ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHOA CƠ BẢN)
1
CHƯƠNG 1
Khái quát về tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Số tiết: 04 tiết ( Lý thuyết: 03 tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )
A. MỤC TIÊU
- Hiểu được vài nét lịch sử hình thành và phát triển, đối tượng, nhiệm vụ và hệ thống phương pháp
nghiên cứu và ý nghĩa của Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm.
- Vận dụng các hiểu biết về Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm vào việc giải thích các hiện
tượng tâm lí nảy sinh và thể hiện ở học sinh THCS. Vận dụng các hiểu biết về tâm lí lứa tuổi THCS
vào việc học tập nghiên cứu và vận dụng trong việc dạy học, giáo dục học sinh THCS.
-Tăng thêm lòng yêu nghề và tự hào được học tập ở trường sư phạm để trở thành giáo viên THCS.
B.NỘI DUNG
1.1.Vài nét về sự hình thành và phát triển TLHLT&SP
- Trong lịch sử các khoa học về con người, Tâm lí học trở thành một khoa học độc lập, tách
ra khỏi Triết học từ năm 1879 của thế kỉ XIX. Cũng từ đó Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư
phạm ra đời.
- Cùng với học thuyết tiến hoá, những thành tựu trong việc nghiên cứu hoạt động phản xạ
của con người do I. M. Xêtrênôv tiến hành đã khẳng định mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng
sinh lí và tâm lí, chỉ ra sự phát triển tâm lí của trẻ em gắn liền với cơ sở sinh lí thần kinh và não bộ
con người. Tư tưởng của S. Đácuyn, I. M. Xêtrênôv góp phần thúc đẩy Tâm lí học lứa tuổi và Tâm
lí học sư phạm lúc bấy giờ phát triển mạnh mẽ hơn.
- Cùng với những thành tựu đó, các công trình nghiên cứu dựa trên sự tích lũy và tổng kết
kinh nghiệm của những quan sát sự phát triển tâm lí trẻ em và tâm lí quá trình dạy học giáo dục trẻ
đã đặt cơ sở thực tiễn cho Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm lúc bấy giờ. Những nghiên cứu
thực nghiệm lúc này cũng bắt đầu thâm nhập vào Tâm lí học sư phạm và Tâm lí học trẻ em.
- Các quan điểm đúng đắn của N. K. Crupxcaia, A. X. Macarencô L. X. Vưgôtxki đã đặt cơ
sở cho việc nghiên cứu các vấn đề hình thành phát triển nhân cách trẻ em trong giáo dục và trong
hoạt động tập thể. Đặc biệt là các nhà tâm lí học như A. N. Lêônchiev, Đ. B. Encônhin, A. A.
1.2.2.1 Nhiệm vụ của tâm lý học lúa tuổi
- Chỉ ra các đặc điểm tâm lý con người được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn lứa tuổi và
trong suốt cuộc đời, những quy luật hình thành, biểu hiện tâm lý con người trong mỗi giai đoạn phát
triển tâm lý, chỉ ra các điều kiện, động lực của sự phát triển tâm lý.
- Cung cấp cơ sở tâm lý lứa tuổi cho việc vận dụng các nguyên tắc, biện pháp dạy học và giáo dục
phù hợp với đặc điểm và quy luật tâm lý lứa tuổi, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm mục đích
nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục.
- Tâm lí học lứa tuổi không những cung cấp cơ sở tâm lý cho giáo viên trong hoạt động sư phạm của
mình mà còn giúp cho giáo viên và các nhà giáo dục có phương pháp đối xử khéo léo với giaosa
viên và học sinh và tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để làm tốt vai trò người giáo viên trong sự
nghiệp trồng người.
1.2.2.2 Nhiệm vụ của tâm lý học sư phạm
- Chỉ ra các quy luật tâm lí của việc dạy học và giáo dục
- Nghiên cứu những vấn đề tâm lý của việc hình thành tri thức khoa học, hình thành và phát triển kĩ
năng, kĩ xảo và các phẩm chất nhân cách đạo đức của học sinh
- Chỉ ra cơ sở tâm lí của việc điều khiển quá trình dạy học và giáo dục, quá trình tổ chức hoạt động
của học sinh trong dạy học và giáo dục trong và ngoài nhà trường, trong giờ học và ngoài giờ học,
cũng như xây dựng được mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau, giữa gia
đình với nhà trường và các lực lượng giáo dục khác.
- Tâm lí học sư phamjnghieen cứu đặc trưng lao động sư phạm của người thầy giáo , hệ thống phẩm
chất, năng lực của người giáo viên, việc tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, năng lực nghề nghiệp
của người thầy giáo.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu TLHLT và TLHSP
1.2.31.Phương pháp quan sát
3
- Quan sát là quá trình tri giác, theo dõi có mục đích, có kế hoạch sự nảy sinh, diễn biến và thể hiện
tâm lí của trẻ qua hành vi bên ngoài trong điều kiện tự nhiên.
