BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
NGUYỄN THỊ ÚT
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỘNG
TỶ GIÁ LÊN XUẤT KHẨU CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI
CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
NGUYỄN THỊ ÚT
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỘNG
TỶ GIÁ LÊN XUẤT KHẨU CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI
CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
2.1.1 Các nghiên cứu cơ bản về ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên xuất
khẩu ............................................................................................................... 8
2.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá
lên xuất khẩu ..................................................................................................... 14
2.1.3 Một vài nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của tỷ giá lên xuất khẩu tại
Việt Nam........................................................................................................... 20
2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp và các yếu tố vĩ mô đến
xuất khẩu ............................................................................................................. 21
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU .......... 30
3.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình ............................................................. 30
3.1.1 Mô hình 1 - Mô hình hồi quy cơ bản ....................................................... 30
3.1.2 Mô hình hình 2 – Mô hình hồi quy với ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về
đặc điểm của doanh nghiệp ............................................................................... 33
3.1.3 Mô hình hình 3 – Mô hình hồi quy với các ảnh hưởng của các biến vĩ mô
............................................................................................................... 34
3.1.4 Phân tích mở rộng................................................................................... 35
3.2 Dữ liệu và phần mềm chạy mô hình ............................................................... 36
3.3 Đánh giá sự phù hợp của dữ liệu với mô hình nghiên cứu.............................. 38
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............................................................. 41
4.1 Thống kê mô tả .............................................................................................. 41
4.2 Kết quả hồi quy mô hình 1............................................................................. 44
4.3 Kết quả hồi quy mô hình 2............................................................................. 46
4.4 Kết quả hồi quy mô hình 3............................................................................. 48
4.5 Phân tích mở rộng ......................................................................................... 50
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ..................................................................................... 57
5.1 Kết luận từ nghiên cứu thực nghiệm .............................................................. 57
5.2 Kiến nghị và áp dụng trong thực tế ................................................................ 58
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng .......................................... 59
Heteroskedasticity
GARCH-M: Mô hình GARCH trung vị - Generalized AutoRegressive Conditional
Heteroskedasticity in Mean
GDP Deflator: Chỉ số giá toàn bộ (Chỉ số giảm phát GDP)
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội – Gross Domestic Product
GLS: Phương pháp bình phương bé nhất tổng quát - General Least Squared
HOSE: Sàn giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
HNX: Sàn Giao dịch chứng khoán Hà Nội
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế - International Monetary Fund
I*t: Thu nhập nước ngoài
JPY: Đồng Yên Nhật Bản
NEER: Tỷ giá hiệu lực danh nghĩa - Nominal Effective Exchange Rate
NEER VOL: Biến động tỷ giá hiệu lực danh nghĩa - Nominal Effective Exchange
Rate volatility
NOMINALWAGECHANGE: Tỷ lệ phần trăm thay đổi hàng năm trong lương danh
nghĩa
OLS : Phương pháp Bình phương nhỏ nhất - Ordinary Least Square
OTC: Thị trường giao dịch các chứng khoán chưa niêm yết trên sản giao dịch Over-the-Counter
PMG: Ước tính nhóm trung bình gộp - Pooled Mean Group Estimator
REALWAGECHANGE: Tỷ lệ phần trăm thay đổi hàng năm trong lương thực
REER CHANGE: Thay đổi trong tỷ giá hiệu lực thực (tăng giá hoặc mất giá)
REER: Tỷ giá hiệu lực thực
REER VOL: biến động tỷ giá hiệu lực thực
REM: Phương pháp tác động ngẫu nhiên – Random Effect Model
SAARC: Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á - South Asian Association for Regional
Cooperation
SWARCH: Mô hình ARCH chuyển đổi
RBI: Ngân hàng dự trữ của Ấn Độ - Reserve Bank of India
Bảng 4.10 Phân tích mở rộng – Kết quả hồi quy cho hai giai đoạn: thời kỳ khủng
hoảng kinh tế và hậu khủng hoảng ....................................................................... 56
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy ảnh hưởng cố định để đánh giá
tác động của tỷ giá hiệu lực thực (REER) đối với hành vi xuất khẩu của các doanh
nghiệp phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2006 đến năm 2015. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhìn chung có tác động âm
và có ý nghĩa của chuyển động tỷ giá lên hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp
Việt Nam. Các đặc điểm của doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định
xuất khẩu của các doanh nghiệp trong khi các yếu tố vĩ mô không tìm thấy có sự
ảnh hưởng nào. Biến giả tăng giá có ý nghĩa thống kê với cả REER CHANGE và
REER VOL, trong khi giảm giá không có ý nghĩa thống kê đối với cả REER
CHANGE và REER VOL. REER VOL chịu tác động của sự tăng giá nhiều hơn
REER CHANGE. Các doanh nghiệp lớn và nhỏ đều chịu ảnh hưởng của REER
CHANGE và REER VOL chỉ tác động đến các doanh nghiệp nhỏ. Các doanh
nghiệp xuất khẩu dịch vụ dường như nhạy cảm với chuyển động của tỷ giá hơn các
doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa. Cuối cùng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế
biến động và thay đổi của tỷ giá ít ảnh hưởng đến xuất khẩu của các doanh nghiệp
hơn trong thời kỳ hậu khủng hoảng.
