MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Con người với nguồn tiềm năng trí tuệ vô tận, là nguồn lực quyết
định, là mục tiêu là động lực của sự phát triển. Trong bất kì thời đại nào
con người vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của
xã hội, giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế. Ngay trong những
buổi đầu tiên của xã hội loài người, thời kỳ nguyên thủy, con người sống
thành bầy đàn trong các thị tộc, bộ lạc, lúc đó trình độ nhận thức còn thấp
họ tồn tại bằng những hoạt động thường ngày như săn bắt, hái lượm
nhưng chính bản thân họ ngay lúc đó đã là chủ thể duy nhất của hoạt
động này. Với việc khám phá ra những công cụ, phương tiện lao động
mới cùng với sự phát triển ngày càng cao của bộ óc con người. Họ đã
không ngừng cải biến tự nhiên, làm chủ tự nhiên để phát triển mặt xã hội
của mình. Ngày nay, nhờ các tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các
máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại ra đời đã giải phóng phần nào sức
lao động của con người, cả lao động chân tay và lao động trí óc. Nhờ đó
năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần. Mặc dù vậy, những thành tựu
của khoa học đó không thể xóa nhòa vai trò của con người cũng như thay
thế vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Máy
móc dù hoàn thiện đến đâu, dù thông minh như thế nào đi chăng nữa thì
cũng chỉ là khâu trung gian cho hoạt động của con người, do con người
sản xuất ra và chịu sự điều khiển bởi con người. Vì vậy, trong bất kì thời
đại nào nhân tố con người vẫn sẽ là nhân tố quyết định quan trọng nhất
và là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội.
Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất không phải là
một vấn đề mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu nhân tố người trong lực
lượng sản xuất là một vấn đề mang tính thời sự phải diễn ra thường xuyên
trong các giai đoạn lịch sử, ở tất cả các quốc gia. Con người vừa là chủ
1
2
vào việc phát triển con người Tiên Phước một cách hiệu quả trong sự
nghiệp phát triển kinh tế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Tác giả Nguyễn Thị Trâm, với công trình nghiên cứu nghiên cứu
của mình. “Vấn đề nguồn lực con người trong thời kỳ đổi mới” in trong
tác phẩm, “Đổi mới ở Việt Nam tiến trình, thành tựu và kinh nghiệm”,
nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2004.
Tác giả Nguyễn Văn Tài với công trình nghiên cứu của mình “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người”, Tạp
chí triết học, số 2(153), tháng 4 năm 2004.
Tác giả Trần Nhân trong tác phẩm “Tư duy lý luận với sự nghiệp
đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội - 2004, với phần “Phát
triển nguồn lực con người - nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới và
phát triển”.
Tác giả Trần Văn Bính, “Xây dựng chiến lược con người - một đòi
hỏi cấp thiết”, trong tác phẩm “Về định hướng xã hội chủ nghĩa và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội - 2001.
Tác giả Tống Tất Đường, nghiên cứu về “Phát triển nhân tố người
trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An hiện nay”.
Tác giả Hồ Văn Dũng cũng khai thác “Nhân tố người trong lực
lượng sản xuất và việc phát huy nhân tố đó ở nước ta hiện nay”.
Tác giả Nguyễn Văn Thiện với công trình “Góp phần bàn thêm về
nhân tố người”, Tạp chí nghiên cứu trao đổi.
Tác giả Lê Quang Hoan với luận án tiến sỹ: “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người và vấn đề phát huy nhân tố người trong đổi mới hiện
nay”.
trong trình bày đề tài này.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Khóa luận chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về sử dụng và phát
triển con người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng
4
Nam, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần vào việc phát huy
nhân tố con người trong lực lượng sản xuất.
6. Đóng góp của đề tài:
Về lý luận:
Góp phần cũng cố nhận thức lý luận về học thuyết hình thái kinh tế
xã hội, về vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất, đặc biệt vai
trò của nhân tố người trong lực lượng sản xuất.
Về thực tiễn:
Những giải pháp để phát triển nhân tố người trong lực lượng sản
xuất ở huyện Tiên Phước có thể áp dụng cho những vùng có nền kinh tế
kém phát triển, có điều kiện tương tự như huyện Tiên Phước.