– Cần tổ chức việc quan sát đáp ứng các yêu cầu và các nguyên tắc cơ bản sau đây:
+ Quan sát những biểu hiện tâm lí của học sinh trong điều kiện tự nhiên của cuộc sống, nhất là trong
hoạt động vui chơi, học tập, lao động và quan hệ giao tiếp. Cần chú ý chúng ta "vừa nghiên cứu vừa
– Test đòi hỏi phải chuẩn bị công phu, đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật của một bộ test. Một bộ test
thường bao gồm 4 phần cơ bản sau: văn bản test, hướng dẫn quy trình tiến hành, cách đánh giá, bảng
chuẩn hoá.
– Cần sử dụng test tâm lí như là một trong các phương pháp chẩn đoán tâm lí con người ởmột thời
điểm nhất định.
4
Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu tâm lí người trong Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm
khá phong phú đa dạng. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Muốn
nghiên cứu một chức năng tâm lí nào đó một cách khoa học, khách quan và chính xác, đòi hỏi phải:
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quả toàn diện, khách quan.
1.2.4 Ý nghĩa của tâm lý học lúa tuổi và tâm lý học sư phạm
- Về mặt lí luận: các nghiên cứu của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm sử dụng các tài liệu
của một số khoa học khác, nhưng đến lượt mình nó lại cung cấp tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho
các khoa học khác.
- Về mặt thực tiễn: có thể khẳng định sự hiểu biết về tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm là
điều kiện cần thiết để tổ chức có hiệu quả và đúng đắn quá trình học tập và giáo dục.
C. TÀI LIỆU HỌC TẬP
[1]. Nguyễn Kế Hào(CB), Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Bộ Giáo
dục và đào tạo,Dự án đào tạo giáo viên THCS LOAN No 1718 - VIE (SF)
[2]. Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học
sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội 1997
[3]. Vũ Văn Nho, Tâm lý học phát triển. NXB ĐHQG Hà Nội 1998
[4]. Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người .NXB ĐHSP Hà Nội 2003
[5]. Lê Văn Hồng, Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội 1996
[6]. Phan Trọng Ngọ, Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn tâm lý học lúa tuổi và
tâm lý học sư phạm - NXB ĐHSP Hà Nội
[7]. Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1997
[8]. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1999
D. CÂU HỔI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
11 Nhận xét về trật tự của lớp
12 Pha trò, kể chuyện, lấy ví dụ vui nhằm
mục đích giảm bớt căng thẳng, giải quyết
tình huống xung đột
CHƯƠNG 2
Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em
Số tiết: 04 ( Lý thuyết: 03 tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )
A. MỤC TIÊU
– Hiểu rõ khái niệm trẻ em. Phân tích được các quan điểm khác nhau về sự phát triển tâm lí trẻ em.
Trình bày được sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lí trẻ em, các quy luật, điều kiện, động lực
phát triển tâm lí trẻ em.
– Trên cơ sở nắm vững quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lí trẻ em phân tích, phê
phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này. Đồng thời vận dụng lí thuyết đã học vào việc nghiên
cứu sự phát triển tâm lí học sinh THCS và tổ chức dạy học và giáo dục học sinh THCS một cách có
hiệu quả.
- Tăng thêm lòng yêu nghề. Chú ý đặc điểm tâm lí tuổi học sinh THCS, lứa tuổi dậy thì, đặt nền
móng cho sự phát triển tâm lí nhân cách ở các lứa tuổi tiếp theo.
B. NỘI DUNG
2.1. Khái niệm trẻ em và tâm lý trẻ em :
2.1.1. Thế nào là trẻ em ?
Dựa trên những quan điểm triết học rất khác nhau, người ta đã hiểu về trẻ em rất khác nhau :
- Có quan niệm cho rằng trẻ em là “ người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn
khác nhau về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm ) chỉ ở tầm cở, kích thước chứ không khác nhau
về chất.
- Theo J.J. Rútxô (1712 - 1778) : Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn cũng
không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ,nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ…vì
“Trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”.
6
- Tâm lý học duy vật biện chứng khẳng định: Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại. Sự khác
nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất. Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triển
biến về chất của các quá trình tâm lý và toàn bộ nhân cách của trẻ.
- Sự phát triển tâm lý trẻ em là một quá trình trẻ em lĩnh hội văn hoá - xã hội của loài người dưới sự
hướng dẫn, giúp đỡ của người lớn thông qua hoạt động của bản thân làm cho tâm lý của trẻ được
hình thành và phát triển. Có thể nói, sự phát triển tâm lý là một quá trình kế thừa. Bất cứ một mức
độ nào của trình độ trước cũng là sự chuẩn bị cho trình độ sau. Yếu tố tâm lý lúc đầu ở vị trí thứ yếu,
chuẩn bị cho tâm lý sau chuyển sang vị trí chủ yếu.
Trẻ em không tự lớn lên giữa môi trường, nó chỉ lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội khi có vai
trò trung gian của người lớn. Người lớn chỉ bảo cho trẻ rất nhiều điều, từ tên các đồ vật đến cách
hành động với các đồ vật…
7
- Sự phát triển thể hiện ở hai hình thái:
+ Sự phát triển về sinh lí :
Thể hiện ở sự phát triển về cơ thể, ở sức chịu đựng, chống đỡ với những ảnh hưởng bên ngoài của
cơ thể, ở sự hình thành và phát triển hệ thống cơ, xương, thần kinh và sự hoàn thiện các chức năng
của hệ thống đó.