1
CHƯƠNG 1.
1.1
GIỚI THIỆU
nhờ vào sự hội nhập và tự do hóa thương mại để đưa hàng hóa trong nước ra thị
trường Thế Giới cũng như các chính sách khuyến khích xuất khẩu của Chính Phủ
như cải thiện khuôn khổ pháp lý, giảm thiểu các thủ tục hành chánh, các chính sách
về thuế cũng như công cụ điều chỉnh tỷ giá hối đoái... Do vậy, việc nghiên cứu các
nhân tố tác động lên xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Đặc biệt công cụ tỷ giá hối đoái chiếm vai trò quan trọng trong việc khuyến khích
xuất khẩu.
Chính sách tỷ giá của Việt Nam và Ấn Độ đều là chính sách tỷ giá thả nổi có
quản lý. Tỷ giá sẽ được điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế nhằm ổn định vĩ
mô, khuyến khích xuất khẩu.
Trong suốt những năm 1960-1970, Ấn Độ là quốc gia có độ mở cửa nền kinh
tế thấp. Tức là trước năm 1990, tỷ giá của Ấn Độ ít linh hoạt. Tuy nhiên, từ năm
1991 Ấn Độ đã ban hành một loạt các chính sách cải cách và thực hiện hàng loạt
các chương trình tự do hóa thương mại nhằm vào thị trường ngoại hối và các lĩnh
vực thương mại. Năm 1991 đánh dấu giai đoạn chuyển đổi cơ chế tỷ giá. Năm
1991-1992 Ấn Độ đã có một hệ thống tỷ giá hướng tới thị trường thông qua việc
phá giá và bãi bỏ các quy định. Từ đó hệ thống tỷ giá của Ấn Độ là thả nổi có quản
lý của Ngân hàng Trung Ương Ấn Độ. Nhờ vào hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý
này, nền kinh tế Ấn Độ có chuyển biến tích cực, rõ rệt nhất là trong lĩnh vực xuất
khẩu, thậm chí xuất khẩu của Ấn Độ vẫn tăng trong những năm đồng tiền tăng giá.
Trước năm 1993, việc giảm giá trong tỷ giá có tác động khuyến khích xuất khẩu ở
Ấn Độ giống với các lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên từ năm 1994 đến nay, tỷ giá hiệu
lực thực tăng giá nhưng xuất khẩu của Ấn Độ không bị sụt giảm mà ngày càng gia
tăng.
Việt Nam cũng tương tự, giai đoạn 1993-1996 là giai đoạn tỷ giá cố định.
Việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã
được kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát ở Mỹ và các nước có quan hệ thương mại
chủ yếu của Việt Nam đã làm cho VND có xu hướng bị đánh giá cao hơn thực tế
về sự phát triển ngày càng mãnh mẽ cũng như các chính sách tỷ giá nhằm khuyến
4
khích xuất khẩu. Việt Nam đang ngày càng mở rộng giao thương với các quốc gia
trên thế giới. Đặc biệt từ năm 2007 đến nay sau khi gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội giao thương, kim ngạch xuất
khẩu gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức lớn. Do vậy, nghiên
cứu các tác động của tỷ giá hối đoái với xuất khẩu có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong nền kinh tế ngày càng hội nhập và phát triển của Việt Nam.
Trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả sử dụng dữ liệu tổng
kim ngạch xuất khẩu để phân tích tác động của tỷ giá lên xuất khẩu. Hàng loạt các
nghiên cứu đã kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá và xuất khẩu ở cấp độ quốc gia.