Đề tài này có thể để tham khảo và cung cấp thông tin cho huyện
Tiên Phước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
7. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung đề tài được kết cấu gồm 2 chương 6 tiết sau:
Chương 1: Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nhân tố người
trong lực lượng sản xuất.
1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác - Lênin về sản xuất và
những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất.
1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất.
1.3 Vai trò của nhân tố người trong lực lượng sản xuất.
Chương 2: Phát triển nhân tố người - điều kiện quyết định sự phát
Sản xuất vật chất được tiến hành trong những điều kiện tất yếu như
môi trường tự nhiên và dân số (bao gồm sự tăng dân số và mật độ dân
cư).
Nhìn chung sản xuất vật chất có những vai trò quan trọng sau:
- Sản xuất vật chất làm cho con người thay đổi tư thế dáng đi, làm
cho tay chân thuần thục.
- Sản xuất vật chất tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của con người.
6
-
Sản xuất vật chất gắn các cá thể người lại với nhau thành xã hội.
- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người hiểu thế giới
khách quan sâu hơn, thông tin về nó nhiều hơn, vì vậy bộ não của con
người phát triển.
- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người suy ngẫm.
cải tiến công cụ sản xuất, thay đổi cách thức quản lí nhằm nâng cao năng
suất lao động. Vì vậy, sản xuất vật chất là nhân tố quan trọng nhất, quyết
định nhất đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
1.1.2 Những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất
Để tiến hành được một quá trình sản xuất vật chất, về cơ bản cần
có ba yêu tố: Hoạt động vật chất có mục đích của con người; Những tư
liệu vật chất cho chính hoạt động ấy và những đối tượng vật chất khách
quan mà hoạt động này hướng vào nhằm thay đổi chúng.
Trong sản xuất vật chất, con người phải sử dụng các năng lực vốn
có của mình, trước hết là những sức mạnh vật chất để tác động vào đối
tượng vật chất làm thay đổi tính chất, cấu trúc, hình thái của chúng.
Lực lượng sản xuất là hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ tác
động qua lại với nhau gồm người lao động và tư liệu sản xuất.
Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất thì người lao động
giữ vị trí hàng đầu. V.I Lênin viết “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân là người lao động”[12, 430]. Chính con người
chế tạo ra tư liệu lao động, luôn luôn cải biến và sử dụng nó để tiến hành
sản xuất. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu nhưng nếu
không được con người sử dụng thì không thể phát sinh tác dụng, không
thể trở thành lực lượng sản xuất có ích cho xã hội. Do đó “Lực lượng sản
xuất là lực lượng của bản thân con người và trình độ của lực lượng sản
xuất cũng chính là trình độ phát triển của chính bản thân con người, là sự
phát triển năng lực làm chủ tự nhiên xã hội và bản thân con người qua các
giai đoạn lịch sử khác nhau” [8, 84].
Hiện nay, nguồn lao động ở Việt Nam đã có sự thay đổi lớn về số
lượng và chất lượng. Tuy nhiên, để hòa nhập với nền kinh tế tri thức như
8
hiện nay thì chất lượng nguồn lao động Việt Nam còn có nhiều vấn đề
đáng quan tâm, do đó cần phải có những giải pháp cụ thể cho việc phát
triển nguồn nhân lực Việt Nam cả về số lượng và chất lượng nhằm thúc
đẩy kinh tế xã hội của đất nước một cách vững chắc.
Tư liệu sản xuất:
Tư liệu sản xuất là những cái dùng trong sản xuất, điều kiện vật
chất của sản xuất [10, 13]. Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và
đối tượng lao động.
Tư liệu lao động là một hay nhiều hệ thống vật thể làm khâu trung
gian truyền tải sức lao động từ con người lên đối tượng lao động nhằm
biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con
người. Trong tư liệu lao động gồm có công cụ lao động và các phương
học không còn đứng ở bên ngoài sản xuất mà chuyển thành một mắt khâu
bên trong, thống nhất chặt chẽ với những mắt khâu khác trong lực lượng
sản xuất” [6, 28].