+ Sự phát triển về tâm lý - xã hội:
Thể hiện ở sự hình thành nên con người với tư cách là một thành viên của xã hội, tích cực tham gia
cải tạo xã hội, thể hiện:
Ở sự nhận thức thế giới: nhận thức của trẻ ngày càng phát triển cao hơn, sâu sắc hơn, từ nhận thức
cảm tính phát triển lên nhận thức lý tính
Ở thái độ đối với thế giới xung quanh, ở ý chí, nhu cầu, nếp sống, thói quen
Ở sự tích cực, tự giác tham gia vào các mặt khác nhau trong đời sống xã hội.
Ở hoạt động cải tạo thế giới và cải tạo bản thân.
Tóm lại :
- Sự phát triển của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng, là một quá trình liên tục ngay
từ khi mới sinh ra, nó phát triển cùng với sự phát triển sinh lý. Quá trình này không phẳng lặng mà
có khủng hoảng và đột biến. Chính hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm
lí của trẻ được hình thành và phát triển. Đồng thời, các nhà tâm lí duy vật biện chứng cũng thừa
nhận rằng, sự phát triển tâm lí chỉ có thể xảy ra trên nền của một cơ sở vật chất nhất định (cơ thể trẻ
em). Những đặc điểm cơ thể là điều kiện cần thiết, là tiền đề của sự phát triển tâm lí trẻ em. Sự phát
+ Tuy nhiên, có những người theo thuyết này có đề cập đến yếu tố môi trường. Nhưng theo họ,
mmôi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh“, “yếu tố thể hiện“ một nhân tố bất niến nào đó ở trẻ.
Ví dụ:Nhà tâm lý học Mỹ E. Tóocđai cho rằng : “Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất nhất
định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất“
và “vốn tự nhiên“ đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ ra không
đạt được kết quả nào đó “dù giảng dạy tốt“,số khác lại tỏ ra lại có thành tích “dù giảng dạy tồi” )
+ Từ quan điểm này làm cho con người mất lòng tin vào giáo dục, vào sự tu dưỡng và cải tạo bản
thân, họ cho rằng vai trò của giáo dục là thứ yếu, trẻ tốt hay xấu.học giỏi hay kém không phải do
giáo dục mà do gien tốt hay xấu. Từ đó, họ đi đến kết luận : Trẻ em khó bảo, năng lực trí tuệ kém
phát triển là do bẩm sinh chứ không phải do giáo dục,do môi trường.
- Như vậy, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp. Giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài có khả năng làm tăng
nhanh hay kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền. Và họ
đã rút ra kết luận sai sư phạm lầm: mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều là
sự tùy tiện, không thể tha thứ.
2.2.2 . Thuyết hoàn cảnh
Đối lập với thuyết tiền định, thuyết duy cảm giải thích sự phát triển của trẻ chỉ bằng những tác động
của môi trường xung quanh. Theo các tác giả thuộc trường phái này thì :
- Môi trường là nhân tố tiền định sự phát triển của tẻ em. Vì thế, họ cho rằng, muốn nghiên cứu con
người chỉ cần nghiên cứu, phân tích môi trường mà con người sống.
- Quan điểm này cho rằng : môi trường xã hội là cái bất biến, quyết định trước sự phát triển tâm lý
cá nhân, còn con người được xem như là đối tượng thụ động trước ảnh hưởng của môi trường.
- Mọi người sinh ra đều có sẳn những đặc điểm bẩm sinh như nhau để phát triển trí tuệ và đạo đức.
Sự khác nhau giữa các cá nhân về điểm này hay khác là do ảnh hưởng của môi trường, ảnh hưởng
của những tác động khác nhau.
Với quan niệm như vậy, chúng ta không thể giải thích được vì sao trong một môi trường sống như
nhau lại có những nhân cách khác nhau.
2.2.3.Thuyết hội tụ hai yếu tố :
Những người theo quan điểm này cho rằng:
- Sự tác động qua lại giữa hai yếu tố di truyền và môi trường quyết định trực tiếp quá trình phát
triển, trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biêns những đặc điểm
hoàn cảnh ( ảnh hưởng bên ngoài tác động gián tiếp đến sự phát triển tâm lí cá nhân)
- Trong các nhân tố của cuộc sống, trước hết phải nói tới vai trò của vốn kinh nghiệm xã hội, nền
văn hoá xã hội, các mối quan hệ xã hội. Các Mác đã chỉ rõ: "… Bản chất của con người là sự tổng
hoà các mối quan hệ xã hội". Đặc điểm tâm lí của cá nhân được quyết định bởi đặc điểm của các
mối quan hệ xã hội mà cá nhân con người gia nhập vào đó với tư cách là thành viên của xã hội.
- Quá trình phát triển tâm lí là quá trình con người lĩnh hội nền văn hoá xã hội, vốn kinh nghiệm xã
hội, quá trình con người tiếp nhận nền văn hoá theo con đường tự phát và tự giác, con đường tự giác
được thể qua giáo dục.
- Giáo dục là nhân tố chủ đạo, quyết định sự phát triển tâm lý con người.