Điển hình như các nghiên cứu của Virnami (1991), Joshi và Little (1994),
Srinivasan (1998), Srinivasan và Wallack (2003). Tại Việt Nam, các nghiên cứu
phần lớn tập trung vào dữ liệu tổng gộp. Bài nghiên cứu của Trần Thanh Long,
Phan Thị Huỳnh Hoa nghiên cứu các yếu tố tác động lên xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam bằng dữ liệu tổng kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản đến một thị
trường. Tương tự bài nghiên cứu của Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2005) sử
dụng tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nông sản và bài nghiên cứu của Phạm
Thanh Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2005) sử dụng kim ngạch xuất khẩu ngành thủy
sản của Việt Nam đến một quốc gia. Việc sử dụng dữ liệu tổng cộng thường gặp
vấn đề về tính chệch trong tổng (Dekle và cộng sự 2007), tính đồng thời (Adolfson,
2001) và lỗi đo lường trong việc xây dựng các chỉ số tổng.
Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu ở cấp độ vi mô được tìm thấy
hầu hết ở các quốc gia phát triển và các nghiên cứu này không tìm thấy bằng chứng
rõ ràng của chuyển động tỷ giá lên xuất khẩu. Nhìn chung các nghiên cứu này tìm
thấy các ảnh hưởng nhỏ của chuyển động tỷ giá đến việc gia nhập và rời khỏi cũng
như các thay đổi trong hành vi xuất khẩu.
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề sau:
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là sử dụng dữ liệu chi tiết ở cấp độ doanh
nghiệp để kiểm định sự ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên hành vi xuất khẩu
6
của các doanh nghiệp phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bài
nghiên cứu tập trung tìm hiểu liệu sự tăng giá có tác động tiêu cực đến hành vi của
các nhà xuất khẩu hay nói cách khác việc phá giá đồng nội tệ có tác động tích cực
giúp khuyến khích xuất khẩu ở các doanh nghiệp Việt Nam như trong các lý thuyết
kinh tế chuẩn không ?
Bài nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của các đặc điểm doanh nghiệp như
quy mô, khả năng thu hồi vốn, khả năng thế chấp, tình hình vay mượn ngoại tệ có
ảnh hưởng tới tỷ giá tác động đến xuất khẩu. Trong sự hiện diện của các yếu tố
doanh nghiệp, bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu liệu các yếu tố thuộc về đặc điểm
doanh nghiệp có tác động tới tỷ giá ảnh hưởng lên xuất khẩu cũng như hành vi của
các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ đối với sự biến động của tỷ giá hay sự
tăng giá và giảm giá của đồng nội tệ. Bên cạnh đó, lĩnh vực hoạt động của các
doanh nghiệp cũng được xem xét. Lĩnh vực dịch vụ và lĩnh vực hàng hóa, lĩnh vực
nào nhạy cảm với tỷ giá hơn ?
Cùng với các đặc điểm của doanh nghiệp, các yếu tố vĩ mô cũng được xem
xét trong sự ảnh hưởng của tỷ giá tác động lên xuất khẩu. Các yếu tố vĩ mô được
xem xét như tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trong lương danh nghĩa, tỷ lệ xuất khẩu thế
giới trên GDP thế giới và thu nhập bình quân đầu người liệu có ảnh hưởng tới tỷ giá
tác động lên xuất khẩu.
có giá trị tham khảo quan trọng trong các nghiên cứu tiếp theo dưới góc độ vi mô về
tác động của tỷ giá lên xuất khẩu.
1.5
Bố cục của bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu bao gồm 5 chương gồm những nội dung chính như sau:
Chương I. Mở Đầu
Chương II. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương III. Phương pháp nghiên cứu, mô hình và dữ liệu
Chương IV. Kết quả nghiên cứu
Chương V. Kết luận
8
CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG
QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1
Ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên xuất khẩu
2.1.1
Các nghiên cứu cơ bản về ảnh hưởng của chuyển động tỷ
giá lên xuất khẩu
Ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên xuất khẩu thể hiện dưới hai hình thức
là sự giảm giá hay tăng giá của đồng nội tệ tác động đến xuất khẩu và ảnh hưởng
của biến động tỷ giá lên xuất khẩu. Hai ảnh hưởng này đã được xem xét chú ý nhiều
hơn khi hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ vào đầu những năm 1970.
ro sẽ giảm nguồn cung xuất khẩu. Điều này được thể hiện trong các lý luận của
Clark (1973) và Baron (1976B).
