skkn Tích hợp giáo dục ý thức giữ gìn truyền thống văn hóa và trách nhiệm của công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua truyện “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng - Pdf 43

MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (UNESCO) xác định mục
tiêu của giáo dục thế kỉ XXI là: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học
để tự khẳng định mình. Trong đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo
dục phổ thông, cũng khẳng định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng bảo vệ Tổ Quốc [1]. Đây chính là mục tiêu chiến lược mà Bộ
Giáo dục đang hướng tới.
Thực tế cho thấy hiện nay, nhiều học sinh vẫn học một cách thụ động, chưa
tích cực trong các hoạt động học. Học sinh vẫn chưa bỏ thói quen chỉ chú trọng
đến việc nghe thầy giảng, ghi chép, làm theo sự định hướng của thầy một cách
máy móc, thiếu chủ động, sáng tạo. Vì thế nhiều kĩ năng của học sinh không
được rèn luyện, dẫn đến học sinh thiếu tự tin, ngại suy nghĩ , ngại làm việc,
không thích sự thay đổi, nhầm lẫn trong việc xác định giá trị, lúng túng trong
việc xử lí tình huống, thiếu kĩ năng ứng phó với hoàn cảnh…
Trong chương trình THPT, môn Ngữ văn là một môn học có vai trò quan
trọng không chỉ giúp học sinh trau dồi kiến thức, rèn luyện tư duy mà còn góp
phần vào quá trình hình thành nhân cách cho các em.
Ngày nay khi việc đổi mới dạy học Ngữ Văn trong nhà trường THPT đang
được thực hiện khá đồng bộ và triệt để thì vấn đề tìm tòi sáng tạo những phương
thức mới mẻ để học sinh thêm hứng thú, say mê với bộ môn ngày càng được các
thầy cô giáo quan tâm.
Văn học với vai trò giáo dục, nhận thức và thẩm mĩ cung cấp cho các em kho
tri thức phong phú về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam cũng như các
quốc gia trên thế giới. Chương trình Ngữ Văn lớp 10 giành phần lớn thời lượng
để truyền tải đến các em tri thức về văn học dân gian – nền văn học gắn bó với
nhiều truyền thống và những nét văn hóa của dân tộc ta từ ngàn đời xưa. Song

và việc xác định những giá trị sống đích thực cần thiết qua bài học, đáp ứng nhu
cầu đổi mới của việc học Văn ngày nay.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Với dung lượng của một đề tài nhỏ, để bài viết có sự tập trung, tôi sẽ đi sâu tìm
hiểu vấn đề liên quan đến việc giảng dạy bài Đọc văn “Truyện An Dương Vương
và Mị Châu – Trọng Thủy” trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Qua đó giáo dục
cho học sinh lớp 10 ý thức giữ gìn truyền thống văn hóa của dân tộc và nghĩa vụ
công dân với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc.
Cụ thể: Người viết sẽ xuất phát từ đặc trưng của thể loại truyền thuyết Việt
Nam; sử dụng một số phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học, hướng dẫn học
sinh các hoạt động học để tìm hiểu nội dung, nghệ thuật và giá trị của tác
phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.
Đặc biệt là giúp học sinh qua giờ học, tích hợp với kiến thức của một số môn
học khác như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,Giáo dục quốc phòng an ninh,
Hoạt động ngoài giờ lên lớp để hiểu được bài học lịch sử mà tác giả dân gian
muốn nhắn nhủ cho muôn đời sau về ý thức gìn giữ những nét đẹp truyền thống
của dân tộc; đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược trong công cuộc
dựng xây và bảo vệ đất nước. Từ đó học sinh áp dụng vào thực tiễn cuộc sống
của cá nhân, của cộng đồng, nhận thức được ý thức trách nhiệm của mình trong
việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Với bài nghiên cứu này, người viết sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau đây
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp giải thích.
- Phương pháp chứng minh.
- Phương pháp tổng hợp.
2


