A.
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được
ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và nhiều văn bản pháp luật. Khiếu nại, tố
cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước,
quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức và công dân. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọ ng công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo mọ i điều kiện thuận lợi để nhân dân thực
hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt đ ộng
của cơ quan Nhà nước. Điều 74 Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Công dân
có quyền khiếu nại, quyền tố cáo của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu
nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời gian
pháp luật quy định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi
dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. Mọi
hành vi xuất phát lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể
và công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh”. Để cụ thể hoá quyền
khiếu nại, tố cáo được quy định tại Hiến pháp tháng 12/1998, tại kỳ họp thứ 4,
Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo. Luật Khiếu nại, tố cáo
ra đ ời đã tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát
huy dân chủ, b ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ q uan, tổ chức và cá
nhân. Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo,
tại phiên họp ngày 01/6/2004, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. Q ua tổng kết 5 năm thực hiện Luật
Khiếu nại, tố cáo cho thấy nhìn chung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
đã được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, ở một số địa phương
vẫn còn xảy ra tình trạng khiếu tố đông người hoặc vượt cấp, có nơi còn hình
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1 Điều
2). Trong đó, quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật
cán bộ, công chức được định nghĩa như sau:
- Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước
hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để
quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (Khoản 8
Điều 2 Luật Khiếu nại);
- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 9
Điều 2 Luật Khiếu nại);
- Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công
chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ,
công chức (Khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại).
3
Về tố cáo: Theo quy định của Luật Tố cáo quy định: “Tố cáo là việc
công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 1
Điều 2). Tố cáo được chia làm 02 loại như sau:
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (Khoản 2 Điều
4
-
Cơ quan HCNN giữ vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc giải quyết KN, TC
bao gồm các cơ quan HCNN từ TW đến địa phương.
-
Cơ quan thanh tra giữ vai trò tham mưu cho thủ trưởng cơ quan hành chính
trong việc giải quyết KN, Tc có trách nhiệm xác định, thẩm tra, xác minh, kết
luận và kiến nghị thủ trưởng ra quyết định giải quyết KN, TC.
Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu rõ mqh giữa các cơ quan có
thẩm quyền, trách nhiệm trong giải quyết KN, TC. Trên cơ sở kiến nghị của
thanh tra mà thủ trưởng cơ quan hành chính ra quyết định giải quyết đúng đắn
và phù hợp.
1.2
1.2.1
-
Trình tự giải quyết KN, TC
Trình tự giải quuyết KN
Đối với công dân: Người KN cung cấp hồ sơ, tài liệu có lien quan đến nội
dung KN.
-
Đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết:
dung và cách thức giải quyết. Quá trình thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo đã
chỉ ra không ít trường hợp còn chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là
khiếu nại, thế nào là tố cáo nhất là khi đơn thư của công dân có nội dung chứa
đựng cả việc khiếu nại và việc tố cáo thì vấn đề thụ lý và giải quyết còn nhiều
lúng túng. Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm
lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác
minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân khiến người dân phải khiếu
nại nhiều lần hoặc tố cáo sai sự việc. Do vậy, việc phân biệt khiếu nại và tố
cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo của mình đúng pháp luật và giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đỡ mất
thời gian, công sức, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếu
nại, tố cáo.
- Trước hết, về chủ thể: Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo sửa
đổi, bổ sung năm 2005, chủ thể của hành vi khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ
chức, công dân, cá nhân và tổ chức nước ngoài (hoặc đại diện hợp pháp của
họ) có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành
6
chính của cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính. Cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống có quyền
khiếu nại quyết định kỷ luật đối với họ. Nói rõ hơn, chủ thể của hành vi khiếu
nại phải là người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Trong khi đó, chủ thể của hành
vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là chỉ bao gồm công dân và người nước
ngoài. Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có thể chịu tác động trực tiếp hoặc
không chịu tác động của hành vi vi phạm pháp luật. Bởi vậy, khi tham gia vào
quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ
của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết”. Như vậy, khác với thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào đó là chủ thể
giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của chính bản thân mình. Họ chỉ có quyền giải quyết những
đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ
quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp.
