TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO TRÌNH
(Lƣu hành nội bộ)
CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA LÍ KINH TẾ
THẾ GIỚI HIỆN NAY
(Dành cho Sinh viên ngành Cao đẳng Sƣ phạm Địa lý)
Tác giả: ThS. Lê Thị Thu Hiền
Năm 2016
1
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG .................................................................................. 4
1.1. ĐỐI TƢỢNG, NHIỆM VỤ VÀ QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 5
1.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................................ 5
1.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 5
1.1.3. Quan điểm nghiên cứu ...................................................................................... 5
1.2. KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY TRÊN
THẾ GIỚI ............................................................................................................... 6
1.3. Ý NGHĨA THỰC TIỄN .................................................................................... 7
CHƢƠNG 2. SỰ THAY ĐỔI BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI .................................... 12
2.1. TRƢỚC, TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT ............. 12
2.2. TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ............................... 14
2.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TAN RÃ HỆ THỐNG XHCN THẾ GIỚI .... 16
2.4. CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ HÕA BÌNH VÀ ỔN ĐỊNH LÀ ĐIỀU KIỆN
CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỖI QUỐC GIA ..................................................... 17
3.3.9. Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc – United Nations
Educational, Scientifics and Cultural Organization .................................................. 31
3.3.10. Tổ chức y tế thế giới – World Health Organization ...................................... 31
3.3.11. Tổ chức thƣơng mại thế giới – World Trade Organization .......................... 31
3.3.12. Liên minh châu Âu (European Union) .......................................................... 32
3.3.13. Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (North American Free Trade Area NAFTA) .................................................................................................................... 33
3.3.14. Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dƣơng (Asia Pacific Economic
Cooperation – APEC)................................................................................................ 33
3.3.15. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – (Asoociation of South – East Asian
Nations – ASEAN) .................................................................................................... 34
CHƢƠNG 4. SỰ BÀNH TRƢỚNG CỦA CÁC QUỐC GIA LỚN TRÊN THẾ GIỚI .. 36
4.1. SỰ TƢƠNG PHẢN NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC NƢỚC PHÁT TRIỂN VÀ
CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN ....................................................................... 36
4.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của các nƣớc phát triển ......................................... 36
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của các nƣớc đang phát triển ................................ 37
4.2. SỨC ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA LỚN TRÊN THẾ GIỚI ............... 38
4.2.1. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ................................................................................. 38
4.2.2. Liên Bang Nga ................................................................................................ 38
4.2.3. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) ................................................ 39
4.2.4. Pháp ................................................................................................................. 39
4.2.5. Vƣơng Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ................................................... 40
4.2.6. Nhật Bản .......................................................................................................... 40
4.2.7. Ấn Độ .............................................................................................................. 40
4.3. CÁC SIÊU CƢỜNG HIỆN NAY VÀ ĐANG NỔI LÊN TRÊN THẾ GIỚI ....... 41
4.3.1. Các vấn đề chung ............................................................................................ 41
4.3.2. Những siêu cƣờng hiện nay............................................................................. 41
4.3.3. Những siêu cƣờng mới nổi lên ........................................................................ 40
CHƢƠNG 5. VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ VÀ AN SINH XÃ HỘI ................................................. 46
5.1. NHỮNG BẤT ỔN CHÍNH TRỊ XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ ........ 46
5.2. QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ............................................................................ 47
Học phần Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay là một bộ phận của Địa lý
kinh tế - xã hội, nó nghiên cứu những vấn đề khái quát chung của nền kinh tế thế giới,
đặc điểm, các quá trình phát triển và những vấn đề nổi bật của thế giới trong thời gian
gần đây. Trong đó, có sự phân chia bản đồ chính thế giới hiện đại; các xu hƣớng liên kết
tiêu biểu và các tổ chức khu vực; sự bành trƣớng, sức mạnh của các quốc gia lớn trên thế
giới và các vấn đề toàn cầu hiện nay. Không gian của Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới
hiện nay đƣợc xác định là các quốc gia, nhóm các quốc gia và toàn bộ thế giới.
1.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu, dạy và học những vấn đề kinh tế - xã hội thế giới chủ yếu
trong thời kỳ hiện đại nhƣ bản đồ chính trị thế giới; đặc điểm và tác động của cuộc Cách
mạng Khoa học kỹ thuật (KHKT) đến nền kinh tế - xã hội thế giới; những biến động
chính trị xã hội môi trƣờng; những đặc điểm phát triển kinh tế nổi bật của các nƣớc phát
triển và nƣớc đang phát triển; một số xu hƣớng phát triển kinh tế - xã hội; một số tổ chức
hợp tác kinh tế - xã hội tiêu biểu; sự bành trƣớng của các quốc gia lớn và các vấn đề đô
thị, an sinh xã hội cần đƣợc giải quyết trên phạm vi toàn cầu.