Do đặc thù riêng của môn học, việc tích hợp trong giờ học Ngữ văn là
hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải
quyết nội dung gắn với thực tiễn.
Đó có thể là sự tích hợp tri thức, kĩ năng tiếng Việt và Làm văn để giúp
HS thực sự cảm được cái hay, cái đẹp, sự tinh tế, độc đáo của tiếng mẹ đẻ, bồi
dưỡng cho HS năng lực sử dụng tiếng Việt đúng và hay; chú trọng rèn luyện cho
HS cách diễn đạt giản dị, trong sáng, chính xác, lập luận chặt chẽ, có suy nghĩ
độc lập.
Đó cũng có thể là sự tích hợp những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, xã hội,
đạo đức, lối sống để đánh giá, lý giải một hiện tượng văn học, một chi tiết nghệ
thuật hay để đề xuất một thái độ, một quan điểm sống...

3


Như vậy có thể thấy, phạm vi tích hợp trong giờ dạy Ngữ văn rất phong
phú: Có thể tích hợp nội môn (giữa ba phân môn Văn –Tiếng Việt – Làm văn
hay giữa những bài học có cùng chủ đề);
Có thể tích hợp liên môn như: tích hợp Văn – Lịch sử (Tích hợp mở rộng
theo hướng vận dụng những kiến thức về hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ, về
nhân vật lịch sử. . để lý giải và khai thác giá trị, thành công cũng như hạn chế
của tác phẩm);
Tích hợp Văn – Địa lý (Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thức
hiểu biết về các địa danh để lý giải rõ một số chi tiết hình ảnh nghệ thuật ); Tích
hợp Văn – Âm nhạc (hát, ngâm thơ, diễn kịch); Tích hợp Văn – Mỹ thuật (Khi
dạy học một tác phẩm văn chương GV có thể cho học sinh vẽ tranh minh họa
…)
Khi thiết kế giáo án giờ học Đọc hiểu tác phẩm theo quan điểm tích hợp,
giáo viên cần phải chú trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương ứng là các
hoạt động phức hợp để HS vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng của các

túng.
- Thực tế cuộc sống cũng cho thấy một vấn đề rất đáng lo ngại là ý thức của
giới trẻ hiện nay, (trong đó đa phần là học sinh) đối với truyền thống văn
hóa dân tộc đang ngày càng sa sút. Trách nhiệm của mỗi học sinh trước
cộng đồng, dân tộc không được các em chú trọng. Các em xem đó như là
trách nhiệm của ai khác chứ không phải của mình. Với vai trò là môn học
giáo dục nhân cách con người, môn Ngữ văn trong nhà trường cần nhận
rõ hơn nữa vai trò của bộ môn trong việc lồng ghép những giá trị của đời
sống trong giáo dục học sinh.
b. Kết quả khảo sát tình hình thực tế:
b.1.Đối tượng khảo sát:
- 2 lớp thuộc khối 10. Đó là các lớp: 10G, 10M
- Sĩ số lớp 10G: 42 học sinh, 10 M: 42 học sinh
- Đặc điểm: Học chương trình chuẩn.
- Điều kiện học tập như nhau.
b.2.Hình thức khảo sát:
- Kiểm tra vở soạn văn.
- Quan sát học sinh trong 1 giờ học bài đọc văn “Chiến thắng Mtao
Mxây”
b.3.Kết quả thống kê như sau:
• Về việc soạn bài:
- Có 14/84 em chưa soạn bài.
- Có 70/84 em đã soạn bài theo cách trả lời 4 câu hỏi trong sách giáo khoa.
Trong đó có 38/84 em có nội dung trả lời giống nhau ( Giáo viên cho rằng
học sinh cùng tham khảo tài liệu Để học tốt Ngữ văn 10, hoặc có em chép
của nhau.
• Trong giờ học:

5


Châu – Trọng Thủy” dựa trên tinh thần thay đổi theo hướng tích hợp là
một minh chứng.
a. Xác định mục tiêu bài dạy học:
a.1 Về kiến thức: Giúp học sinh
- Hiểu đặc trưng cơ bản của truyền thuyết.
- Hiểu được giá trị ý nghĩa của Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng
Thuỷ:
 Từ di tích Cổ Loa, lễ hội đền Cổ Loa hàng năm giúp các em hiểu được
những giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
 Từ bi kịch mất nước của hai cha con An Dương Vương và bi kich tình yêu
của Mị Châu – Trọng Thuỷ, nhân dân muốn rút ra bài học lịch sử cho
6


muôn đời về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược trong
công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước.
a.2. Về kĩ năng : Rèn kĩ năng tóm tắt và đọc hiểu văn bản tự sự dân gian,
kĩ năng phân tích truyện dân gian theo đặc trưng thể loại để có thể hiểu
đúng ý nghĩa của những hư cấu nghệ thuật trong truyền thuyết và dụng ý
sâu xa mà các tác giả dân gian đã giử gắm trong truyện.
a.3. Về thái độ :
- Bồi dưỡng cho học sinh niềm tự hào về truyền thống văn hoá của dân tộc
qua di sản văn học các em được học. Từ đó, học sinh có lòng say mê với
văn học dân gian nói riêng, văn học Việt Nam nói chung, có ý thức giữ
gìn và sáng tạo làm phong phú thêm cho nền văn học của dân tộc
- Khắc sâu bài học giữ nước mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho đời
sau. Điều đáng lưu ý là bài học lịch sử đó cần được đặt trong bối cảnh
hiện tại đất nước ta vừa cần mở rộng sự hội nhập cùng các nước trên thế
giới, vừa phải giữ vững an ninh, chủ quyền đất nước.
a.4. Về phát triển các năng lực và kĩ năng sống cho học sinh:

11

Giáo
dục
công dân –
lớp 10

Giáo
dục
công dân –
lớp 10

Giáo
dục
công dân –
lớp 12

Sự hình thành
Bài 14, bài và phát triểnGiúp học sinh thấy được vai trò
15 Nước Âu của nhà nươccủa An Dương Vương trong việc
Lạc
Âu Lạc
xây dựng nhà nước Âu Lạc, xây
thành Cổ Loa, chế tạo vũ khí, và
cả sự thất bại của An Dương
Vương.
Một số chính
chính
sách
Bài


– Nguồn cội
của lòng yêu
nước
– Giúp học sinh thấy được ý
– Biểu hiệnnghĩa của tác phẩm
của lòng yêu– Bồi dưỡng lòng yêu nước và
nước.
tinh thần tự hào dân tộc.

Trách– Giáo dục ý thức trách nhiệm
nhiệm
xâyvà hành động xây dựng, bảo vệ
dựng và bảoTổ Quốc ( học tập, lao động
vệ Tổ Quốcsáng tạo, đấu tranh vì lợi ích của
của công dân quốc gia.)

Bài 2:
Pháp lệnh về Học sinh ý thức được các cơ
Thực
hiện bảo vệ bí mậtquan, tổ chức và mọi công dân
pháp luật
nhà nước
đều có nghĩa vụ, trách nhiệm
8


(điều 2, điều
5)
bảo vệ bí mật Nhà nước.

thanh
niênHọc sinh có ý thức bồi dưỡng
Tiết 14 – học sinh trongtình yêu quê hương đất nước và
Chủ đề tháng sự nghiệp xâytinh thần sẵn sàng đem hết khả
12. Diễn đàn dựng và bảonăng của mình phục vụ lợi ích
thanh niên
vệ Tổ Quốc của Tổ Quốc

c. Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện trong giờ dạy học :
*. Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học sử dụng trong bài [3]
PP nêu và GQVĐ
- PP thuyết trình
- PP thảo luận nhóm
- PP DH WebQuest – Khám phá trên mạng
- KT bản đồ tư duy
- Kĩ thuật đặt câu hỏi: câu hỏi biết, câu hỏi hiểu, câu hỏi phân tích, câu hỏi
áp dụng,câu hỏi đánh giá, câu hỏi sáng tạo
- Kĩ thuật động não và kĩ thuật trình bày 1 phút
*. Phương tiện sử dụng trong giờ dạy học:
Phấn, bảng, SGK.
- Máy tính, máy chiếu, màn hình
- Giấy khổ lớn, bút dạ, nam châm…
d. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án word, giáo án điện tử, phiếu học tập
- Phấn, bảng, SGK, giấy khổ A0, bút dạ, nam châm…
- Máy tính, máy chiếu, màn hình

Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước khi học

? Từ khái niệm trên, theo em đặc trưng tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng.
của truyền thuyết là gì (học sinh trả lời, Thể hiện quan điểm của nhân dân và
giáo viên nhận xét và bổ sung nếu cần, gắn liền với các lễ hội và tục thờ cúng
đồng thời chiếu slaide sau lên màn hình
để học sinh trực quan)
Giáo viên tổ chức hoạt động giới
2.Cụm di tích Cổ Loa.
thiệu cụm di tích Cổ Loa:
Dựa vào phần học sinh đã chuẩn bị ở
nhà, giáo viên gọi học sinh trình bày, ưu
tiên phần trình bày có hình ảnh, có sơ đồ,
có nội dung trình chiếu.
3.Giới thiệu Văn bản: - Xuất xứ của
Tích hợp kiến thức bài 13 giáo dục công VB Truyện An Dương Vương và Mị
dân lớp 11 về việc xây dựng và bảo vệ Châu – Trọng Thủy được trích
nền văn hóa truyền thống qua các lễ hội. từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam
2. Giới thiệu Văn bản
chích quái – tập truyện dân gian được
sưu tập vào cuối thế kỉ XV
-

Hoạt động 2. Đọc hiểu văn bản
Giáo viên tổ chức hoạt động tóm
tắt tác phẩm.
– Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy, hoặc

II. Phần Đọc- hiểu
* Tóm tắt văn bản.
* Nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm.

lần lượt trình bày.)

1.Quá trình xây thành, chế nỏ, thắng
giặc ngoại xâm.

* An Dương Vương xây thành
– Hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy.
– Vua lập đàn trai giới.
– Cầu đảo bách thần.
– Nhờ cụ già mách bảo, được Rùa Vàng
giúp đỡ, thành xây nửa tháng thì xong,
thành cao, đẹp, nổi tiếng, gọi là Loa
Thành…
Đó là những khó khăn chồng chất với
những cố gắng của nhà vua và sự giúp
đỡ của các vị thần. Điều ấy chứng tỏ:
+ Dựng nước là việc vô cùng khó.
+ Công việc này đòi hỏi nhà vua phải có
tài, có đức, có ý chí, có lòng quyết tâm,
có sự sáng suốt, có tính kiên trì, biết sử
dụng người tài, được nhân dân tin
tưởng, ủng hộ.
* An Dương Vương chế nỏ, giữ nước
– Thành xây xong, vua băn khoăn hỏi
Rùa vàng: “Có giặc lấy gì mà chống”
– Rùa Vàng cho vuốt, Vua sai Cao Lỗ
làm nỏ (Linh quang Kim Quy thần cơ).
– An Dương Vương có nỏ thần, sức
mạnh tăng, Triệu Đà chịu thất bại,
không dám đối chiến, đành cầu hòa.


Tiết 2.
Hoạt động thầy – trò
Hoạt động 1.
Giáo viên sử dụng PP nêu và giải quyết
vấn đề và kĩ thuật đặt câu hỏi. Trước
hết là dạng câu hỏi biết và hiểu để
hướng dẫn HS tìm hiểu về bi kịch
nước mất, nhà tan qua tác phẩm
– Câu hỏi: Nêu biểu hiện của bi kịch
nước mất, nhà tan, tình yêu tan vỡ được
đề cập đến trong tác phẩm?
HS trình bày trước lớp, HS khác nêu ý
kiến của mình . Sau đó GV nhận xét và
chốt những ý chính như sau:

-Vai trò của người lãnh đạo (nhà vua)
+ Người đứng đầu ( quốc gia, hoặc một
tổ chức nào đó) cần có tài, có tâm, có
đức, có chí ( cụ thể là: cần có trí tuệ
sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược, có
tinh thần yêu nước, thiết tha với lợi ích
của cộng đồng, biết coi trọng hiền tài,
biết tập hợp sức mạnh của nhân dân,
luôn chủ động sẵn sàng ứng phó với
mọi hoàn cảnh).
+ Muốn thành công trong bất cứ công
việc gì con người cần có ý chí, có nghị
lực, có lòng quyết tâm, có sự kiên trì,
nhẫn nại, có lòng dũng cảm, có tinh thần

