PHỊNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO ĐỨC PHỔ
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 3 PHỔ THẠNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY LUYỆN CÂU CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG GIAO TIẾP
Lĩnh vực: Phương pháp dạy học
Tên tác giả: THÁI THỊ THU THẢO
Chức vụ: Giáo viên
Tài liệu kèm theo: Đĩa CD
NĂM HỌC: 2014 - 2015
MỤC LỤC
TT Nội dung Trang
1
PHẦN I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1-2
2
PHẦN II:
NỘI DUNG
3
3
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
4
4
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
5-7
2.1 Ưu điểm 5
PHẦN III:
KẾT LUẬN
25-27
9 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề quyết định sự phồn vinh của
đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại,
giúp con người có những hiểu biết cơ bản về khoa học và cuộc sống. Trong công
tác giáo dục, mục tiêu của nhà trường là giáo dục các em trở thành con người phát
triển toàn diện về: Đức- Trí- Thể- Mỹ. Mà bậc tiểu học là bậc đầu tiên, bậc học
nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm giúp học sinh hình thành và phát
triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng sử dụng Tiếng Việt và giao tiếp
trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học rèn luyện
cho các em các thao tác và tư duy sáng tạo. Như nhà văn Xu-khôn-vu- ki đã viết:
“Ai làm thầy mà không sung sướng, rung động khi nhìn thấy trí óc của trẻ em
ngày càng giàu thêm tri thức, tâm hồn đẹp đẽ. Cái đó chính là do tay mình tạo ra
tình yêu sư phạm. Lao động là như vậy đó”. Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt
chất lượng thì nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học là cung cấp kiến thức một
cách toàn diện cho học sinh. Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển
nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho
cuộc sống, học tập, sinh hoạt, vui chơi sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao. Đặc
biệt môn Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu học. Môn học
giúp các em biết diễn đạt bằng ngôn ngữ từ các sự vật, hiện tượng, biết dùng từ,
đặt câu, viết văn, biết dùng ngôn ngữ để giao tiếp và học tốt các môn học khác
một cách chắc chắn.
Với vai trò, vị trí, nhiệm vụ của giáo viên trong trường Tiểu học, đối chiếu với
thực tại của trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh, các thầy cô giáo đã góp nhiều công
sức vào việc giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập, phát triển các năng lực cho
đều. Nên sự quan tâm đến việc học tập của con em trên địa bàn còn nhiều hạn chế,
ý thức học tập của các em chưa cao, các em còn thụ động trong học tập. Do vậy để
giúp học sinh học tốt phân môn Tiếng Việt nói chung và phần luyện câu nói riêng
là vấn đề được nhiều giáo viên tiểu học quan tâm. Theo tôi muốn học sinh học tập
và rèn luyện tốt kỹ năng giao tiếp nên cần thực hiện các nội dung sau:
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Giao tiếp là sự tiếp xúc, bày tỏ cho nhau một điều gì đấy giữa các thành viên
trong cộng đồng. Con người sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp nhưng ngôn ngữ
là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: nói và
viết. Cùng diễn đạt một nội dung nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ, có thể sử
dụng dạng nói hoặc dạng viết tuỳ theo yêu cầu, mục đích, đối tượng, điều kiện,
hoàn cảnh giao tiếp. Chính vì vậy mà nhà trường chủ yếu luyện cho học sinh kỹ
năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Giao tiếp được thể hiện ở bốn chức năng: Chức năng thông tin, chức năng tự
biểu hiện, chức năng tạo lập và duy trì quan hệ, chức năng giải trí.
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn của môn Tiếng Việt được tập hợp lại
xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn
luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả nhất
thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu
và các môn học khác. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập
luyện từ- câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung giao tiếp rất rõ
về sự việc, cảnh vật, thiên nhiên, con người,
Qua việc dạy học giáo viên biết được trình độ, kiến thức, tâm tư, tình cảm,
nguyện vọng của các em về việc học ở lớp, cũng như việc học ở nhà để từ đó giáo
viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp và đạt kết quả tốt
nhất. Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một tình huống, những hoàn cảnh, những
điều kiện rất gần gũi của cuộc sống.
Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích thực
chưa phù hợp.
Một bộ phận không nhỏ học sinh chưa có tư duy sáng tạo, chưa có khả năng tự
chiếm lĩnh kiến thức, mau chóng quên kiến thức đã học. Một số em còn lớn tuổi
chưa chăm học, ý thức tự học chưa cao. Một số em còn rụt rè, thiếu tự tin trước
đám đông, chưa mạnh dạn phát biểu ý kiến, chưa thể hiện được sự thân thiện với
thầy cô và bạn bè, mọi người xung quanh, kỹ năng giao tiếp còn yếu.
Giáo viên chúng ta đôi lúc đôi nơi còn chưa kịp thời hướng dẫn, rèn luyện một
cách thấu đáo cho học sinh.
Phụ huynh chưa thật sự quan tâm sâu sát đến vấn đề học tập và giáo dục con
em. Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy? Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận
thấy học sinh học còn nhiều điểm yếu và thiếu sót là do nhiều nguyên nhân.
2.3.NGUYÊN NHÂN:
2.3.1.Về học sinh:
Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để nói
hoặc viết mạch lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về
một sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó.
Các em chưa chịu khó đọc sách, báo, tài liệu tham khảo.
Học sinh Tiểu học tư duy các em còn thấp, các em còn ham chơi, lười học, ít có
điều kiện tiếp xúc sâu và xa hơn vào lĩnh vực kiến thức ngoài chương trình học,
các em còn rụt rè, thiếu tự tin trong học tập và sinh hoạt. Các em chưa thường
xuyên có điều kiện giao lưu, học hỏi cùng bạn bè về các hoạt động tập thể, hoạt
động nghệ thuật.
2.3.2.Về phụ huynh học sinh:
Phụ huynh đa số là nông dân lao động, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn,
ít quan tâm đến việc học tập của con em, việc học tập và giáo dục con em, việc
học tập của các em thường giao phó cho giáo viên là chính.
2.3.3.Về giáo viên:
Giáo viên chưa vận dụng nhiều phương pháp để phát huy tối đa năng lực học
6
tập của học sinh, chưa thường xuyên bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quý
Chúng ta phải xác định rõ: Kết quả học tập mà mỗi học sinh đạt được ở môn
học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng là thước đo trình độ kiến thức thực của
các em được thể hiện trong giờ học, các bài tập, các bài kiểm tra được thể hiện qua
sự theo dõi, nhận xét, đánh giá của giáo viên. Do vậy để có được trình độ kiến
thức thực chất trong các em, các em phải biết cách học, cách tự tìm ra và chiếm
lĩnh kiến thức, ghi nhớ kiến thức thông qua việc tổ chức và hướng dẫn của giáo
viên. Vì thế, để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng
thú học tập cho các em thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều:
3.1. NĂNG LỰC SƯ PHẠM:
Trước hết giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề mến trẻ, tức
là phải có năng lực sư phạm được thể hiện ở các yếu tố sau:
- Năng lực khoa học.
- Năng lực hiểu học sinh.
- Năng lực tổ chức.
- Năng lực ngôn ngữ.
- Năng lực phân phối chú ý.
- Năng lực trình bày bài giảng.
- Có óc tưởng tượng sư phạm.
Đồng thời phải biết lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
thích hợp.
3.2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
Hiện nay, để thực hiện theo xu thế đổi mới toàn diện của ngành giáo dục thì cần
thay đổi một số phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh, phù
hợp với từng nội dung môn học, tổ chức dạy học theo đối tượng học sinh, dựa trên
8
chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ,
vận dụng sáng tạo kiến thức đã học của học sinh. Và trong quá trình dạy học cần
phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, cụ thể là:
- Phương pháp đàm thoại.
nghiệp, rút kinh nghiệm giảng dạy ở các khối chuyên môn, thao giảng cấp trường,
cấp huyện.
3.4. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
3.4.1. Đối với học sinh:
Các em phải hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, có ý thức tự giác trong
học tập, trong giờ học phải chú ý nghe thầy cô giáo giảng bài, tích cực tham gia
phát biểu xây dựng bài, trao đổi thảo luận ý kiến với bạn, bày tỏ ý kiến của mình
trước lớp. Luyện tập thói đi thưa về trình, chào hỏi người trên. Xưng hô phù hợp
thân thiện.