1.3 Vai trò của nhân tố người trong việc phát triển của lực
lượng sản xuất
1.3.1 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về con người và nhân
tố người trong lực lượng sản xuất
Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề con người và nhân tố
người trong lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ được hiểu
đúng đắn và khoa học trên lập trường của chủ nghĩa Mác –Lênin, khi con
người không được hiểu theo một cách chung chung, trừu tượng.
Quan niệm của triết học Mác- Lênin về con người: Chủ nghĩa Mác
- Lênin cho rằng con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội
đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Con người trong quá trình tồn tại
không chỉ tác động vào tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo
nên bản chất con người, làm cho con người khác với con vật.
“Bản chất của con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng
hòa các mối quan hệ xã hội” [15, 11].
10
Quan niệm về nhân tố người trong lực lượng sản xuất: Nhân tố
người trong lực lượng sản xuất hay nguồn lực con người là “Tổng thể
những nhân tố thuộc về chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri
thức, vị thế xã hội...tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người
có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất
nước và trong hoạt động xã hội” [3, 271-272].
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân tố người,
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã khẳng định
nhiên; nguồn lực khoa học công nghệ; nguồn vốn, thì nguồn lực con
người là quyết định nhất. Bởi lẽ, những nguồn lực khác chỉ có thể được
khai thác hiệu quả nguồn lực con người được phát huy.
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, ngoại trừ con
người, những thành tố khác trong lực lượng sản xuất ngày càng lỗi thời,
tất yếu phải thay thế cho phù hợp với quá trình sản xuất, chỉ có bản thân
con người mới làm được điều đó. Con người cải tiến công cụ lao động,
con người làm biến đổi giới tự nhiên.
Vai trò quyết định của nhân tố người trong lực lượng sản xuất còn
được thể hiện ở khả năng sáng tạo vô tận của con người. Với quá trình
lao động ngày càng phức tạp, đòi hỏi ngày càng cao thì sự đáp ứng của
con người ngày một đầy đủ hơn. Con người dường như chưa bao giờ biêt
mệt mỏi, luôn lao động, sáng tạo ra những cái mới.
Ngày nay, khoa học đã trở thành một bộ phận quan trọng hàng đầu
của lực lượng sản xuất, tuy nhiên vai trò của con người trong lực lượng
sản xuất không vì thế mà bị xem nhẹ. Nhân tố người trong lực lượng sản
xuất vẫn là nhân tố hàng đầu và quan trọng nhất của lực lượng sản xuất,
không thể thay thế.
Từ việc phân tích vai trò của nhân tố người trong lực lượng sản
xuất và thấy được rằng nhân tố người là nhân tố quan trọng nhất trong lực
lượng sản xuất sẽ giúp chúng ta biết đầu tư phát triển nhân tố người một
cách hiệu quả tạo ra động lực phát triển chung cho lực lượng sản xuất.
Tổng kết chương 1:
12
Hành vi lịch sử đầu tiên của con người là sản xuất vật chất, sản
xuất vật chất đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Sản xuất vật
chất được tiến hành trong những môi trường tất yếu như tự nhiên, dân số.
Trong quá trình sản xuất vật chất con người không ngừng làm biến đổi tự
độ địa lý được giới hạn bởi vĩ tuyến 15 021’ đến 15036’ vĩ độ Bắc và kinh
tuyến từ 10804’ đến 108027’56’’ kinh Đông. Huyện có 14 xã miền núi và
một thị trấn, trung tâm huyện lỵ đặt tại thi trấn Tiên Kỳ.
Tài nguyên thiên nhiên của huyện Tiên Phước rất đa dạng, đặc biệt
là hệ thực vật rừng có các loại gỗ quý như Lim, Chò, Huỹnh, Sơn Huyết,
Gõ, Dỗi; Có các loại dược liệu quý như Sa Nhân; Có các loại động vật
hoang dã quý hiếm như Voi, Gấu, Nai...
* Con người Tiên Phước.