+ Về trình tự giải quyết, có thể chỉ ra một điểm khác nhau giữa khiếu
nại, tố cáo là vấn đề thời hiệu. Đối với khiếu nại: “thời hiệu được tính là 90
ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi
hành chính”. (Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo). Còn đối với khiếu nại quyết
định kỷ luật cán bộ công chức thì thời hiệu được tính là 15 ngày kể từ ngày
nhận được quyết định kỷ luật.“ Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai địch
họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà
người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì
thời gian có trở ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại”. (Điều 31
Luật khiếu nại, tố cáo). Đối với tố cáo, pháp luật hiện hành không quy định về
thời hiệu tố cáo.
- Thứ ba, về mục đích: Nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ
và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởi
quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm
8
quyền. Thì mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục
quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo
vệ lợi ích của Nhà nước.
Tóm lại: “việc phân biệt hai khái niệm khiếu nại và tố cáo sẽ góp phần
quan trọng trong việc xây dựng cơ chế, thiết chế thực hiện quyền công dân và
cũng là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm, từ đó xác định thẩm quyền và xây
dựng trình tự giải quyết khiếu nại và tố cáo ngày càng đơn giản, gọn nhẹ,
9
10
Chương II. TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
Thành phố Lào Cai là trung tâm kinh tế , chính trị, văn hoá - xã hội của
tỉnh Lào Cai, là đầu mối giao thông, giao lưu buôn bán giữa nước ta với nước
bạn Trung Quốc. Những năm qua được sự quan tâm của Tỉnh, sự nỗ lực cố
gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc thành phố Lào Cai
nền kinh tế đã có những bước phát triển toàn diện: cơ sở hạ tầng của thành
phố ngày càng được đầu tư xây dựng và nâng cấp cải tạo, nhiều công trình và
dự án xây dựng cơ bản đã được triển khai, tốc độ phát triển kinh tế và đô thị
hoá trên địa bàn tăng nhanh. Cùng với sự phát triển kinh tế và phát triển đô
thị, những năm qua công tác quản lý đô thị trên địa bàn Thành phố cũng còn
bộc lộ một số bất cập như: Công tác xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã được triển khai nhưng tiến độ còn chậm; Công tác tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật chưa sâu rộng. ý thức chấp hành pháp luật của bộ bộ
phận nhân dân chưa cao… từ đó dẫn đến lượng đ ơn thư khiếu nại, tố cáo phát
sinh tương đối nhiều. Bên cạnh đó, cán bộ công chức các Phòng, Ban liên
quan đến công tác giải quyết đơn thư còn thiếu năng lực hạn chế nên đã ảnh
hưởng đến tiến độ giải quyết đơn thư của công dân trên địa bàn Thành phố.
2.1. Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
* Đối với lĩnh vực hành chính: Qua tổ ng hợp tình hình đơn thư trên địa
bàn Thành phố hàng năm cho thấy lượng đơn thư phát sinh tương đối nhiều,
số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, đơn không thuộc thẩm quyền hoặc trùng
lặp tăng theo từng năm. Đặc biệt, năm 2002 khi thị xã Lào Cai được công
pháp luật chưa đầy đủ, chế tài xử lý đối với những hành vi khiếu nại, tố cáo
sai sự thật chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật .Công tác
12
tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật chưa được thường xuyên. Công tác
quản lý nhà nước về đất đai, đô thị chưa chặt chẽ. Các dự án đầu tư trên địa
bàn còn giàn trải, cơ chế chính sách về hỗ trợ và tái định cư của một số dự án
còn chưa kịp thời và đồng bộ nên dân thắc mắc từ đó phát sinh đơn khiếu nại .
Cấp uỷ, chính quyền ở một số xã, phường chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm
của mình trong việc giải quyết khiếu kiện của công dân. Quá trình giải quyết
khiếu kiện còn chậm, một số nơi chưa làm tốt công tác hoà giải, hướng dẫn
giải thích công dân thực hiện theo đúng quy định của pháp luật . Nguyên nhân
phát sinh tố cáo: Do công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và ý thức chấp
hành pháp luật của một bộ phận nhân dân chưa cao. Một số cán bộ chưa thực
hiện đúng trách nhiệm được giao.
