kiến thức kỹ
lời câu hỏi và nhận xét bài của bạn. Các em xác định được bộ phận của câu trả lời
cho câu hỏi Ai ( cái gì, con gì) ?(Thiếu nhi; Chích bông). Và xác định được bộ
phận của câu trả lời cho câu hỏi Là gì ?( măng non của đất nước; bạn của trẻ em).
3.5.1.2.Tìm câu kể trong đoạn văn sau đây. Cho biết mỗi câu dùng để làm gì.
(Tiếng Việt lớp 4)
“ Chiều chiều trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi.
Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên
trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,…như gọi thấp
xuống”.
Với bài tập này tôi hướng dẫn học sinh vận dụng hiểu biết của mình về câu kể
để xác định: Những câu nào là câu kể ? (Các câu trên đều là câu kể ). Và phân tích
nắm bắt được đối tượng kể trong đoạn văn: Nêu tác dụng của từng câu kể ?(Câu
thứ nhất kể về sự việc; câu thứ 2 tả cánh diều; câu thứ 3 kể về sự việc và nói lên
tình cảm; câu 4 tả tiếng sáo diều; câu 5 nêu ý kiến nhận định).
Qua việc tìm câu kể và nêu tác dụng của từng câu kể sẽ rèn luyện cho học sinh
kỹ năng thực hành và định hướng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
3.5.2. Phương pháp luyện tập theo mẫu:
Luyện tập theo mẫu là phương pháp học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ
bằng cách mô phỏng mẫu đã cho. Phương pháp này được thể hiện ở các dạng
bài tập:
3.5.2.1. Chọn từ ngữ thích hợp ở cột A ghép với từ ngữ ở cột B để tạo
thành câu kể Ai là gì?( Tiếng Việt lớp 4)
Bạn Lan
là tương lai của đất nước
Người
là người mẹ hiền thứ hai của em
Cô giáo
là người Hà Nội
Trẻ em
13
một đoạn văn ngắn kể lại chuyện đó, trong đoạn văn có sử dụng câu kể Ai là
gì?. ( Tiếng Việt lớp 4).
Ở bài tập này tôi hướng dẫn học sinh thực hiện:
- Tình huống xảy ra trong hoàn cảnh nào?
- Tình huống có mấy nhân vật?
- Ai nói với ai, nói về cái gì?
- Hướng dẫn học sinh tạo lời cụ thể: Học sinh thảo luận theo nhóm 6 để
viết đoạn văn.
- Học sinh thực hiện giao tiếp: Đóng vai thể hiện theo nội dung đoạn văn
trước lớp theo nhóm.
Khi hướng dẫn học sinh làm các bài tập trên, cần thực hiện theo các thao
tác:
- Tạo tình huống, kích thích nhu cầu giao tiếp.
- Giúp học sinh định hướng giao tiếp( nói cái gì, với ai, để làm gì, trong
hoàn cảnh nào,…).
- Học sinh tạo lời cụ thể.
- Nhận xét, đánh giá.
3.5.4. Phương pháp thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là hình thức dạy học làm việc theo nhóm, có ích trong
việc hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp, hợp tác; khả năng thích ứng
và khả năng độc lập suy nghĩ.
Thảo luận nhóm có thể dùng cho nhiều bài thuộc nhiều nội dung học tập:
phát hiện kiến thức mới, xây dựng dàn ý một bài viết, đặt lời, tìm kiếm đơn
vị ngôn ngữ; nhận xét một chi tiết, ý tưởng trong bài,…
Ví dụ: Tạo câu theo mẫu Ai làm gì? với từ cho trước( Tiếng Việt lớp 2).
Tôi tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm 4.
giúp đỡ
nhau
anh em
Qua bài tập này tạo cho học sinh khả năng độc lập suy nghĩ và hợp tác,
trao đổi, giao tiếp với bạn trong việc chọn lọc từ ở 3 nhóm rồi xếp thành câu
đúng mẫu.
Ví dụ: Chị em giúp đỡ nhau.
Trong luyện câu, thảo luận nhóm có thể được dùng để các thành viên cùng
phân tích các bộ phận câu, nhận diện các kiểu câu, phân tích câu; đặt câu,
xây dựng đoạn, chữa lỗi, viết câu,..
3.5.5. Trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là hình thức học tập phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học
sinh tiểu học. Giúp cho giờ học sinh động, học sinh có điều kiện giao tiếp
hợp tác hoạt động.
Trò chơi học tập phải hướng vào việc củng cố kiến thức, rèn kỹ năng ở
từng bài, nhóm bài. Nội dung trò chơi là một đơn vị kiến thức, một số thao
tác của kỹ năng phù hợp với khả năng của học sinh. Hình thức trò chơi cần
đa dạng, phong phú, phối hợp được nhiều cơ quan hoạt động và giác quan
của học sinh. Cách chơi đơn giản, dễ thực hiện, thu hút được nhiều học sinh
tham gia. Điều kiện để tổ chức cần đơn giản, phương tiện để chơi dễ làm. Vì
vậy khi tổ chức trò chơi cần chú ý đến những đặc tính: Vui - Khỏe - Có ích và an
15
toàn. Nội dung của trò chơi cần thể hiện bao gồm khắc sâu kiến thức, giải trí, thư
giản, giao lưu, học hỏi, thi đua với nhau.
Ví dụ: Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho những câu sau:
3.6.1.1. Trong phân môn Tập làm văn
Nói lời cảm ơn của em trong những trường hợp sau( Lớp 2):
a) Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa.
b) Cô giáo cho em mượn quyển sách.
c) Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi.