Dương Vương và Mị Châu dẫn đến
thảm hoạ mất nước?
+ Sự mất cảnh giác của Vua thể hiện
như thế nào? Câu hỏi 1b SGK Ngữ văn
10, tập 1)

+ Sai lầm lớn nhất của Mị Châu là gì?
HS trình bày trước lớp, HS khác nêu ý
kiến của mình . Sau đó GV nhận xét và

sau lưng”, phải tự tay chém con gái
yêu, rồi đi vào lòng biển. Đất nước vào
tay giặc, dân chúng lầm than.
– Công chúa ngây thơ, trong sáng, một
lòng hiếu nghĩa. Nhưng bị kết tội là
giặc , bị chém đầu.
– Người vợ yêu thương, tin tưởng
chồng tuyệt đối. Kết cục bị chồng lừa
dối, trước khi chết mới nhận ra mình là
nạn nhân của chồng, và coi tình yêu
của mình là mối nhục thù.
– Chồng yêu thương vợ, muốn ấm êm,
hạnh phúc. Nhưng lại lừa vợ, mất vợ,
mất tình yêu, mất hạnh phúc, sống
trong ân hận dày vò rồi cuối cùng phải
tự vẫn.
* Nguyên nhân của Bi kịch
– Sai lầm của An Dương Vương:
+ Chấp thuận lời cầu hòa của Triệu
Đà , nhận lời cầu hôn của Triệu Đà cho

xem nỏ thần,có hai cách đánh giá:
Ý kiến 1: Mị Châu chỉ thuận theo tình
cảm vợ chồng mà quên nghĩa vụ quốc
gia
Ý kiến 2: Mị Châu làm theo ý chồng là
lẽ tự nhiên, hợp đạo lí.
Ý kiến của em như thế nào?

Giáo viên tiếp tục sử dụng PP nêu và
giải quyết vấn đề và kĩ thuật đặt câu
hỏi. Dạng câu hỏi hiểu và câu hỏi áp
dụng nhằm kiểm tra khả năng liên hệ
áp dụng thông tin đã thu được vào tình
huống mới
Câu hỏi : Từ bi kịch trên tác phẩm gửi
gắm cho thế hệ sau bài học gì? Bài14
môn giáo dục công dân lớp 10, và bài 9
môn Giáo dục quốc phòng, an ninh: có
đề cập đến vai trò và trách nhiệm của
công dân đối với Tổ Quốc như thế nào ?
HS trình bày trước lớp, HS khác nêu ý
kiến của mình . Sau đó GV nhận xét và
chốt những ý chính như sau:

+ Nàng đã đem bí mật nỏ thần kể cho
Trọng Thủy nghe, nàng đã tiếp tay cho
Trọng Thủy đánh tráo lẫy nỏ mà không
biết (Nàng đã để lộ bí mật quốc gia)
+ Hành động rắc lông ngỗng trên đường chạy trốn đánh dấu đường cho
Trọng Thủy tìm nàng. Nàng đã vô tình



Hoạt động 2
GV chia 3 nhóm
Nhóm 1: Thảo luận về vấn đề : Thái độ
của nhân dân đối với An Dương Vương
( Sáng tạo chi tiết về Rùa vàng xuất hiện
bảo kẻ ngồi sau lưng nhà vua là giặc,
vua chém đầu con và cầm sừng tê xuống
biển thể hiện thái độ của nhân dân đối
với An Dương Vương như thế nào? So
sánh với hình ảnh Thánh Gióng về trời
em thấy có điểm gì giống và khác nhau?
(Câu hỏi 1c, sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Nhóm 2: Thảo luận về vấn đề :Thái độ
của nhân dân đối với nhân vật Mị
Châu? ( Chi tiết máu Mị Châu trai sò ăn
phải đều biến thành hạt châu, xác hoá

3. Thái độ của nhân dân đối với nhân
vật An Dương Vương, Mị Châu và
Trọng Thủy:
* Đối với An Dương Vương: dân gian
có thái độ vừa ngưỡng mộ, kính trọng
vì có công lập nước Âu Lạc, vừa
thương tiếc vì sai lầm dẫn đến mất
nước.
Điều đó thể hiện qua các chi tiết hư
cấu: lời Rùa kết tội An Dương Vương