2.3.1.3Tính tích cực của con người
Tính tích cực của con người là nhân tố quyết định trực tiếp sự phát triển tâm lí. Quá trình tác động
qua lại giữa con người và môi trường thông qua hoạt động của con người trong môi trường đó. Hoạt
10
động của con người có tính mục đích, tính xã hội được xem là điều kiện quyết định sự phát triển tâm
lí.
2.3.2 .Động lực của sự phát triển tâm lí
- Sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa các mâu thuẫn bên trong. động lực của sự
phát triển là sự nảy sinh các mâu thuẫn và việc giải quyết các mâu thuẫn đó.
- Trong sự phát triển tâm lí của trẻ em thì đó là:
+ Các mâu thuẫn biện chứng giữa cái mới và cái cũ – những cái đang được nảy sinh, đang được
khắc phục trong quá trình dạy học và giáo dục;
+ Mâu thuẫn giữa nhu cầu mới nảy sinh do hoạt động và khả năng thoả mãn chúng;
+ Mâu thuẫn giữa khả năng của trẻ đang được phát triển với những hình thức cũ của các mối quan
hệ đã được hình thành và các hình thức hoạt động cũ;
+ Giữa những yêu cầu ngày càng tăng của xã hội, của tập thể, của người lớn với trình độ phát triển
tâm lí hiện tại của trẻ v.v…
- Việc nảy sinh các mâu thuẫn và việc trẻ em tích cực giải quyết các mâu thuẫn đó dưới sự hướng
dẫn của người lớn làm cho tâm lí của trẻ được hình thành và phát triển. Tất nhiên, sự phát triển tâm
lí của trẻ không phẳng lặng mà đầy biến động, trong đó có những cuộc "khủng hoảng" và "đột biến"
tạo ra sự nhảy vọt về chất trong sự phát triển tâm lí của trẻ (Ví Dụ : Khủng hoảng ở lứa tuổi lên ba, ở
triển mạnh hơn để bù đắp Ví dụ: Khuyết tật thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ hoạt
động của thính giác, hoặc khứu giác; Trí nhớ kém được bù đắp bằng tính tổ chức cao,chính xác
Trên đây là một số luật cơ bản của sự phát triển tâm lí trẻ em. Sự phát triển tâm lí của trẻ không
tuân theo quy luật sinh học mà theo quy luật xã hội. Nắm được các qui luật nói trên, người lớn và
nhà giáo dục tạo điều kiện tốt cho sự phát triển tâm lý của trẻ.
2.4. Phát triển và dạy học
- Quan điểm cho rằng dạy học có tác dụng phát triển học sinh đã được thể hiện ở nhiều nhà giáo dục
kiệt xuất như J.J. Rútxô, I.G.Pextalôzi, chẳng hạn K.Đ.Usinxki cho rằng có hai tác động đến sự phát
triển trí tuệ của học sinh:
+ Một là : Qua quá trình thu nhận tri thức mà trí tuệ được rèn luyện
+ Hai là : Hướng nhiều hơn vào chính bản thân sự phát triển, học sinh phải lĩnh hội một tài liệu học
tập nhất định. Con đường này dẫn đến hình thành tư duy logich.
- Trong quan điểm về mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ có nhiều quan điểm khác
nhau nhưng tựu trung lại có ba loại quan điểm cơ bản sau đây:
+ Phát triển trí tuệ là một quá trình độc lập, có quy luật riêng, không phụ thuộc dạy hoc ( J. Piaget,
Jemx…)
+ Sự phát triển trí tuệ là kết quả tác động của nhiều yếu tố. Dạy học có vai trò điều chỉnh mối quan
hệ giữa các chức năng tâm lí ( B.G.Ananhiev )
+ Dạy học là hình thức tất yếu bên trong và chung nhấ, quyết định sự phát triển trí tuệ. Sự phát triển
trí tuệ là quá trình cơ bản có bản chất xã hội và lịch sử ( L.X.Vưgotxki, A.N.Lêônchiev…)
- Quan điểm của Vugotxki
+ Sự phát triển tâm lí con người mang bản chất xã hội. Sự phát triển đó không chỉ quy vào việc nắm
tri thức, kĩ năng và sự phát triển diễn ra trong quá trình dạy học mà còn đem lại những đặc điểm mới
và cấu tạo lại các chức năng tâm lí.
- Đặc điểm nổi bật của tuổi đi học là xuất hiện và phát triển tính ý thức, tính có chủ định của các quá
trình tâm lí đang xuất hiện và phát triển
+ Dạy học và giáo dục đi trước sự phát triển, phát triển vừa là kết quả, vừa là chức năng của dạy học
và giáo dục. Dạy học phải hướng vào vùng phát triển trí tuệ gần nhất, hướng vào sự hình thành
những cấu tạo tâm lí mới sẽ có ở người học. tuy nhiên, tác giả không chỉ rõ giữa dạy học và phát
triển có mối quan hệ chặt chẽ, mặt khác cũng không hề bỏ qua quy luật nội tại của bản thân sự phát
+ A.N.Leonchiev chỉ ra rằng: Sự phát triển tâm lí con người gắn liền với sự phát triển hoạt động,
trong đó hoạt động chủ đạo ở mỗi giai đoạn lứa tuổi có tính chất quyết định.