1.1.3. Quan điểm nghiên cứu
1.1.3.1. Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Các hiện tƣợng kinh tế - xã hội luôn tồn tại trong sự vận động và phát triển không
ngừng theo các quy luật khách quan, trong mối quan hệ qua lại biện chứng. Vì vậy, khi
nghiên cứu các vấn đề địa lý kinh tế - xã hội thế giới cần phải nghiên cứu trong mối quan
hệ qua lại biện chứng, trong sự vận động và phát triển giữa các nguồn lực với sự phát
triển kinh tế - xã hội, giữa các ngành kinh tế, trong các ngành của từng quốc gia, giữa các
quốc gia, trong mỗi khu vực cũng nhƣ quy mô trên toàn cầu. Các vấn đề cần nghiên cứu
trong quá khứ, hiện tại và dự báo sự phát triển trong tƣơng lai, từ đó rút ra những đặc
điểm chung, những quy luật phát triển. Nguồn thông tin tƣ liệu nghiên cứu cần phải chính
xác và cập nhật.
1.1.3.2. Quan điểm hệ thống
Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay là một khoa học bộ phận của khoa học
địa lý và có quan hệ với một số khoa học khác nhƣ: khoa học môi trƣờng, kinh tế, lịch sử,
triết học, toán học… Vì vậy, khi nghiên cứu, học tập địa lý kinh tế thế giới hiện nay cần
1.1.3.5. Quan điểm kế thừa
Khi nghiên cứu, học tập các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay, ngƣời học cần
kế thừa quan điểm, phƣơng pháp nghiên cứu, nguồn thông tin, số liệu từ những công
trình nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội đã có cũng nhƣ tài tiệu, công trình nghiên cứu của
những khoa học có liên quan khác.
1.2. KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ KINH TẾ HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI
Các vấn đề địa lý kinh tế hiện nay trên thế giới khá rộng lớn, phức tạp và đầy biến
động. Thế giới bao gồm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau về quy mô diện tích,
6
dân số, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, trình độ sản xuất, thu nhập quốc
dân…Thế giới lại phân chia ra những nƣớc phát triển và những nƣớc đang phát triển.
Trong đó, có những nƣớc mặc dù nghèo tài nguyên thiên nhiên nhƣng với bƣớc đi đúng
đắn trong thời gian ngắn đã trở thành nƣớc giàu có, phồn vinh (Nhật Bản).
Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ của cuộc cách mạng KHKT và nền kinh tế tri thức
nhƣ hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ,
yếu tố thành công hay thất bại của một nƣớc là hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế, là khả năng tạo dựng và củng cố vị trí của mình trong phân công lao động quốc
tế… Tham gia toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất
yếu đối với tất cả các nƣớc, góp phần củng cố an ninh chính trị của mỗi quốc gia. Vì vậy,
không một nƣớc nào muốn phát triển mà lại đứng ngoài xu hƣớng chung của nhân loại.
Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, một trật tự thế giới mới đƣợc hình thành kéo
theo đó là sự xuất hiện của một loạt các quốc gia độc lập trẻ tuổi. Các nƣớc với các bƣớc
đi khác nhau về chủ trƣơng, chính sách trong phát triển kinh tế xã hội. Có những nƣớc
với bƣớc đi đúng đắn đã trở thành các cƣờng quốc kinh tế nhƣ Hoa Kỳ trở thành siêu
cƣờng kinh tế, hay Trung Quốc, Ấn Độ là những siêu cƣờng mới nổi có sức ảnh hƣởng to
lớn đến tình hình kinh tế xã hội trên toàn thế giới.
Trái Đất là một thực thể thống nhất (về cấu trúc địa chất, vật lý địa cầu, môi
trƣờng sinh thái) nhƣng lại rất đa dạng, phong phú (về các yếu tố tự nhiên, sự rộng lớn về
đang mâu thuẫn với chính bản chất của khoa học này nhƣ thế nào.
Địa lý kinh tế có thể cung cấp cho thực tiễn một quan điểm rộng rãi đối với
những mối liên hệ không gian - thời gian của những hiện tƣợng - từ tự nhiên đến khoa
học và văn hoá, còn chủ nghĩa tƣ bản độc quyền thì lại thoả mãn với những quan điểm
cục bộ hẹp hơn.
Địa lý kinh tế đang bị xới lên mạnh mẽ trong việc nghiên cứu các không gian
không có những ngăn cách tƣ hữu. Địa lý kinh tế là một ngành khoa học thù ghét tất cả
các loại rào dậu, còn chủ nghĩa tƣ bản thì đã phân chia, phần thế giới còn lại của nó bằng
hàng triệu địa giới sở hữu cá nhân, kể cả những khu dầu khí cơ bản ở những thềm lục
địa. Đến cả biển, các độc quyền dầu mỏ khổng lồ cũng đã phân chia với nhau cả rồi.