* Đối với Mị Châu: Nhân dân vừa
15


thành ngọc thạch. Chi tiết này thể hiện
thái độ của dân gian như thế nào đối với
Mị Châu? và nhắn nhủ điều gì đối với
thế hệ trẻ đời sau?
(Câu hỏi 3, sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Nhóm 3: Thảo luận về vấn đề: Đối với
nhân dân Âu Lạc, Trọng Thủy là người
như thế nào? (Chi tiết ” ngọc trai –
giếng nước ” có phải khẳng định tình
yêu chung thuỷ ở Trọng Thủy hay
không? thái độ của tác giả dân gian đối
với Trọng Thủy? (Câu hỏi 4, sgk Ngữ
văn 10 tập 1)
HS làm việc nhóm 5 đến 7 phút, ( trên
cơ sở nội dung cá nhân HS đã chuẩn bị ở
nhà trên phiếu học tập của mình, các

giận, vừa thương vì gây tội lớn nhưng
do vô tình bị kẻ gian lừa gạt chứ không
phải là chủ đích.
+ Với việc để thần Rùa Vàng kết tội Mị
Châu là giặc và vua cha tuốt kiếm
chém chết nàng, nhân dân đã tuyên án
và thi hành bản án của lịch sử rất
nghiêm khắc. Việc kết tội và trừng trị

nhân của chiến tranh xâm lược; hắn có
hai tham vọng:
Về chính trị : hắn muốn thôn tính Âu
Lạc, thực hiện đúng nghĩa vụ của người
con với vua cha.
16


nhóm thảo luận, ghi nội dung thống nhất
vào tờ giấy khổ lớn, sau đó dán sản
phẩm lên bảng và cử đại diện từng nhóm
lần lượt trình bày.)

Về tình yêu: hắn có tình yêu và hạnh
phúc với Mị Châu.
Vì thế, Trọng Thủy, dưới con mắt của
dân gian là tên gián điệp đội lốt con rể,
là rể phản bội, là chồng lừa dối, là kẻ
thù của Âu lạc.
Nội dung tích hợp : Môn Giáo dục công dân lớp 10, Bài 12 : Công dân với tình
yêu, hôn nhân và gia đình chỉ rõ quan niệm về tình yêu chân chính như sau :
– Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới.Ở họ
có sự phù hợp về nhiều mặt. Họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện
sống và dâng hiến cho nhau cuộc sống.
– Tình yêu chân chính là tình yêu trong sáng và lành mạnh, phù hợp với các quan
niệm đạo đức của xã hội. Đặc điểm của tình yêu chân chính :
+ Có tình cảm chân thực, sự quyến luyến, gắn bó giữa hai người nam và nữ.
+ Có sự quan tâm sâu sắc đến nhau, không vụ lợi
+ Có sự chân thành, tin cậy và tôn trọng từ hai phía
+ Có lòng vị tha và sự thông cảm.

+ An Dương Vương xây thành, chế nỏ,
bảo vệ đất nước.
+ An Dương Vương để mất nước.
– Từ cái lõi ấy nhân dân ta đã thần kì
hoá gửi vào đó tâm hồn thiết tha của
mình qua hình ảnh Rùa vàng, bi tình sử
Mị Châu – Trọng Thủy và hình ảnh
”Ngọc trai – giếng nước ”. Chi tiết về
Rùa vàng, chi tiết về sự hóa thân của Mị
Châu, chi tiết « ngọc trai – giếng nước »
17


chỉ là trí tưởng tượng của dân gian làm
tăng thêm mối quan hệ với cốt lõi lịch
sử nhằm mục đích :
Hoạt động 4
Nội dung tích hợp :
+ Môn GDCD 10, Bài 11+12: Công dân
với sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc.
+ Môn GDCD 12 Bài 2: Thực hiện pháp
luật
+ Môn Giáo dục quốc phòng an ninh Bài 9:
Trách nhiệm của học sinh với nhiệm vụ bảo
vệ an ninh Tổ Quốc.
+ Môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp, lớp
10 : Chủ đề tháng 10 Trách nhiệm của học
sinh với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
Quốc.