Tích cực, chủ động chuẩn bị bài ở nhà.
Thường xuyên đến thư viện nhà trường để tìm đọc sách báo và tài liệu tham
khảo. Có sổ tay ghi chép những kiến thức đã học để ghi nhớ.
3.4.2. Đối với phụ huynh học sinh:
Trang bị đầy đủ sách vở cho con em về phân môn Tiếng Việt. Quan tâm sâu sát
và dành nhiều thời gian cho việc học tập và giáo dục các em ở nhà.
Thường xuyên phối hợp với giáo viên để biết cách hướng dẫn, kiểm tra bài vở
về việc học tập và giáo dục con em ở nhà.
3.4.3. Đối với nhà trường:
Tham mưu với lãnh đạo ngành để đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy
học. Mua thêm một số sách tham khảo của nhà xuất bản Giáo dục.
Tăng cường tổ chức thao giảng một số tiết dạy phân môn Tiếng Việt để giáo
viên trao đổi rút kinh nghiệm trong giảng dạy.
3.4.4. Đối với giáo viên:
10
Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Dự giờ, rút
kinh nghiệm ở đồng nghiệp.
Thiết kế giáo án, nghiên cứu bài trước khi lên lớp, chuẩn bị đồ dùng, phương
tiện dạy học phù hợp và khoa học. Thực hiện giảng dạy đúng chuẩn kiến thức kỹ
năng bài học. Hướng dẫn thấu đáo khi học sinh học lí thuyết cũng như lúc luyện
tập, thực hành, tạo hứng thú cho các em khi học tập, thường xuyên rèn luyện cho
“ Chiều chiều trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi.
Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên
trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,…như gọi thấp
xuống”.
Với bài tập này tôi hướng dẫn học sinh vận dụng hiểu biết của mình về câu kể
để xác định: Những câu nào là câu kể ? (Các câu trên đều là câu kể ). Và phân tích
nắm bắt được đối tượng kể trong đoạn văn: Nêu tác dụng của từng câu kể ?(Câu
thứ nhất kể về sự việc; câu thứ 2 tả cánh diều; câu thứ 3 kể về sự việc và nói lên
tình cảm; câu 4 tả tiếng sáo diều; câu 5 nêu ý kiến nhận định).
Qua việc tìm câu kể và nêu tác dụng của từng câu kể sẽ rèn luyện cho học sinh
kỹ năng thực hành và định hướng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
3.5.2. Phương pháp luyện tập theo mẫu:
Luyện tập theo mẫu là phương pháp học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ
bằng cách mô phỏng mẫu đã cho. Phương pháp này được thể hiện ở các dạng
bài tập:
3.5.2.1. Chọn từ ngữ thích hợp ở cột A ghép với từ ngữ ở cột B để tạo
thành câu kể Ai là gì?( Tiếng Việt lớp 4)
Bạn Lan là tương lai của đất nước
Người là người mẹ hiền thứ hai của em
Cô giáo là người Hà Nội
Trẻ em là vốn quý nhất
Ví dụ: Trẻ em là tương lai của đất nước.
12
Ở bài tập này tôi hướng dẫn các em dựa vào mẫu câu kể Ai là gì? để tạo lời
và viết thành câu.
3.5.2.2. Đặt câu khiến theo những yêu cầu dưới đây ( Tiếng Việt lớp 4)
a) Câu khiến có từ hãy ở trước động từ.
b) Câu khiến có từ đi hoặc nào ở sau động từ.
c) Câu khiến có từ xin hoặc mong ở trước chủ ngữ
Với bài tập trên tôi hướng dẫn học sinh phân tích câu mẫu: “Con hãy ở
tác:
- Tạo tình huống, kích thích nhu cầu giao tiếp.
- Giúp học sinh định hướng giao tiếp( nói cái gì, với ai, để làm gì, trong
hoàn cảnh nào,…).
- Học sinh tạo lời cụ thể.
- Nhận xét, đánh giá.