Địa lý kinh tế trong các nƣớc xã hội chủ nghĩa nhìn thấy mục đích của mình
trong việc làm sáng tỏ những hệ thống tồn tại khách quan của các vùng kinh tế và những
hệ thống phức tạp của mỗi một vùng, để sử dụng phân vùng vào những mục đích thực
tiễn đối với sự phát triển tổng hợp của các nƣớc và các vùng, đối với những quy hoạch
vùng, đối với việc sử dụng đầy đủ các tổng thể tự nhiên, lao động và các nguồn vật tƣ kỹ
thuật. Các độc quyền tƣ bản đối lập với lý thuyết và thực tiễn của phân vùng kinh tế tổng
hợp ở cấu trúc tổ chức, kỹ thuật và kinh tế của mình. Vì thế mà địa lý kinh tế tƣ sản phủ
nhận sự tồn tại khách quan của các vùng kinh tế.
Vậy ý nghĩa thực tiễn của địa lý kinh tế đƣợc biểu hiện cụ thể bằng cái gì trong
những điều kiện của chủ nghĩa tƣ bản độc quyền.
Khi tác giả cuốn sách này đến thăm “Đế quốc Ford” gần thành phố Detroi (Mỹ),
năm 1961, thì mới hiểu rằng trong bang của công ty Ford có chuyên viên địa lý kinh tế.
Thực ra thì chuyên viên này làm việc theo lập luận địa lý tiêu thụ ô tô, nghiên cứu cácthị
trƣờng tiêu thụ chúng. Chính vì giành thị trƣờng tiêu thụ mà nổ ra cuộc đấu tranh giữa
các độc quyền tƣ bản, và trong cuộc đấu tranh đó chúng càng cần có sự giúp đỡ của
địa lý kinh tế. Nếu nghiên cứu kỹ những tác phẩm nghiên cứu địa lý kinh tế xuất bản ở
8
Ở Liên Xô cũng nhƣ ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa khác, các nhà địa lý kinh tế
đang giải quyết những vấn đề có liên quan tới sự phân bố các ngành công nghiệp, sự
chuyên môn hóa các xí nghiệp công nghiệp và nông nghiệp trong các vùng khác nhau,
tới những lập luận xây dựng các tuyến đƣờng mới và cải tạo các đƣờng cũ, phát triển và
quy hoạch các thành phố, phân bố các cơ quan thuộc lãnh vực phục vụ, tới những giải
pháp xây dựng các công trình thủy lợi kỹ thuật đảm bảo lao động cho các vùng mới xây
9
dựng, tới việc đặt các ống dẫn nƣớc và các đƣờng dây tải điện v.v… Tất cả những lĩnh
vực hoạt động thực tiễn cần cho các nhà địa lý kinh tế, khó mà kể hết đƣợc. Ví dụ, một
số loại tác phẩm mới nổi lên trong những thời gian gần đây nhất của những nhà địa lý
kinh tế trẻ tốt nghiệp trƣờng đại học tổng hợp Maxcơva: việc thiết kế những thành phố
khoa học; việc thiết kế những hệ thống lãnh thổ du lịch và nhà nghỉ ngơi cho thiếu nhi;
việc thiết kế những hệ thống lãnh thổ tối ƣu phục vụ y tế dân cƣ.
Những lĩnh vực ứng dụng thực tiễn khác nhau nhƣ vậy trong tác phẩm của các
nhà địa lý kinh tế có thể gây nên sự lo ngại, nếu không có một cơ sở chung, một cƣơng
lĩnh khoa học chung đối với những lĩnh vực đó. Đa số những giải quyết thực tiễn đó đều
dựa vào sự phân tích và dự báo, phát triển hệ thống các vùng kinh tế tồn tại khách quan,
mà mỗi vùng trong hệ thống đó đến lƣợt mình lại là một hệ thống lãnh thổ nguyên vẹn.
Khi giải quyết mỗi một vấn đề thực tiễn cụ thể, nhà địa lý kinh tế chú ý tới hai laọi hệ
thống đó, phải tuân theo những quy luật phát triển của chúng, trƣớc hết là những quy
luật phân công lao động theolãnh thổ, phát triển tổng hợp nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy
thậm chí những đề nghị riêng về sự xây dựng một xí nghiệp thuộc một ngành công
nghiệp hẹp nào đó, về sự phát triển một thành phố nhỏ, về sự phát triển du lịch ở một địa
phƣơng nào đó, về các khu vực tiêu thụ một sản phẩm này hay khác v.v… đều đƣợc
nhà địa lý kinh tế xem nhƣ là một khâu của “giây xích” của những hệ thống lãnh thổ sản
xuất lớn hay nhỏ.
Trong quá trình công tác thực tiễn đối với nền kinh tế quốc dân, những nhà địa lý
kinh tế Liên Xô và các nƣớc XHCN khác phải tính đến cả những hiện tƣợng tiêu cực
nƣớc khác nhau và của các nƣớc riêng biệt. Dự báo theo từng nƣớc nói chung đƣợc xác
định trên những đặc điểm của các nhóm khác nhau của các vùng kinh tế và các vùng
riêng biệt, các vùng thứ cấp, các đầu mối công nghiệp, v.v...của nƣớc đó.