Hoạt động 5
BT1 (SGK): GV hướng dẫn HS Phát
biểu – tranh luận.

IV/ Luyện tập
– Có thể có ý kiến đồng tình với một
trong hai quan điểm.
– Có thể có ý kiến không đồng tình với
cả hai quan điểm.
– GV định hướng: Nội dung của hai câu
(a) và (b) thật ra đều nêu lên những cách
đánh giá phiến diện, hời hợt về nhân
18


BT2 (SGK): GV hướng dẫn HS Phát
biểu – tranh luận

vật. Mỗi câu (a) hay (b) đều chỉ đúng
một phần.
– Cần tìm ra lời giải đáp toàn diện, sâu
sắc cả lí lẫn tình, một lời giải đáp phù
hợp với chân lí (đạo lí của dân tộc, đạo
lí của con người).
– Cần nêu quan điểm kèm theo lập luân,
giải thích là một đòi hỏi có ý nghĩa rèn
luyện cho HS cách tư duy, nhìn nhận sự
việc và trình bày quan điểm cá nhân về
sự việc.

kê như sau:

Đối tượng khảo sát:
19


-

Học sinh lớp 10G và 10M
Số lượng học sinh 2 lớp là 84 em.
Học chương trình cơ bản
Điều kiện học tập như nhau.
Nội dung học tập giống nhau

Hình thức và nội dung khảo sát:
- Kiểm tra việc chuẩn bị bài trên phiếu học tập và bài tập gửi qua gmail.
- Đánh giá kết quả tham gia vào hoạt động trên lớp trong 2 giờ học bài
“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”.

Kết quả khảo sát
- Về việc soạn bài:
+ Có 0/84 em chưa soạn bài.
+ Có 84/84 em đã soạn bài theo phiếu học tập giáo viên phát cho các em.
Trong đó có 25/84 em có phần chuẩn bị trên máy tính và gửi đến cho cô
giáo qua hộp thư điện tử.
Có nhiều bài chuẩn bị công phu, tìm hiểu kiến thức qua các môn học, qua
mạng internet…
- Trong giờ học:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt đoạn trích: Nhiều học sinh xung
phong trình bày. Có nhiều em tóm tắt bằng sơ đồ ngắn gọn và đẹp mắt.

học theo tinh thần tích hợp, đổi mới đã đem lại những kết quả khả quan, bước
đầu cho thấy tính hiệu quả, thiết thực của đề tài. Học sinh chủ động hơn, tích
cực hơn trong việc nắm bắt nội dung bài học. Đặc biệt là quá trình chuẩn bị bài
ở nhà qua phiếu học tập rất có hiệu quả đã đem lại thành công cho tiết học.

20


III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. KẾT LUẬN.
Với dung lượng một đề tài nhỏ: Giáo dục ý thức giữ gìn truyền thống văn
hóa và nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua tác
phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, có đối tượng nghiên
cứu và mục đích cụ thể nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy môn Ngữ văn của
mình ở trường phổ thông, người viết nghĩ rằng phương pháp này có tính thực
tiễn cao, rất dễ sử dụng, có thể áp dụng rộng rãi trong các giờ học đọc văn cho
nhiều đối tượng khác nhau. So với phương pháp dạy học truyền thống (chủ yếu
cung cấp kiến thức cho học sinh về tác phẩm được học) thì phương pháp này có
ưu điêm bật trội là:
- Người học có hứng thú với giờ học, chủ động tham gia vào các hoạt động
- Nắm bắt kiến thức nhanh hơn.
- Hiểu bản chất vấn đề kỹ hơn, khái quát hơn, có chiều sâu hơn.
- Phát triển các năng lực và kĩ năng của người học và ứng dụng đạt hiệu
quả cao hơn.
- Đặc biệt là học sinh thấy các tác phẩm văn học gần gũi hơn với cuộc sống
và có ích cho bản thân mình cũng như cộng đồng.
2. KIẾN NGHỊ
- Đối với giáo viên lên lớp cần thiết kế bài học cho phù hợp với từng dạng
bài, và từng đối tượng học sinh. Đặc biệt là phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi
chu đáo đối với từng bài để hướng dẫn học sinh các hoạt động có hiệu quả




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status