+ Lứa tuổi chỉ có ý nghĩa như một yếu tố thời giantrong quá trình phát triển của trẻ. Tuổi không
quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách. Những đặc điểm lứa tuổi là đặc điểm chung, đặc trưng
điển hình cho lứa tuổi đó, nói lên xu hướng phát triển chung. Lứa tuổi không phải là phạm trù tuyệt
đối, bất biến. Giai đoạn lúa tuổi chỉ có ý nghĩa tương đối. Tuổi có thể phù hợp với trình độ phat triển
của trẻ có thể đi trước hoặc chậm hơn sự phát triển. Dạy học phải hướng trẻ vào vùng phát triển gần
nhất của trẻ, giúp trẻ phát đạt được mức độ phát triển cao hơn.
2.5.2 Các giai đoạn phát triển tâm lí.
2.5.2.1 Theo sự phat strieenr tư duy của trẻ từ lúc sinh ra đến lúc tuổi thiếu niên
J.Piaget đã chia sự phát triển của trẻ thành 4 giai đoạn
- Giai đoạn cảm giác vận động ( Giác động) : Từ lúc sinh ra đến 2 tuổi
- Giai đoạn tư duy tiền thao tác : 2 đén 7 tuổi
- Giai đoạn thao tác cụ thể : Từ 7,8 tuổi đến 11,12 tuổi.
- Giai đoạn thao tác hình thức : 11,12 tuổi đến 14,15 tuổi.
2.5.2.2 Căn cứ vào những thay đổi trong cấu trúc tâm lí của con người, sự trưởng thành về cơ thể,
những thay đổi cơ bản trong điều kiện sống và hoạt động của con người.
a. Giai đoạn sơ sinh và hài nhi ( 0-1 tuổi)
13
Tuổi sơ sinh : thời kì 2 tháng đầu
Tuổi hài nhi : từ 2 - 12 tháng
b. Giai đoạn trước tuổi học ( 1 đến 6 tuổi ) gồm
Tuổi nhà trẻ : từ 1 - 3 năm
Tuổi mẫu giáo : từ 3 - 6 năm
c. Giai đoạn tuổi đi học gồm:
Thời kì học sinh tiểu học : từ 6 tuổi - 11 tuổi
Thời kì học sinh trung học cở sở : từ 11 tuổi - 15 tuổi
Thời kì học sinh trung học phổ thông : từ 15 tuổi - 18 tuổi
d. Giai đoạn tuổi trưởng thành ( 24,25 đến 45,50 tuổi)
e. Giai đoạn người có tuổi ( từ 50,55 tuổi trở đi )
14
- Bài tập 3:
Tính kế thừa trong quá trình phát triển tâm lí được thể hiện ở:
a. sự kế thừa nền văn hoá xã hội.
b. sự kế thừa những cấu trúc tâm lí từ thế hệ trước thông qua di truyền.
c. tính kế tục giữa các giai đoạn phát triển.
d. cả a và c.
CHƯƠNG 3
Đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở
Số tiết: 06 ( Lý thuyết: 0 5tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )
A.MỤC TIÊU
– Hiểu rõ khái niệm tuổi thiếu niên. Nắm được những đặc điểm về giải phẫu sinh lý; đặc điểm hoạt
động học; đặc điểm giao tiếp; đặc điểm nhận thức; đặc điểm nhân cáchđặc điểm tâm lý của học sinh
THCS
– Vận dụng các hiểu biết về đặc điểm tâm lý của học sinh THCS vào việc tổ chức dạy học và giáo
dục học sinh THCS.
-Tăng thêm lòng yêu nghề. Chú ý đặc điểm tâm lí tuổi học sinh THCS, lứa tuổi dậy thì, đặt nền
móng cho sự phát triển tâm lí nhân cách ở các lứa tuổi tiếp theo.
B. NỘI DUNG
3.1 .Khái niệm tuổi thiếu niên:
- Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của đời người, giai đoạn giữa tuổi nhi đồng ( học sinh tiểu
học ) và tuổi thanh niên ( học sinh trung học phổ thông ). Trẻ tuổi thiếu niên có độ tuổi từ 11 - 15
tuổi học từ lớp 6 - 9. Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển
của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng
những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị “
- Khái niệm tuổi thiếu niên hay tuổi học sinh THCS không thể diễn tả bằng định nghĩa ngắn ngọn,
mà nên xem xét tiếp cận nó qua các nội dung được trình bày dưới đây.
3.2. Những đặc điểm của học sinh trung học cơ sở
3.2.1. Đặc điểm về mặt giải phẫu sinh lí
- Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân đối:
+ Biểu hiện bên ngoài chủ yếu của sự chín muồi của các cơ quan sinh dục ở các em trai là sự xuất
tinh, ở các em gái là hiện tượng thấy kinh. Tuổi dậy thì của các em nữ thường vào khoảng 12 - 14
tuổi, các em nam bắt đầu và kết thúc chậm hơn các em gái khoảng 1,5 - 2 năm. Hiện nay, do điều
kiện sống có nhiều thay đổi nên trẻ em có sự phát triển nhan về mặt thể chất và sự phát dục. Đến 15-
16 tuổi , giai đoạn phát dục kết thúc thì các em có khả năng sinh sản được, tuy nhiên các em chưa
có sự trưởng thành về mặt cơ thể, đặc biệt là sự trưởng thành về mặt xã hội nên các em chưa thể trở
thành người cha người mẹ theo đúng nghĩa.