Những sự chỉnh lý nảy sinh trong những “xác định” tƣợng tự quan trọng đến nỗi
do đó mà ngƣời ta đang đánh giá lại cả những chỉ tiêu có tính chất toàn Trái đất (hoặc
trung bình theo từng nƣớc). Nhƣ vậy, địa lý kinh tế đƣa sự xác định theo khu vực vào dự
báo chung.
Cần chú ý là những vùng nằm trong một hệ thống lãnh thổ nhất định thƣờng phản
ánh các giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau. Bởi vậy trong khi phân tích các thiết đồ
không gian,có thể hình dung cả đƣờng cong phát triển theo thời gian. X.t. Xtrumilin đã
viết về sự áp dụng biện pháp so sánh không gian, thời gian cho công tác dự báo (các tỉ lệ
sử dụng): “chúng ta không thể liếc mắt vào tƣơng lai mà xác định những tỉ lệ rất xa lạ
này đối với chúng ta”. Song điều đó không quan trọng. Vấn đề là ở chổ: những biến
chuyển cấu trúc gian thì chúng ta đã đƣợc cung cấp vào thời điểm lập kế hoạch – trong
không gian. Những biến chuyển ấy có hàng loạt ở bất kì thời điểm nào trong các nhóm
dân cƣ có “mức tiện nghi khác nhau”. Việc sử dụng các phƣơng pháp so sánh không
gian, thời gian đối với công tác dự báo kinh tế có thể là khá rộng rãi. Nhƣng dầu sao
cũng cần có khái niệm rõ ràng về tính giai đoạn của một quá trình nào đó và về tính liên
kết của từng giai đọan phát triển gắn với những đặc điểm lãnh thổ nào đó, với vị trí địa
lý kinh tế, với “bức tranh” không gian.
11
CHƢƠNG 2. SỰ THAY ĐỔI BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI
2.1. TRƢỚC, TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
Những cuộc phát kiến lớn về địa lý vào cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI mở
đầu cho việc xâm chiếm thuộc địa. Đi đầu trong cuộc xâm chiếm này là các nƣớc Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha. Đến giữa thế kỷ XVI hai nƣớc nói trên đã trở thành các
cƣờng quốc thuộc địa. Đầu thế kỷ XVII, Hà Lan cũng bắt đầu xâm chiếm thuộc địa.
Ngoài ra, Đức còn phải trả lại cho Bỉ, Đan Mạch và Ba Lan một số vùng đất đai
mà trƣớc đây Đức chiếm và sáp nhập vào lãnh thổ của mình. Diện tích nƣớc Đức so
với trƣớc chiến tranh giảm đi 1/3. Nƣớc Ba Lan sau chiến tranh đã có một lối hẹp
thông ra biển Ban Tích. Những năm 1917 - 1918, các nƣớc Ba Lan, Phần Lan và các
nƣớc giáp biển Ban Tích (Extonia, Latvia, Litva) nguyên là các bộ phận lãnh thổ của
đế quốc Nga trƣớc đây đã trở thành các nƣớc cộng hòa tƣ sản. Lợi dụng lúc nƣớc Nga
Xô Viết gặp phải muôn vàn khó khăn, nhà nƣớc Địa chủ tƣ sản Ba Lan đã cho quân
chiếm đóng miền Tây Ukrana và miền Tây Bêlarus, còn Rumani thì chiếm miền
Betxarabi (thuộc Mônđavia) và miền Bắc Bucôvin (thuộc Ukraina).
Tại miền Trung Âu, đế quốc Áo - Hung tan rã và các quốc gia mới đã ra đời
là Tiệp Khắc, Áo, Hungari. Trên miền Tây bán đảo Bancăng, nƣớc Nam Tƣ cũng đã
xuất hiện trên cơ sở sự thống nhất lãnh thổ giữa Secbia, và một số vùng đất đai của
ngƣời Slavơ tại miền Nam đế quốc Áo - Hung trƣớc đây.
Bungari là đồng minh trong chiến tranh của Đức, ở vào địa vị nƣớc thua trận
nên đã bị cắt một phần đất phía nam cho Hy Lạp, do đó không còn lối thông ra biển
Angiê nữa.
Đế quốc Ôttôman mà trung tâm là Thổ Nhĩ Kỳ, vốn đã suy yếu từ thế kỷ XVII,
nay sụp đổ hoàn toàn. Là nƣớc thua trận, Thổ Nhĩ Kỳ mất toàn bộ các thuộc địa cũ của
mình. Những thuộc địa này ở châu Phi, Trung Cận Đông đƣợc chuyển giao cho Anh
và Pháp dƣới hình thức đất đai ủy trị. Bị quân đội nƣớc ngoài chiếm đóng, đứng trƣớc
nguy cơ trở thành thuộc địa của CNĐQ, nhƣng cuộc Cách mạng Tƣ sản Thổ Nhĩ Kỳ
(1923) đã cứu nƣớc này thoát khỏi nguy cơ đó và Thổ Nhĩ Kỳ trở thành nƣớc cộng hòa
tƣ sản.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh và Pháp có thêm cơ hội để mở rộng hơn
nữa các hệ thống thuộc địa của mình, vì phần lớn các thuộc địa trƣớc đây của nƣớc
Đức đƣợc Hội Quốc Liên giao cho hai nƣớc này cai trị.