Clark (1973) đã phát triển một mô hình với một doanh nghiệp sản xuất xuất
khẩu dưới điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, sản xuất một mặt hàng đồng nhất được
bán hoàn toàn ở nước ngoài. Trong mô hình đơn giản nhất, doanh nghiệp không có
đầu vào nhập khẩu và giá cả của hàng hoá xuất khẩu bằng đồng ngoại tệ là một biến
ngoại sinh, doanh nghiệp được thanh toán bằng đồng ngoại tệ và việc phòng ngừa bị
giới hạn, đầu ra là cố định. Sự không chắc chắn về tỷ giá trong tương lai dẫn đến sự
không chắc chắn của các hoá đơn xuất khẩu bằng đồng nội tệ. Do đó, doanh nghiệp
phải quyết định một mức độ xuất khẩu thích hợp với sự không chắc chắn này. Việc
tối đa thỏa dụng kỳ vọng được tính toán bằng một hàm bậc hai của lợi nhuận tính
bằng đồng nội tệ (U(p) = ap + bp2). Với sự e ngại rủi ro (b
rủi ro và việc phòng ngừa rủi ro là không thể hoặc tốn kém, biến động tỷ giá là rủi
ro duy nhất của doanh nghiệp. Do vậy, sự thay đổi trong tỷ giá không tạo ra bất kỳ
cơ hội lợi nhuận nào cho doanh nghiệp.
Với việc nới lỏng giả định của các mô hình truyền thống, De Grauwe (1988)
đã xây dựng một mô hình mà một doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện cạnh
tranh hoàn hảo có thể phân bổ sản phẩm sản xuất giữa thị trường nội địa và thị
trường nước ngoài. Ảnh hưởng của một sự gia tăng trong biến động tỷ giá sẽ phụ
thuộc vào độ lồi của hàm hữu dụng, ngược lại độ lồi này phụ thuộc vào khẩu vị rủi
ro của các doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp lo ngại rủi ro, một sự gia tăng trong
rủi ro làm gia tăng hữu dụng biên kỳ vọng của doanh thu xuất khẩu và thúc đẩy họ
gia tăng xuất khẩu. Rất nhiều các cá nhân không thích rủi ro lo lắng về kết quả có
thể xấu nhất và do đó, khi mà rủi ro tăng lên họ có thể xuất khẩu nhiều hơn để tránh
khả năng sụt giảm doanh thu mạnh mẽ. Như De Grauwe (1988, 67) đã nói “mặc dù
các nhà xuất khẩu hầu như không thích với sự biến động của tỷ giá,… một vài trong
số họ có thể quyết định rằng họ sẽ nhận được nhiều hơn nhờ gia tăng xuất khẩu”.
Bên cạnh đó, với sự phát triển của các công cụ tài chính ngày nay, các doanh
nghiệp hoàn toàn có thể phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các công cụ phòng ngừa trên
thị trường giao sau. Có thể ở các nước đang phát triển, thị trường giao sau chưa phát
triển nhưng đối với các nước phát triển, trong ngắn hạn các doanh nghiệp hoàn toàn
có thể phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhờ vào các hợp đồng kỳ hạn. Khả năng phòng ngừa
rủi ro tỷ giá phụ thuộc vào đặc điểm của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn
thường có khả năng đương đầu với rủi ro tỷ giá tốt hơn các doanh nghiệp nhỏ. Các
doanh nghiệp thương mại thời gian đặt hàng và giao hàng ngắn, việc phòng ngừa
rủi ro có thể đơn giản và ít tốn chi phí. Tuy nhiên, với các doanh nghiệp sản xuất
12
các hợp đồng cung cấp thường là dài hạn, việc phòng ngừa có thể khó khăn và tốn
kém hơn.
bởi tỷ giá và biến động tỷ giá song phương mà còn bị ảnh hưởng bởi các quốc gia
khác. Dell’Ariccia (1988) giải thích rằng giả sử một quốc gia xuất khẩu tới hai vùng
lãnh thổ khác nhau, j và k và biến động tỷ giá gia tăng trong cả hai quốc gia này.
Nếu có một sự gia tăng lớn trong biến động tỷ giá với quốc gia k thì có một sự sụt
giảm rủi ro tương ứng trong quan hệ thương mại với quốc gia j. Điều này ngụ ý
rằng có một sự phân bổ lại xuất khẩu từ quốc gia k sang quốc gia j.