Sự phát dục cùng với những chuyển biến trong sự phát triển cơ thể của thiếu niên có một ý nghĩa
không nhỏ trong sự nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới : Cảm giác về tính người lớn thực sự của
mình ; cảm giác về tình cảm giới tính mới lạ, quan tâm tới người khác giới.
3.2.2. Đăc điểm của hoạt động học
- Hoạt động học của học sinh THCS được hiểu là hoạt động tự giác nhằm lĩnh hội kiến thức, hình
thành kĩ năng và thái độ tương ứng, tạo lập những phẩm chất nhân cách đang hình thành, đang phát
triển
- Học tập ở học sinh THCS vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng vào tuổi thiếu niên, việc học tập của các
em có những thay đổi cơ bản so với học sinh tiểu học
+ Hoạt động học của học sinh THCS phong phú hơn, hoàn thiện hơn so với học sinh tiểu học
16
+ Hoạt động học diễn ra theo phương thức Học – Hành. Học và hành gắn với nhau, học phải hành,
qua hành sẽ học được điều cần học.
+ THCS là bậc học có tính lí luận gắn với thực hành theo từng môn học có tính chuyên sâu. Nhờ vậy
mà qua hoạt động học, từng bước học sinh có được khái niệm khoa học và bước đầu hiểu được về
tính quy luật của các hiện tượng, các sự vật, bước đầu hình thành được các chuẩn mực về tự nhien,
xã hội và con người.
+ Mục tiêu giáo dục THCS là mục tiêu kép, nghĩa là học hết THCS học sinh có thể tiếp tục phát
triển theo các con đường khác nhau. Có thể học tiếp lên bậc học THPT hoặc đi vào học nghề, một
bộ phận nhỏ đi vào lao động trong xã hội.
3.3 Đặc điểm giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, quan hệ bầu bạn của học sinh THCS
- Hoạt đọng giao tiếp và hoạt động học tập là hai hoạt dộng chủ đạo của học sinh THCS
- giao tiếp của học sinh THCS nói riêng và giao tiếp của con người nói chung là sự tiếp xúc tâm lí
- Mức độ tự ý thức của các em cũng có sự khác nhau:
+ Về nội dung, không phải tất cả những phẩm chất của nhân cách đều ý thức được hết. Ban đầu các
em chỉ nhận thức hành vi của mình, sau đó là nhận thức những phẩm chất đạo đức, tính cách và
nằng lực của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng các em mới nhận thức những phẩm
chất phức tạp thể hiện nhiều mặt của nhân cách (tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng…).
+ Về cách thức, ban đầu các em còn dựa vào đánh giá của những người gần gũi và có uy tín với
mình. Dần dần các em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá bản thân. Nhưng khả
năng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa đủ khách quan…Do đó, nảy sinh những xung đột,
mâu thuẫn giữa mức độ kì vọng của các em với địa vị thực tế của chúng trong tập thể; mâu thuẫn
giữa thái độ của các em đối với bản thân, đối với những phẩm chất nhân cách của mình và thái độ
của các em đối với người lớn, đối với bạn bè cùng lứa tuổi.
- Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này cuộc sống tập thể của các em, nơi mà
nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự
đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em… cũng
đồng thời giúp cho sự phát triển về mặc tự ý thức của các em.
-Việc nhận thức về mình còn thông qua việc đối chiếu so sánh mình với người khác. Nhưng khi
đánh giá người khác, các em còn chủ quan, nông cạn, nhiều khi chỉ dựa vào một vài hình tuợng
không rõ ràng các em đã vội kết luận hoặc chỉ chú ý vào một vài phẩm chất nào đó mà quy kết toàn
bộ. Vì thế, người lớn rất dễ mà cũng rất khó gây uy tín với thiếu niên. Và khi đã có kết luận đánh giá
về một người nào đó, các em thường có ấn tượng dai dẳng, sâu sắc.
- Sự phát triển tự ý thức của thiếu niên có ý nghĩa lớn lao ở chỗ, nó thúc đẩy các em bước vào một
giai đoạn mới. Kể từ tuổi thiếu niên trở đi, khả năng tự giáo dục của các em được phát triển, các em
không chỉ là khách thể của quá trình giáo dục mà còn đồng thời là chủ thể của quá trình này.
-Ở nhiều em, tự giáo dục còn chưa có hệ thống, chưa có kế hoạch, các em còn lúng túng trong việc
lựa chọn biện pháp tự giáo dục. Vì vậy, nhà giáo dục cần tổ chức cuộc sống và hoạt động tập thể
phong phú, hấp dẫn, lôi cuốn các em vào hoạt động chung của tập thể, tổ chức tốt mối quan hệ giữa
người lớn và các em…
3.5.2. Sự hình thành tình cảm của học sinh trung học cơ sở:
Tình cảm của học sinh trung học cơ sở sâu sắc và phức tạp hơn các em học sinh tiểu học:
- Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang
tâm lý học sư phạm - NXB ĐHSP Hà Nội
[7]. Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1997
[8]. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1999
D.CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1. Câu hỏi
- Nêu một vài đặc điểm nổi bật về tâm lí và sinh lí của học sinh THCS ?