Hội Quốc Liên là một tổ chức quốc tế ra đời năm 1919. Tổ chức này theo quy
định có nhiệm vụ ngăn ngừa chiến tranh, duy trì hòa bình trên thế giới, nhƣng trên
thực tế đã trở thành công cụ bảo vệ những thành quả mà các nƣớc thắng trận đã giành
Xô.
2.2. TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
Sự phân chia đất đai sau CTTG I làm cho bản đồ chính trị thế giới có nhiều biến
đổi sâu sắc, sau đó tạm thời ổn định. Nhƣng sự ổn định không lâu bền. Mâu thuẫn giữa
các nƣớc đế quốc ngày càng tăng. Anh, Pháp là những nƣớc thắng trận nhƣng lại suy
yếu về nhiều mặt, bƣớc vào thời kỳ đình đốn. Trong khi đó Hoa Kỳ vƣơn lên trở thành
nƣớc có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất, thay thế địa vị của Anh ở những thế kỷ
trƣớc. Khi có tiềm lực, Mỹ giúp Đức khôi phục kinh tế, ráo riết chuẩn bị chiến tranh
phục thù để chia lại thị trƣờng thế giới. Năm 1937 trục phát xít Đức - Ý - Nhật
chiếm các nƣớc khác trên lãnh thổ châu Âu và châu Á, tấn công Liên Xô. Đến cuối
năm 1941 các nƣớc bị lôi cuốn vào cuộc chiến hao ngƣời, tốn của do phe phát xít gây
ra. Phe đồng minh chống phát xít gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nga. Chiến tranh kết thúc với
thắng lợi của Đồng minh (1945). Phát xít Đức - Nhật đầu hàng vô điều kiện, bị bại
trận và mất thuộc địa. Hồng quân Liên Xô giúp nhiều nƣớc châu Âu (Đông Âu) và
14
châu Á giải phóng đất nƣớc đi theo con đƣờng XHCN. Bản đồ chính trị thế giới một
lần nữa thay đổi đáng kể, biên giới các quốc gia lại đƣợc phân chia lại.
Từ năm 1945, nền kinh tế và chính trị thế giới chia thành hai hệ thống. CNXH
trƣớc đây chỉ có một nƣớc, nay thành hệ thống từ châu Âu sang châu Á bao gồm 7
nƣớc Đông Âu: Ba Lan, Hunggari, Anbani, Bungari, Rumani, Tiệp Khắc, CHDC Đức.
Châu Á: Mông Cổ, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam. Tây Bán Cầu có Cu Ba
(1959). Hai hệ thống này phát triển song song với nhau, tuân theo quy luật riêng của
mình, tác động với nhau qua thị trƣờng toàn thế giới.
Các nƣớc XHCN thực hiện công hữu tƣ liệu sản xuất, kế hoạch hóa toàn diện
dƣới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, nền kinh tế khép kín, giữa các nƣớc này hình
thành một tổ chức kinh tế là Hội đồng Tƣơng trợ Kinh tế (Khối SEV), hoạt động
không hiệu quả đã giải tán.
Các nƣớc TBCN: Đặc trƣng tƣ hữu tƣ liệu sản xuất, nền kinh tế thực hiện theo
quốc gia độc lập trẻ tuổi xuất hiện.
2.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TAN RÃ HỆ THỐNG XHCN TRÊN THẾ
GIỚI
Trong những năm sau CTTG II, các nƣớc XHCN đã đạt đƣợc nhiều thành tựu
to lớn trong nhiều lĩnh vực, đã làm thay đổi bộ mặt đất nƣớc, làm chỗ dựa cho nhiều
dân tộc. Mô hình kinh tế XHCN trong suốt thời gian dài đã thể hiện nhiều ƣu việt và
huy động tối đa nguồn lực cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân lao
động. Sự quản lý thống nhất và có kế hoạch đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng nền
kinh tế nhiều nƣớc nhƣ: Nga trƣớc CM tháng Mƣời là nƣớc lạc hậu, kém xa so với
nhiều quốc gia Tây Âu, đến đầu thập kỷ 70 trở thành cƣờng quốc công nông nghiệp
hiện đại và trình độ KHKT tiên tiến hàng đầu thế giới.