3.5.4. Phương pháp thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là hình thức dạy học làm việc theo nhóm, có ích trong
việc hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp, hợp tác; khả năng thích ứng
và khả năng độc lập suy nghĩ.
Thảo luận nhóm có thể dùng cho nhiều bài thuộc nhiều nội dung học tập:
phát hiện kiến thức mới, xây dựng dàn ý một bài viết, đặt lời, tìm kiếm đơn
vị ngôn ngữ; nhận xét một chi tiết, ý tưởng trong bài,…
Ví dụ: Tạo câu theo mẫu Ai làm gì? với từ cho trước( Tiếng Việt lớp 2).
Tôi tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm 4.
14
* Sắp xếp các từ ở 3 nhóm sau thành câu:
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
anh khuyên bảo anh
chị chăm sóc chị
em trông nom em
chị em giúp đỡ nhau
anh em
Qua bài tập này tạo cho học sinh khả năng độc lập suy nghĩ và hợp tác,
trao đổi, giao tiếp với bạn trong việc chọn lọc từ ở 3 nhóm rồi xếp thành câu
đúng mẫu.
Ví dụ: Chị em giúp đỡ nhau.
Trong luyện câu, thảo luận nhóm có thể được dùng để các thành viên cùng
phân tích các bộ phận câu, nhận diện các kiểu câu, phân tích câu; đặt câu,
xây dựng đoạn, chữa lỗi, viết câu,
trong các phân môn Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn; các môn học
khác, như Toán, Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Đạo đức, ; qua các
hoạt động ngoại khoá, hoạt động xã hội.
3.6.1. Trong môn Tiếng Việt:
Cung cấp những kiến thức sơ giản về câu, liên kết câu trong bài giúp học sinh sử
dụng tiếng Việt một cách có ý thức. Trong bài cung cấp kiến thức mới, quan điểm
giao tiếp thể hiện ở chỗ, kiến thức lí thuyết, khái niệm ngôn ngữ học được hình
thành theo con đường quy nạp. Từ những lời nói sinh động, phù hợp với mức độ
hiểu biết và kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ của học sinh, tôi hướng dẫn cho các em phân
tích, so sánh, nhận xét rút ra kiến thức mới.
16
Việc thực hành về câu cho học sinh được thực hiện ở các dạng bài tập trong
phân môn Tiếng Việt theo hướng giao tiếp:
3.6.1.1. Trong phân môn Tập làm văn
Nói lời cảm ơn của em trong những trường hợp sau( Lớp 2):
a) Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa.
b) Cô giáo cho em mượn quyển sách.
c) Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi.
Qua bài tập trên giúp học sinh được giao tiếp thông qua hoạt động suy nghĩ, bộc
lộ tư tưởng, tình cảm của mình bằng ngôn ngữ và biết cách xưng hô phù hợp nói
với bạn bè, nói với cô giáo, nói với em bé.
3.6.1.2. Trong phân môn Tập đọc.
Bài: Luôn nghĩ đến miền Nam( Lớp 3)
Tôi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi:
- Chị cán bộ miền Nam thưa với Bác điều gì?( Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến
một trăm năm cũng không sợ).
- Câu nói đó thể hiện tình cảm của đồng bào miền Nam với Bác như thế nào?
( Đồng bào miền Nam kính yêu Bác như kính yêu một người cha trong gia đình).
- Tình cảm của Bác với đồng bào miền Nam được thể hiện như thế nào?( Bác
mong được vào thăm đồng bào miền Nam).
b) Cây xoà cành ôm cậu bé.
- Tìm các vế câu chỉ nguyên nhân, chỉ kết quả và quan hệ từ, cặp quan hệ từ nối
các vế câu trong những câu sau: ( Tiếng Việt lớp 5)
a) Bởi chưng bác mẹ tôi nghèo
Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai.
b) Lúa gạo quý vì ta phải đổ bao mồ hôi mới làm ra được. Vàng cũng quý vì nó
rất đắc và hiếm.
18
Các bài tập luyện cho học sinh khả năng nhận diện các kiểu câu, bộ phận cấu
tạo, giúp học sinh có những hiểu biết về câu để sử dụng một cách có ý thức trong
giao tiếp.
3.7.2. Bài tập xây dựng- tổng hợp:
Loại bài tập này thể hiện trong nhiều hình thức.