Thêm một quan điểm cho rằng biến động tỷ giá là không hoàn toàn ảnh
hưởng xấu đến thương mại đó là biến động tỷ giá không chỉ hiện diện rủi ro mà còn
tạo ra cơ hội lợi nhuận. Một doanh nghiệp quyết định sản xuất và xuất khẩu trước
khi tỷ giá biến động và hàng tồn kho không được đề cập đến. Do vậy, sự thay đổi
trong tỷ giá không chỉ hiện diện rủi ro mà còn tạo ra các cơ hội lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
De Grauwe (1992) thể hiện các kết quả cho trường hợp đơn giản của các
doanh nghiệp nhỏ trong một mô hình không có chi phí điều chỉnh. Khi giá cao, các
doanh nghiệp gia tăng đầu ra để thu lợi từ doanh thu và lợi nhuận cao trên một đơn
vị. Khi giá giảm các doanh nghiệp làm ngược lại. Do vậy, nó giới hạn sự sụt giảm
trong tổng lợi nhuận.
Gros (1987) tập trung vào ảnh hưởng của biến động tỷ giá trong sự hiện diện
của chi phí điều chỉnh. Ông đưa ra một mô hình của một doanh nghiệp có toàn bộ
đầu ra là xuất khẩu và trung lập với rủi ro. Kết quả chỉ ra rằng một sự gia tăng trong
biến động tỷ giá gia tăng đầu tư của doanh nghiệp nếu các nhân tố sản xuất có thể
được điều chỉnh ngay lập tức. Nếu giá đầu ra cao, tức tỷ giá cho các doanh nghiệp
xuất khẩu cao, sản xuất có thể được gia tăng bằng việc sử dụng các nhân tố linh
hoạt do đó lợi nhuận tăng tương ứng. Nếu giá giảm, sản xuất có thể giảm để giảm
thiểu lỗ.
Franke(1991) sử dụng một khuôn mẫu để phân tích các ảnh hưởng trực tiếp
của biến động tỷ giá lên chiến lược xuất khẩu của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp
được giả định là trung lập với rủi ro và hoạt động trong thị trường cạnh tranh độc
quyền. Tỷ giá đại diện cho rủi ro của doanh nghiệp và hàm dòng tiền là một hàm lồi
Kara (2003) cũng tìm thấy các kết quả tương tự đối với hệ thống tỷ giá linh hoạt.
Ngược lại, Athukorala (1991), Athukorala và Menon (1994), Abeysinghe và Yeok
(1998), Wilson và Tat (2001) đã tìm thấy rằng việc tăng giá không làm giảm xuất
15
khẩu ở một vài quốc gia Châu Á. Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh
hưởng của thay đổi tỷ giá và xuất khẩu được thể hiện trong bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá đối với
xuất khẩu
Nghiên cứu
Thời kỳ dữ liệu và quốc gia
nghiên cứu
Phương
pháp
nghiên
cứu
Mối quan hệ
giữa thay đổi
tỷ giá và
xuất khẩu
Junz và
Dữ liệu năm 1953-1969
Rhomberg (1979) Australia, Bỉ, Luxembure, Pháp,
CHLB Đức, Italy, Nhật Bản, Hà
Dương
OLS
Dương
Hàn Quốc
Nhật Bản
Abeysinghe và
Yeok (1998)
Dữ liệu năm 1975-1992
Wilson và Tat
(2001)
Dữ liệu Quý I 1970-Quý IV1996
BahmaniOskooee và Kara
(2003)
Singapore
Singapore
Dữ liệu Quý I 1973 – Quý IV
1998
gia nghiên cứu
Phương
pháp nghiên
cứu
Dữ liệu Quý I 1974 – Quý OLS
IV 1981
Mối quan hệ
giữa biến động
tỷ giá và xuất
khẩu
Âm
Đức xuất khẩu vào Mỹ
Điều tra,
nghiên cứu
Joshi and Little
(1994)
Dữ liệu năm 1964 – 1991
Chowdhury
(1993)
Dữ liệu Quý I 1973 – Quý VECM
IV 1990
ADF, VECM
Âm
Astralia, Canada, Nhật
Bản, Anh,, Thụy Điển, Hà
Lan
Fountas and
Bredin (1998)
Dữ liệu Quý II 1979 –
Quý 3 – 1993
Ireland xuất khẩu sang
Anh