Nhƣng từ đầu thập kỷ 80 (thế kỷ XX), hệ thống các nƣớc XHCN đã bƣớc vào
thời kỳ khủng hoảng, khó khăn do cơ chế bao cấp, quan liêu, mệnh lệnh, bộc lộ nhiều
hạn chế và nảy sinh nhiều mâu thuẫn cản trở sự phát triển sản xuất. Cơ cấu kinh tế
chƣa hợp lý, hàng hóa khan hiếm (hàng tiêu dùng, lƣơng thực) chậm đổi mới về quản
lý, kỹ thuật công nghệ, nền kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân giảm sút. Trong những
năm cuối thập kỳ 80 đầu 90 (thế kỳ XX), với những khó khăn và khủng hoảng trên đã
làm cho các nƣớc XHCN châu Âu (Đông Âu và Liên Xô cũ) bị sụp đổ, khi mở cửa ra
thế giới bên ngoài, hệ thống XHCN tỏ ra có nhiều mặt yếu kém, thua các nƣớc khác,
bản đồ thế giới một lần nữa thay đổi, Liên Xô tách ra thành 15 quốc gia độc lập, Tiệp
Khắc chia thành 2, Liên bang Nam Tƣ phân làm 6, hai nƣớc CHDC Đức và Tây Đức
sát nhập lại thành một…
Những năm cuối thế kỷ XX trôi qua với những biến đổi dồn dập và nhanh
chóng trong đời sống quốc tế. Sau khi Liên Xô và các nƣớc XHCN Đông Âu sụp đổ,
chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu giữa hai cực không còn, nhƣng mâu thuẫn vẫn
còn đan xen lúc này hay lúc khác, nơi này hay nơi khác, nhiều vấn đề xã hội nổi cộm
diễn ra suốt thập kỷ 90 và đến đầu thế kỷ XXI, khiến loài ngƣời phải quan tâm lo lắng.
Điều đó đã gây ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống và nền kinh tế của các quốc gia
trên thế giới.
những quan điểm khác… Gần đây những phần tử khủng bố còn lợi dụng thành quả
KHKT để thực hiện hành động khủng bố kỹ thuật cao nhƣ tấn công bằng vũ khí sinh
học, chất nổ. Những vụ khủng bố đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới, điển hình là vụ
11/9/2001 tại Trung tâm Thƣơng mại New York (Mỹ), khủng bố ở Ai Cập (2005)…
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, thế giới phải đối mặt với nhiều vấn đề nan
giải, đƣợc xem là những thách thức, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới cùng nỗ lực hợp
tác vì sự phát triển hòa bình và thịnh vƣợng. Các nhà lãnh đạo các nƣớc ở cấp vĩ mô
cần có những biện pháp cứng rắn và mềm dẻo, một tƣ duy chính trị tỉnh táo, một trí tuệ
17
đủ sức tìm ra những biện pháp phù hợp trong việc giải quyết các vấn đề của nƣớc
mình cũng nhƣ quốc tế, tránh những điều đáng tiếc xảy ra khiến cộng đồng thế giới
phải quan tâm lo lắng, để nhân loại đƣợc sống trong hòa bình, ổn định là điều kiệ cho
sự phát triển của mỗi quốc gia.
18
CHƢƠNG 3. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ GIỚI TRONG THỜI KỲ
HIỆN ĐẠI
3.1. CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC KỸ THUẬT (KHKT) HIỆN ĐẠI
3.1.1. Khái quát về cuộc cách mạng KHKT hiện đại
Cách mạng KHKT là một quá trình thay đổi cơ bản của hệ thống kiến thức về
KHKT diễn ra trong mối quan hệ khăng khít với quá trình phát triển của xã hội loài
ngƣời. Cho đến nay, loài ngƣời đã trải qua 2 cuộc cách mạng KHKT. Cuộc cách mạng
KHKT gắn với cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ XVIII, XIX và cuộc cách
mạng KHKT hiện đại diễn ra từ 1940 đến nay.
CMKHKT lần thứ nhất vào thế kỷ XVII ở nƣớc Anh với sự ra đời của những
chiếc máy dệt đầu tiên, máy quay xa, máy hơi nƣớc… làm cho ngành công nghiệp nhẹ
- Thay thế và giảm bớt việc sử dụng các nguồn năng lƣợng, nguyên vật liệu
truyền thống bằng nguyên vật liệu mới, nhẹ, nhỏ, tính năng tốt hơn, ô nhiễm ít hơn.
- Tăng cƣờng tự động hóa trong sản xuất công nghiệp và nhiều ngành kinh tế.
- Phát triển nhanh và không ngừng hoàn thiện kỹ thuật điện tử, tin học viễn
thông.
- Phát triển các ngành công nghệ sinh học, vũ trụ, nghiên cứu đại dƣơng, vật lý
hiện đại.
- Phát triển công nghệ môi trƣờng.