3.7.2.1. Điền từ ngữ vào chỗ trống:
Ví dụ: Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn chỉnh?
Cháu………ông bà.
Con………cha mẹ.
Em……….anh chị.
3.7.2.2.Đặt câu không theo mẫu:
Ví dụ: Đặt câu với mỗi nghĩa dưới đây của từ đánh:
Làm đau bằng cách dùng tay hoặc dùng roi gậy,…đập vào thân người.
Dùng tay làm cho phát ra tiếng nhạc hoặc âm thanh.
Làm cho bề mặt sạch hoặc đẹp ra bằng cách xát, xoa.
3.7.2.3. Đặt câu theo mục đích nói:
Ví dụ: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được in đậm.
Mấy bạn học trò bỡ ngỡ đứng nếp bên người thân.
Ông ngoại dẫn tôi đi mua vở, chọn bút.
Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng.
3.7.2.4. Biến đổi câu:
Ví dụ: Chuyển câu kể thành câu khiến:
vốn từ rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ, xác định nghĩa của
từ, dùng từ đặt câu, sắp xếp các từ thành câu.
Ví dụ: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Trật tự - An ninh( Tiếng Việt lớp 5)
Tìm những từ ngữ liên quan tới việc giữ gìn trật tự, an toàn giao thông có trong
đoạn văn sau: “ Theo báo cáo của phòng Cảnh sát giao thông thành phố, trung
20
bình mỗi đêm có 1 vụ tai nạn và 4 vụ va chạm giao thông. Phần lớn các tai nạn
giao thông xảy ra do vi phạm quy định về tôc độ, thiết bị kém an toàn. Ngoài ra
việc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, mở hàng quán, đổ vật liệu xây dựng cũng gây
ảnh hưởng rất lớn tới trật tự và an toàn giao thông”.
Với bài tập trên tôi hướng dẫn học sinh tìm các từ ngữ và xếp vào các nhóm
nghĩa sau:
- Lực lượng bảo vệ trật tự, an toàn giao thông: Cảnh sát giao thông.
- Hiện tượng trái ngược với trật tự, an toàn giao thông: tai nạn, tai nạn giao
thông, va chạm giao thông.
- Nguyên nhân gây tai nạn giao thông: vi phạm quy định về tốc độ, thiết bị kém
an toàn, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè.
Kết hợp cho học sinh xem tranh ảnh về :Thiết bị kém an toàn; lấn chiếm lòng
đường; vỉa hè để giúp các em hiểu được nghĩa của từ ngữ.
Qua bài tập trên sẽ cung cấp cho các em một số từ ngữ về Trật tự- An ninh,
giúp các em có được vốn từ và sử dụng từ một cách dễ dàng để đặt câu, viết văn,
tạo lập ngôn ngữ giao tiếp.
21
CHƯƠNG 4
HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Ở trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh nói chung và lớp tôi nghiên cứu, giảng dạy
nói riêng từ năm 2012- 2013. Từ những kinh nghiệm dạy học và đúc kết rút ra
hằng năm, tôi đem áp dụng ngay ở trường, lớp 5/2. Với phương pháp dạy học mới,
với hình thức tổ chức dạy học mới(dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học
Diễn biến chất lượng môn Tiếng Việt của trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh
Thời gian
Số
HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Khảo sát đầu năm
2013 – 2014
350 51 14,6% 112 32,0% 125 35,7% 62 17,7%
Cuối học kì I 449 81 18% 203 45,2% 139 31% 15 3,3%
Cuối học kì II 449 141 31,4% 211 47% 84 18,7% 13 2,9%
Học sinh giỏi môn Tiếng Việt:
- Cấp trường: 7 giải;
- Cấp huyện: 4 giải.
- Liên Đội đạt xuất sắc cấp tỉnh.
Diễn biến chất lượng môn Tiếng việt sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
này thật đáng phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo,
thầy giáo và học sinh lớp 5/2 cũng như học sinh toàn trường Tiểu học số 3 Phổ
Thạnh. Chất lượng môn Tiếng Việt tăng lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào
việc nâng cao chất lượng giáo dục của lớp và của trường.
23