Qua bài tập trên giúp học sinh được giao tiếp thông qua hoạt động suy nghĩ, bộc
lộ tư tưởng, tình cảm của mình bằng ngôn ngữ và biết cách xưng hô phù hợp nói
với bạn bè, nói với cô giáo, nói với em bé.
3.6.1.2. Trong phân môn Tập đọc.
Bài: Luôn nghĩ đến miền Nam( Lớp 3)
Tôi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi:
- Chị cán bộ miền Nam thưa với Bác điều gì?( Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến
một trăm năm cũng không sợ).
- Câu nói đó thể hiện tình cảm của đồng bào miền Nam với Bác như thế nào?
( Đồng bào miền Nam kính yêu Bác như kính yêu một người cha trong gia đình).
- Tình cảm của Bác với đồng bào miền Nam được thể hiện như thế nào?( Bác
mong được vào thăm đồng bào miền Nam).
Học sinh suy nghĩ, trao đổi trả lời các câu hỏi trên trong giờ tập đọc là các em
đã tiến hành giao tiếp, được luyện về câu trong môi trường hoạt động học tập.
3.6.2. Trong các môn học khác:
Các môn học khác cũng có thể giúp học sinh rèn luyện sử dụng câu.
Chẳng hạn, trong môn Toán, các em có điều kiện tiếp xúc nhiều với câu hỏi, câu
khiến. Ví dụ:
- Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tính gì?( Câu hỏi)
- Em giải bài toán có lời văn phải đủ bốn bước nhé.( Câu khiến)
- Em nêu cách nhân nhẩm số có hai chữ số với 11.( Câu khiến).
17
Trả lời các câu hỏi trong bài Tự nhiên và xã hội, học sinh được luyện về các loại
18
Các bài tập luyện cho học sinh khả năng nhận diện các kiểu câu, bộ phận cấu
tạo, giúp học sinh có những hiểu biết về câu để sử dụng một cách có ý thức trong
giao tiếp.
3.7.2. Bài tập xây dựng- tổng hợp:
Loại bài tập này thể hiện trong nhiều hình thức.
3.7.2.1. Điền từ ngữ vào chỗ trống:
Ví dụ: Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn chỉnh?
Cháu………ông bà.
Con………cha mẹ.
Em……….anh chị.
3.7.2.2.Đặt câu không theo mẫu:
Ví dụ: Đặt câu với mỗi nghĩa dưới đây của từ đánh:
Làm đau bằng cách dùng tay hoặc dùng roi gậy,…đập vào thân người.
Dùng tay làm cho phát ra tiếng nhạc hoặc âm thanh.
Làm cho bề mặt sạch hoặc đẹp ra bằng cách xát, xoa.
3.7.2.3. Đặt câu theo mục đích nói:
Ví dụ: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được in đậm.
Mấy bạn học trò bỡ ngỡ đứng nếp bên người thân.
Ông ngoại dẫn tôi đi mua vở, chọn bút.
Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng.
3.7.2.4. Biến đổi câu:
Ví dụ: Chuyển câu kể thành câu khiến:
Nam đi học.
Ngân chăm chỉ.
Giang phấn đấu học giỏi.
3.7.2.5. Viết đoạn:
Ví dụ:
Tìm những từ ngữ liên quan tới việc giữ gìn trật tự, an toàn giao thông có trong
đoạn văn sau: “ Theo báo cáo của phòng Cảnh sát giao thông thành phố, trung
20
bình mỗi đêm có 1 vụ tai nạn và 4 vụ va chạm giao thông. Phần lớn các tai nạn
giao thông xảy ra do vi phạm quy định về tôc độ, thiết bị kém an toàn. Ngoài ra
việc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, mở hàng quán, đổ vật liệu xây dựng cũng gây
ảnh hưởng rất lớn tới trật tự và an toàn giao thông”.
Với bài tập trên tôi hướng dẫn học sinh tìm các từ ngữ và xếp vào các nhóm
nghĩa sau:
- Lực lượng bảo vệ trật tự, an toàn giao thông: Cảnh sát giao thông.
- Hiện tượng trái ngược với trật tự, an toàn giao thông: tai nạn, tai nạn giao
thông, va chạm giao thông.
- Nguyên nhân gây tai nạn giao thông: vi phạm quy định về tốc độ, thiết bị kém
an toàn, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè.
Kết hợp cho học sinh xem tranh ảnh về :Thiết bị kém an toàn; lấn chiếm lòng
đường; vỉa hè để giúp các em hiểu được nghĩa của từ ngữ.
Qua bài tập trên sẽ cung cấp cho các em một số từ ngữ về Trật tự- An ninh,
giúp các em có được vốn từ và sử dụng từ một cách dễ dàng để đặt câu, viết văn,
tạo lập ngôn ngữ giao tiếp.
21
CHƯƠNG 4
HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Ở trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh nói chung và lớp tôi nghiên cứu, giảng dạy
nói riêng từ năm 2012- 2013. Từ những kinh nghiệm dạy học và đúc kết rút ra
hằng năm, tôi đem áp dụng ngay ở trường, lớp 5/2. Với phương pháp dạy học mới,
32
2
6,3%
10
31,3%
15 46,8%
5
15,6%
Cuối học kì I
32
4
12,5%
12
37,5%
14 43,7%
Thời gian
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
HS
Khảo sát đầu năm
350
2013 – 2014
51
14,6% 112 32,0% 125
35,7% 62
17,7%
Cuối học kì I
449
81
18%
31%
15