- Cuộc CM KHKT lần thứ 3 diễn ra mạnh mẽ cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
với nền kinh tế mới là nền kinh tế hậu công nghiệp: Nền kinh tế tri thức. Kinh tế thế
giới đang chuyển từ nền sản xuất hàng hóa sang nền kinh tế thông tin. Đây là cuộc
cách mạng diễn ra sâu, rộng chƣa từng thấy.
Thế kỷ XXI, nhân loại đang tiến hành cuộc cách mạng KH và công nghệ hiện
đại, đặc trƣng là xuất hiện và bùng nổ công nghệ cao. Đây là các công nghệ dựa trên
những thành quả khoa học mới nhất với hàm lƣợng tri thức, hàm lƣợng khoa học sáng
tạo cao nhất.
Những công nghệ trụ cột có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến phát triển KTXH
là: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và năng lƣợng mới, công nghệ thông tin,
công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ biển và công nghệ nông nghiệp.
* Công nghệ thông tin
Hƣớng vào nghiên cứu sử dụng các vi mạch, chíp điện tử có tốc độ cao, kỹ thuật
số hóa, công nghệ laze, cáp quang truyền thông đa phƣơng diện, thông tin vi sóng,
thông tin di động, siêu lộ cao tốc thông tin…đã làm cho việc chuyển thông tin không
những có dung lƣợng lớn, chất lƣợng tốt, diện phủ rộng, nhanh chóng, linh hoạt, an
toàn, tin cậy; thực hiện các dịch vụ truyền tin đa dạng, phức tạp đáp ứng mọi nhu cầu
truyền tin của từng cá nhân nhƣ truyền tiếng nói, hình ảnh tĩnh, động, các dữ liệu, văn
bản khắp mọi nơi, mọi miền trên Trái Đất.
* Công nghệ vật liệu và năng lượng mới
20
nhƣ xây dựng trạm phát điện vệ tinh bằng năng lƣợng mặt trời, vận hành trên quỹ đạo
trái đất, khai thác bề mặt trăng và các hành tinh khác, sẽ phát triển những phòng thí
nghiệm trên không, xây dựng trạm vũ trụ để sử dụng môi trƣờng trên không, năng
lƣợng mặt trời, môi trƣờng vi trọng lƣợng để mở ra con đƣờng thƣơng mại hóa vũ trụ,
sản xuất dƣợc phẩm trong vũ trụ sẽ là ngành thu hiệu quả kinh tế nhất.
* Công nghệ nông nghiệp
21
Trong thế kỷ XXI, nông nghiệp sẽ là ngành sản xuất cơ bản, cung cấp lƣơng thực
cho dân số ngày càng đông. Tự động hóa trong nông nghiệp chủ yếu dựa vào công
nghệ vi điện tử để ứng dụng các máy móc thiết bị, nông nghiệp sẽ phát triển mạnh.
Điện khí hóa nông nghiệp là công nghiệp về các dạng năng lƣợng mới nên có
nhiều cơ hội để thực hiện điện khí hóa NN. Sinh hóa học NN là xu thế phát triển công
nghệ sinh học trong nông nghiệp sẽ có khả năng ứng dụng rất lớn nhƣ khả năng ứng
dụng kỹ thuật gen, nuôi cấy tế bào, kỹ thuật lên men…
Trong thế kỷ XXI, bằng kỹ thuật và công nghệ hiện đại, con ngƣời sẽ mở rộng
không gian nông nghiệp ra biển, sa mạc, và có thể cả không gian vũ trụ. NN sẽ trồng
cây trên sa mạc, trên các hành tinh ngoài trái đất, tàu vũ trụ…
* Công nghệ biển
Trong thế kỷ XXI, con ngƣời sẽ sử dụng nƣớc biển tƣới cho cây trồng NN, xây
dựng các cảng hàng không trên biển, thành phố trên biển, đảo nhân tạo, di dân ra biển,
bãi phế thải dƣới đáy biển để xử lý chất thải hạt nhân. Trong thế kỷ XXI, sẽ mở ra
không gia biển và đại dƣơng rộng lớn để phục vụ cuộc sống của con ngƣời.
3.1.2. Tác động của CM KHKT hiện đại đến nền KT – XH thế giới
- Cách mạng KHKT đã và đang đƣa loài ngƣời chuyển sang nền văn minh mới,
“Nền văn minh hậu công nghiệp”.
- Cách mạng KHKT làm thay đổi sâu sắc phƣơng thức lao động của con ngƣời:
từ nền sản xuất nông nghiệp thủ công đến sản xuất cơ khí hóa và ngày nay là tự động
hóa quá trình hoạt động kinh tế với sự giúp đỡ của tin học.
hội, môi trƣờng đối với từng quốc gia cũng nhƣ toàn thế giới: một lƣợn lớn tài nguyên
bị khai thác, bị cạn kiệt, ô hiễm môi trƣờng, khan hiếm nƣớc sạch, suy giảm đa dạng
sinh học…. Cách mạng khoa học – kĩ thuật còn góp phần làm gia tăng sự chênh lệch
về trình độ phát triển và khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia các tầng lớp trên
thế giới….
c. Nền kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lƣợng sản xuất. Kinh tế tri
thức là nền kinh tế dựa trên chất xám, kỹ thuật và công nghệ cao. Vai trò của thông tin,
công nghệ, giáo dục đào tạo đối với năng lực nền kinh tế ngày na trở nên đặc biệt quan
trọng, vị trí của tri thức và công nghệ ngày càng cao trong các nền kinh tế phát triển.