2.2. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo:
* Những mặt đã làm được.
Điểm nổi bật trong công tác tiếp dân đó chính là người dân đã đến
phòng tiếp dân, từ đó có thể khẳng định nhân dân tin tưởng vào cấp chính
quyền. Qua đó lãnh đạo các cấp, các ngành lắng nghe được bức xúc trong
nhân dân. Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có nhiều chuyển biến
tích cực, đã đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao. Các cấp, các ngành trong toàn
huyện đã tổ chức thực hiện tốt luật KNTC và các văn bản pháp luật có liên
quan, giúp cho việc giải quyết đúng luật, khách quan và dân chủ. Huyện ủy,
HĐND, UBND huyện và các cấp ủy Đảng đã có sự quan tâm chỉ đạo và tăng
cường kiểm tra đôn đốc các ngành, các cấp trong công tác tiếp dân, giải quyết
KNTC. Từ đó, đã nâng cao được trách nhiệm của các cấp, các ngành trong
việc giải quyết KNTC góp phần ổn định an ninh trật tự ở đơn vị. Tỷ lệ đơn
thư tồn đọng thấp, không có hiện tượng tái khiếu, khiếu kiện vượt cấp đông
đường rộng 4 m gồm cả rãnh dọc) đối với những xã đồng bằng, trung du,
nhưng với điều kiện đó thì ở xã Miền núi thì chỉ có thể làm được 1/4 km do ta
luy cao, khối lượng đất đá lớn không có khả năng làm thủ công. do vậy chính
sách cơ chế cần sát với thực tế.
14
- Trình độ quản lý cấp xã, thị trấn trong một số lĩnh vực như : đất đai,
tài chính, xây dựng cơ bản,…còn yếu và buông lỏng dẫn đến những sai phạm:
cấp đất trái thẩm quyền, thất thoát trong xây dựng cơ bản, thu các khỏan thu
ngoài quy định. Để ngoài sổ sách để tự chi,…gây bức xúc trong quần chúng
nhân dân.
- Việc tuyên truyền pháp luật nói chung và luật khiếu nại, tố cáo nói
riêng chưa thực sự sâu rộng dẫn đến một bộ phận người dân hiểu sai và chưa
đầy đủ, gửi đơn thư đến nhiều nơi, vượt cấp và phản ánh không đúng sự thật
vụ việc.
- Còn có một số đối tượng có biểu hiện đầu đơn kích động, lôi kéo lợi
dụng quy chế dân chủ để cố tình khiếu nại, tố cáo sai sự thật nhằm hạ uy tín
cán bộ.
- Công tác xử lý sai kết quả giải quyết chưa triệt để, hình thức xử lý
đối với tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm trong tiếp dân và giải quyết KNTC
còn nhẹ và thiếu tính răn đe và chưa thực sự đi vào nề nếp.
15
16
cường công tác giám sát đối với việc giải quyết KNTC của chính quyền các
cấp các ngành. Đại biểu HĐND đã có mối liên hệ chặt chẽ với cử tri trên địa
bàn thông qua hoạt động tiếp xúc. Đó là kênh thông tin quan trọng nắm bắt
những bức xúc nổi cộm trong nhân dân, đại diện cho những nguyện vọng
chính đáng của nhân dân và yêu cầu các cơ quan đơn vị tiếp nhận giải quyết
theo chế độ chính sách. Công tác tiếp dân của các phòng tiếp dân trên địa bàn
toàn huyện, cách thức và phương pháp cần có sự đổi mới hơn nữa theo tinh
thần: kịp thời, khách quan, dân chủ, đúng luật và cởi mở. Thực hiện triệt để
trách nhiệm tiếp dân và giải quyết KNTC của thủ trưởng các đơn vị qua đó
làm đổi mới toàn diện và nâng cao hiệu quả giải quyết đơn thư, qua đó giảm
những bức xúc và tăng niềm tin của nhân dân vào những chính sách của Đảng
và Nhà nước.