Tiên phước tự hào là mảnh đất đất đã sinh ra các bậc đại khoa, một
tiếng sỹ, ba phó bảng và nhiều nhà yêu nước khác, trong đó điển hình như
Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Lê Cơ, Trần Huỳnh, Lê Vĩnh Huy.
Sau giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tiên Phước, người
dân nơi đây đã không ngừng tăng gia sản xuất và đạt được những thành
quả to lớn.
* Tình hình kinh tế xã hội:
Trong công cuộc đổi mới, dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung
Ương Đảng, Đảng bộ tỉnh, Tiên Phước đã bám sát tình hình cụ thể của
địa phương, xác định đúng đắn phương hướng, mục tiêu phát triển cho
từng chặng đường, phát huy tiềm năng thế mạnh của huyện nhà, đẩy
mạnh phát triển kinh tế xã hội, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân.
* An ninh quốc phòng:
Để đảm bảo cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội, trong lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng luôn quán triệt quan điểm gắn nhiệm vụ
quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế xã hội.
2.2 Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước
14
2.2.2. Thực trạng tư liệu sản xuất trong lực lượng sản xuất ở
huyện Tiên Phước
Tư liệu sản xuất ở huyện Tiên Phước có những mặt tích cực và hạn
chế nhất định. Nhưng nhìn chung đã có sự thay đổi lớn so với trước đây.
Công cụ lao động ngày càng được cải tiến, các phương tiện giao thông
vận tải, hệ thống đường sá, thông tin liên lạc ngày càng được kiện toàn
đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và phân phối sản phẩm diễn ra
nhanh hơn và thông suốt hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã
hội. Đồng thời các cơ sở sản xuất mọc lên trên địa bàn huyện ngày càng
nhiều, tuy là những cơ sở sản xuất nhỏ nhưng đáp ứng yêu cầu với điều
kiện hoàn cảnh nơi đây. Những cơ sở sản xuất ngoài việc sản xuất ra sản
phẩm còn có một vai trò quan trọng là giải quyết việc làm cho lực lượng
lao động trên toàn huyện. Một trong những điều kiện thuận lợi nữa cho
quá trình sản xuất là đất đai nơi đây tương đối phì nhiêu, phù hợp với
trồng lúa và các loại hoa màu. Diện tích đất chưa sử dụng của huyện còn
rất lớn.
Nhìn chung tư liệu sản xuất của huyện có những thay đổi lớn, tuy
nhiên nếu so với các vùng khác và so với yêu cầu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chưa đáp ứng được yêu cầu, việc áp dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Do vậy cần phải tăng cường
hơn nữa trong việc đầu tư phát triển tư liệu sản xuất, đáp ứng cho nhu cầu
sản xuất ngày càng cao và hiện đại của xã hội.
2.3 Những giải pháp cho phát triển nhân tố người trong lực
lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước
2.3.1 Cơ sở lí luận của giải pháp
Để đưa ra giải pháp cho phát triển nhân tố người chúng ta phải
đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có như vậy mới
có thể tạo nên được tính đúng đắn và khoa học cho việc phát triển nhân tố
nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước.
Thứ ba, đổi mới tăng cường giáo dục đào tạo để phát huy nhân tố
con người trong lực lượng sản xuất.
17
Thứ tư, phát triển đội ngũ lao động ở vùng sâu, vùng xa, vùng có
đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ năm, một trong những phương hướng quan trọng trong chiến
lược phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên
Phước hiện nay là tiến hành đào tạo nghề cho nông dân.
2.3.3 Những giải pháp cơ bản để phát triển nhân tố người trong
lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam
Muốn phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện
Tiên Phước một cách toàn diện thì cần phải quan tâm đến phát triển tất cả
các mặt, các yếu tố tác động đến sự phát triển của con người nơi đây. Qua
quá trình điều tra phân tích những mặt tích cực cũng như hạn chế của
nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện em đã đưa ra một số
nhóm giải pháp sau:
* Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo:
Thứ nhất, cần sắp xếp và qui hoạch lại mạng lưới trường lớp, tăng
cường hệ thống trang thiết bị trong nhà trường, tạo điều kiện tốt nhất cho
công tác phát triển nhân tố con người từ thấp đến cao. Thực hiện tốt công
tác giáo dục, giáo dục đạt chuẩn đối với tất cả các học sinh đến trường.