OECD và APEC đã đƣa ra định nghĩa” Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó
sản sinh ra, truyền bá sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tang trƣởng, tạo
ra của cải, tạo ra việc làm trong tất cả các ngành kinh tế”. Định nghĩa này muốn nhấn
mạnh việc sử dụng trí thức trong tất cả các lĩnh vực kinh tế.
Chỉ tiêu đánh giá mức độ của nền kinh tế tri thức:
OECD đề xuất 4 yếu tố là đầu vào của tri thức, đầu ra của tri thức, mạng tri
thức, tri thức và học tập.
APEC đƣa ra một hệ thống chỉ tiêu cụ thể: Doanh nghiệp đổi mới (tổng chi phí
cho nghiên cứu và phát triển, số lƣợng sáng chế, doanh thu qua thƣơng mại điện tử).
Cơ sở tri thức (chỉ số HDI, số ngƣời đi học, số cán bộ nghiên cứu và phát triển/1000
dân, số thƣ viện báo chí, ti vi/1000 dân, tỷ lệ phần trăm của công nhân tri thức so với
23
tổng lao động). Cơ sở hạ tầng (số máy tính/100 dân, số điện thoại và điện thoại di
động, tỷ lệ số ngƣời nối mạng, số ngƣời sử dụng internet, thƣơng mại điện tử). Cơ cấu
kinh tế (đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài, tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển, xuất
khẩu sản phẩm công nghệ cao, giá trị kinh tế %GDP). Vai trò của chính phủ (dân chủ
công khai, thúc đẩy sáng tạo…). Trong các chỉ số trên có 2 chỉ số cơ bản nhất là tỷ lệ
công nhân tri thức và tỷ lệ giá trị của tri thức.
3.2.3. Xu hƣớng tăng cƣờng hợp tác khu vực (khu vực hóa)
Các nƣớc đều coi trọng chính sách khu vực, ƣu tiên phát triển quan hệ với các
nƣớc láng giềng, đẩy mạnh hợp tác và liên kết khu vực, nhất là về kinh tế. Khu vực
hóa chính là hƣớng chuẩn bị để tiến tới toàn cầu hóa. Khu vực hóa có nhiều mức độ
khác nhau, từ một vài nƣớc và lãnh thổ đến nhiều nƣớc tham gia vào một tổ chức khu
vực địa lý. Các tổ chức khu vực này nhằm hỗ trợ nhau phát triển, tận dụng những ƣu
thế của khu vực trong quá trình từng bƣớc tham gia nền kinh tế toàn cầu. Các nƣớc
nhỏ đẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực đồng thời có sự cân bằng với các nƣớc lớn, khai
thác mọi khả năng và những điểm đồng nhất trên từng vấn đề, từng lúc để mở rộng
hợp tác vì lợi ích của mạnh. Các nƣớc đều coi trọng chính sách khu vực, đẩy mạnh
hợp tác, liên kết Bắc – Nam, Nam – Nam.
Những năm gần đây xu hƣớng hợp tác khu vực đƣợc thúc đẩy mạnh mẽ. Đến
nay có khoảng > 120 tổ chức hợp tác khu vực với quy mô, hình thức khác nhau.
(NAFTA, EU, ASEAN, APEC, MERCOSUR…).
3.2.4. Xu hƣớng tăng cƣờng sự quốc tế hóa nền kinh tế thế giới
Ngày nay thế giới đang hình thành một thị trƣờng thống nhất bao gồm các nƣớc
có chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Thƣơng mại thế giới phát triển nhanh (WTO với
151 thành viên - năm 2007) chiếm 90% số dân chi phối 95% hoạt động thƣơng mại
thế giới có vai trò thúc đẩy thƣơng mại thế giới, làm cho kinh tế thế giới phát triển
năng động hơn.
Đầu tƣ nƣớc ngoài tăng nhanh, nổi bật là lĩnh vực dịch vụ. Thị trƣờng tài chính
quốc tế mở rộng (IMF, WB…). Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn.
3.2.5. Xu hƣớng quốc tế hóa - toàn cầu hóa ngày càng tăng
Theo tổ chức OECD: “Toàn cầu hóa như là một quá trình trong đó thị trường
và sản phẩm của các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau nhờ sự trao đổi năng
động về hành hóa, dịch vụ, tài chính và công nghệ”.
“Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt
qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế
trong sự vận động phát triển hướng tới nền kinh tế phát triển thống nhất. Sự gia tăng