3.2. Nâng cao năng lực của cơ quan giải quyết KNTC
3.2.1. Mỗi công dân khi đến nơi tiếp dân hoặc gửi thư KNTC đều có
những bức xúc vì cho rằng quyền lợi của mình đã bị cá nhân, công chức, tổ
chức xâm hại. Vì vậy các công chức, tổ chức đơn vị nhà nước có thẩm quyền
khi tiếp công dân đến KNTC cần có thái độ cởi mở, lắng nghe và có ứng xử
đúng mực. Trong quá trình giải quyết tôn trọng chứng cứ thực tế để có những
quyết định giải quyết đúng đắn. Nghiêm khắc với thái độ hách dịch, coi
thường với dân, xử lý triệt đê các trường hợp né tránh, đùn đẩy trách nhiệm ,
làm sai lệch kết quả, chủ quan kết luận duy ý chí.
3.2.2. Đơn thư đến với các cấp có thẩm quyền theo nhiều nguồn khác
nhau nhưng cần có bộ phận xử lý, bóc tách nội dung, nội dung khiếu nại, kiến
nghị, đề nghị tố cáo để giao cho cá nhân cơ quan có trách nhiệm thẩm quyền
giải quyết và trả lời trực tiếp cho công dân, tổ chức. Bộ phận xử lý đơn thư
được hiểu ở cấp huyện đó chính là phòng tiếp dân UBND tỉnh, các cơ quan
đơn vị, xã, thị trấn là cán bộ được giao tiếp dân, kiêm nhiệm công tác này. qua
đó có điều kiện thực hiện nâng cao nghiệp vụ, xử lý tốt đơn thư trùng lặp,
3.3. Tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở
Phần lớn đơn thư phát sinh từ cơ sở phư ờng xã, ngành vì vậy muốn
chuyển biến kết quả giải quyết KNTC thì trước hết những người lãnh đạo
19
chính quyền cần có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về KNTC. Khi xảy ra khiếu
nại, tố cáo chính quyền cơ sở phải kịp thời giải quyết không được ỷ lại, trông
chờ cấp trên. Có như vậy mới thấy được những bất cập, yếu kém trong khâu
chỉ đạo, điều hành công việc và phải dũng cảm nhìn thấy trách nhiệm dám
nhận sai và sửa sai, không nên tìm mọi cách che đậy, phủ nhận sai phạm của
mình. Vì việc đó sẽ dẫn đến tình trạng công dân bức xúc, tập hợp để khiếu
nại. Kiện toàn và nâng cao năng lực, đảm bảo chế độ cho ban thanh tra nhân
dân. Đây là hình thức giám sát của nhân dân thông qua đại diện do mình bầu
ra để tham gia và xem xét trực tiếp việc thực hiện chính sách, pháp luật về
giải quyết KNTC và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Hoạt động thanh tra
nhân dân có hiệu quả giúp cho lãnh đạo cơ sở tập trung được ý kiến phản ánh
của dân nhanh nhất. Từ đó thấy được yếu kém và bất cập công việc của chính
quyền đang thực hiện, hạn chế được đơn thư khiếu nại, tố cáo từ cơ sở.
3.4. Tăng cường sự phối kết hợp với các đoàn thể.
Đề cao vai trò các tổ chức đoàn thể như: Hội nông dân; Hội cựu chiến
binh; Hội phụ nữ; Hội người cao tuổi; Đoàn thanh niên. Trong công tác giải
quyết đơn thư, tham gia vào quá trình này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của hội viên khi tham gia KNTC và đồng thời đóng vai trò vận động, thuyết
phục, tuyên truyền chính sách, pháp luật cho hội viên hiểu và thực hiện theo.
Các tổ chức đoàn thể bố trí cán bộ có sự hiểu biết và khả năng tuyên truyền
tham gia và công tác tiếp dân, giải quyết KNTC. Từ đó nắm bắt kịp thời tâm
tư nguyện vọng cũng như những kiến nghị, phản ánh của đoàn viên hội viên.
Nhằm phục vụ tốt cho công tác giải quyết KNTC.