Đặc biệt cần phải chú ý, quan tâm đến khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng
có đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên có đủ
đức đủ tài, có thể đảm nhiệm tốt sự nghiệp trồng người ở từng địa
phương, từng đơn vị xã. Cần tiến hành tổ chức mở các lớp đào tạo để
nâng cao kiến thức cho giáo viên trong điều kiện phát triển mới của đất
các tổ chức chính trị xã hội và toàn dân trong công tác giải quyết việc làm
cho nguồn lao động của huyện.
Thứ hai, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để mọi người lao động
đều có cơ hội tìm việc làm thông qua các cơ chế hỗ trợ vốn, dạy nghề,
phát triển cơ sở hạ tầng.
19
Thứ ba, nâng cao hiệu quả giới thiệu việc làm, tổ chức các đợt
khảo sát, nắm bắt tình hình lao động tại một số tỉnh trong cả nước để giải
quyết nguồn lao động của huyện.
Thứ tư, cần có chính sách thu hút đối với nguồn lao động sau khi
đào tạo.
Thứ năm, tạo mọi điều kiện về cơ sở, trang thiết bị, môi trường làm
việc cho các nguồn lao động trong lĩnh vực nghiên cứu.
* Nhóm giải pháp về chính sách xã hội.
Một là, tăng cường chăm lo công tác giáo dục xã hội. Đẩy mạnh
cải cách giáo dục, dạy nghề, từng bước xã hội hóa đầu tư trong y tế, văn
hóa, thể dục thể thao.
Hai là, triển khai các đề án đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa
bàn huyện.
Ba là, tăng cường công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận
thức về giảm nghèo cho mọi người dân.
Bốn là, có chính sách nâng cao đời sống đối với đồng bào dân tộc
thiểu số.
Năm là, thực hiện tốt công tác chăm sóc giúp đỡ người tàn tật,
người mất khả năng lao động, người già cả, gia đình chính sách, người
có công với cách mạng… cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tổng kết chương 2:
Nhân tố người trong lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định đến
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Nhân tố
người nếu được đầu tư phát triển đúng mức là động lực cơ bản quyết định
đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội khác. Bởi vì con người là
lực lượng sản xuất số một, không có nhân tố con người thì quá trình sản
xuất và tái sản xuất xã hội không được thực hiện. Nhân tố người là nhân
tố quyết định đối với các nhân tố khác trong lực lượng sản xuất, song
không thể coi thường các nhân tố khác bởi vì nếu không có những nhân
tố khác thì nhân tố người có phát triển đến mức độ nào đi chăng nữa thì
cũng không thể phát huy được vai trò tác dụng của mình trong sản xuất
21
xã hội. Hơn nữa, nhân tố người tồn tại trong lực lượng sản xuất có quan
hệ với các nhân tố khác một cách biện chứng. Bất cứ sự thay đổi về trình
độ và kết cấu của các yếu tố khác trong lực lượng sản xuất đều ít nhiều
ảnh hưởng đến nhân tố con người theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình sản
xuất, do đó cần có cái nhìn đúng đắn và sáng suốt về vị trí và vai trò của
từng nhân tố trong lực lượng sản xuất cũng như khoa học kỹ thuật để có
chiến lược đầu tư phát triển đúng mức các nhân tố đó, tạo mọi điều kiện
thuận lợi nhất để tiến lên xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa.
Đối với huyện Tiên Phước hiện nay, vấn đề phát triển con người
trong lực lượng sản xuất là vấn đề mang tính bắt buộc để tạo ra động lực
phát triển kinh tế xã hội. Với một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông
nghiệp như huyện Tiên Phước, trình độ dân trí còn thấp và đa phần chưa
qua đào tạo nghề. Chính sách thực hiện và việc tiến hành đào tạo nghề
cho nhân tố người trong lực lượng sản xuất còn có nhiều vấn đề bất cập.
Trong những năm gần đây, với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong
tình hình mới, dưới sự chỉ đạo của tỉnh Quảng Nam, huyện Tiên Phước