- Dựa vào đâu mà nhiều nhà khoa học nói rằng : “ Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi chuyển từ trẻ
con sang người lớn”.
- Đặc điểm tình cảm của học sinh THCS?
- Tại sao nói, nhân cách của học sinh THCS là nhân cách đang hình thành ?
2. Bài tập
Bài tập 1: “Con Hà nhà tôi đã 13 tuổi rồi, chân tay thì dài ngoẵng ra mà làm gì thì “hậu đậu” ơi
là “hậu đậu”: Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu”- một bà mẹ than thở. “Ồ, thế thì giống
hệt con Thúy nhà tôi, nó học cùng lớp với con Hà đấy”. Mẹ Thúy hưởng ứng”.
Những lời phàn nàn trên của hai bà mẹ là vì:
a) Tính cách cá nhân của lứa tuổi thiếu niên.
b) Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của lứa tuổi thiếu niên.
c) Sự phát triển cơ thể thiếu cân đối, hài hòa của thiếu niên.
d) Hành vi chống đối người lớn.
Bài tập 2: Hãy ghép các nguyên nhân (cột I) với các biểu hiện tâm lý biểu hiện tương ứng của lứa
tuổi thiếu niên (cột II):
1
Cột I
Hệ tim mạch phát a.
Cột II
Tuổi thiếu niên được ví như một xứ sở kỳ lạ: “Dân cư vùng này khi
19
.
2.
3
đánh giá, các giai đoạn của sự phát triển trí tuệ; chỉ ra được mối quan hệ giữa dạy học và sự phát
triển trí tuệ.
– Vận dụng được các hiểu biết về hoạt động dạy và bản chất tâm lí học của quá trình lĩnh hội khái
niệm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo vào việc tổ chức hoạt động học cho học sinh THCS. Đưa ra được
các kết luận sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phát triển cho học sinh THCS.
– Có hứng thú đối với việc tìm hiểu hoạt động dạy học của người giáo viên THCS.
Tích cực vận dụng những hiểu biết về hoạt động dạy học vào việc học tập và rèn luyện tay nghề
trong trường sư phạm.
B. NỘI DUNG
4.1.Bản chất của hoạt động dạy và học
4.1.1.Hoạt động dạy
- Hoạt động dạy là hoạt động của giáo viên có đối tượng là học sinh với hoạt động học của các em.
Bằng hoạt động dạy, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt động học, tổ chức cho học sinh
chiếm lĩnh ( lĩnh hội) nội dung học tập, nói cách khác là học sinh lĩnh hội đối tượng học tập nhờ có
sự giúp đỡ, dẫn dắt của giáo viện.
- Khái niệm tổ chức trong hoạt động dạy của người giáo viên là đưa học sinh vào quá trình thực hiện
các hành động học bằng hệ thống thao tác xác định thông qua những việc cụ thể như sau:
+ Đưa ra mục đích yêu cầu, nghĩa là xác định sản phẩm học tập và tiêu chuẩn ( Mẫu) của sản phẩm
đó, thường gọi là yêu cầu về kiến thức, kĩ năng , thái độ đối với mỗi tiết học, mỗi bài học…
20
+ Cung cấp phương tiện, điều kiện để học sinh thực hiện hoạt động học. Đó chính là học liệu bao
gồm sách, vở , giấy, bút…phù hợp với nội dung dạy học.
+ Vạch ra trình tự thực hiện các hành động, thao tác, quy trình và những quy định chặt chẽ phải tuân
theo khi thực hiện các hành động, các thao tác theo quy trình đó.
+ Chỉ dẫn học sinh làm theo quy trình, quy phạm. Đông thời giáo viên theo dõi, giúp đỡ trong
trường hợp học sinh gặp khó khăn
+ Đánh giá và hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình
Đó là 5 bước chính của quá trình thực hiện hoạt động dạy cụ thể của giáo viên. Trên thực tế, không
phải môn học nào, tiết học nào cũng diễn ra như vậy, tùy thuộc vào nội dung, phương tiện cụ thể,
hoạt động dạy của người giáo viên tiến hành theo những phương pháp khác nhau.
- Học theo phương pháp nhà trường: Được tổ chức tự giác từ Nhà nước và xã hội, được thực hiện
21
trong trường học.
- Học theo phương pháp tự học: Phương pháp này đòi hỏi người học phải có tính độc lập, kiên trì rất
cao.
Trong hoàn cảnh thích hợp thì tự học kết hợp với học theo phương pháp nhà trường là phương thức
học tập hữu hiệu dành cho người đang công tác, đang làm việc, những người có trình độ phổ cập
THCS trở nên.
4.1.2.2. Bản chất của hoạt động học:
-Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó.
-Hoạt động học là hoạt động hướng vào sự thay đổi chính mình.
- Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo.Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới mà
còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động (phương pháp giành tri
thức- cách học)
- Nội dung của hoạt động học chính là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh: Lafheej thống tri thức,
hệ thống kĩ năng kĩ xảo thuộc các môn học.
-Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh.
4.1.2.3 Sự hình thành hoạt động học:
a. Sự hình thành động cơ học tập:
-Hoạt động được thúc đẩy bởi những động cơ xác định và diễn ra trong một tình huống xác định.
-Động cơ hoạt động của học sinh được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học (tức là những tri
thức kỹ năng, kỹ xảo, thái độ mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ).
-Có hai loại động cơ: Động cơ hoàn thiện tri thức; Động cơ quan hệ xã hội.
+ Động cơ hoàn thiện tri thức: Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức, nó
đòi hỏi phải có sự khắc phục khó khăn và những lỗ lực của ý
chí ->học sinh có lòng khát khao mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết, say mê trong quá
trình giải quyết các nhiệm vụ học tập.
=> Đặc điểm của động cơ này là không chứa đựng những xung đột bên trong; chủ thể không có
những căng thẳng tâm lý; là loại động cơ tối ưu theo quan điểm sư phạm.
- Hành động mô hình hóa:
Giúp con người diễn đạt lôgic khái niệm một cách trực quan dưới dạng mô hình và kí hiệu .Trong
dạy học có thể dùng các loại mô hình hóa sau :
+Mô hình hóa gần giống vật thật:
Ở mô hình hóa này tính trực quan cao. Nhờ loại mô hình này học sinh có thể theo dõi toàn bộ qua
trình hành động, vị trí của các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau
+Mô hình hóa tượng trưng: Có tính trừu tượng cao, mô hình gần giống vật thật.
Những cái không bản chất , không cần thiết được loại bỏ chỉ giữ lại những cái tinh túy nhất của đối
tượng và được mô tả lại một cách trực quan.
Vd: Dùng sơ đồ đoạn thẳng để mô tả quan hệ toán học trong một đầu đề toán.
+Mô hình “mã hóa”: Mô hình mã hóa hoàn toàn có tính chất quy ước diễn đạt một cách thuần khiết
lôgic của khái niệm là những công thức hoặc kí hiệu.
Vd: Công thức tính S▲=1/2a.h
Công thức tính S= a2
Trong loại mô hình này hầu như không có yếu tố trực quan, chỉ có mối quan hệ lôgic thuần khiết ->
đòi hỏi phải có sự hoạt động của trí óc, phải có tư duy trìu tượng. Đây là việc cần thiết trong hoạt
động dạy học -> phát triển trí tuệ của học sinh .
- Hành động cụ thể hóa: Giúp học sinh vậ dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyết
những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực.Hoạt động mô hình hóa giúp chúng ta diễn đạt mối
quan hệ tổng quát hình thức trực quan. Hoạt động phân tích giúp chúng ta phát hiện mối quan hệ
tổng quát. Hoạt động cụ thể hóa là hành động để đạt tới cái cụ thể (đi từ nhận thức tổng quát , trìu
tượng để đến cái cụ thể ).
- Hành động kiểm tra và đánh giá: Hành động này có chức năng định hướng và điều chỉnh hành
động của học sinh . hành động này, cũng có thể tạo nên động lực học tập cho học sinh,. Vì thế yêu
cầu hành động này phải được tiến hành một cách khoa học, khách quan và chính xác cao.
23
4.2.Sự lĩnh hội khái niệm
4.2.1. Khái niệm về khái niệm
- Khái niệm khoa học:
Khái niệm khoa học là một trong những hình thức phản ánh thế giới vào tư duy con người, nhờ đó
gốc xuất phát của khái niệm là ở đồ vật, nơi mà con người đã‘ gửi” năng lực của mình, bây giờ
muốn có khái niệm ấy thì phải lấy lại những năng lực đã được “gửi” vào đó. Cách “lấy lại” đó phải
có những hành động tương ứng để hình thành khái niệm.
4.2.3. Dạy cho học sinh lĩnh hội khái niệm một cách vững chắc
-Để học sinh lĩnh hội vững chắc khái niệm, giáo viên tổ chức hoạt động học của các em theo 3 công
đoạn chính: Hình thành-> Luyện tập-> Sử dụng.Mỗi công đoạn được thực hiện như sau:
24
4.2.3.1Tổ chức công đoạn hình thành -> nhằm giúp học sinh bước đầu lĩnh hội khái niệm, hay kiến
thức cơ bản của bài học. gồm 2 bước
4.2.3.2 Tổ chức cho học sinh thực hiện công đoạn luyện tập: Bằng cách dùng phương pháp chung
đươc hình thành trong giải quyết bài toán trên để giải quyết những bài toán phong phú, đa dạng,
cùng thể loại. ( Bài tập cũng chính là những tình huống sư phạm được tạo nê từ những mục đích và
phương tiện, phương tiện tương ứng…)
4.2.3.3 Yêu cầu học sinh sử dụng kiến thức và kỹ năng đã học
Yêu cầu học sinh sử dụng cả “ Cái” và “ cách” đã học được để ứng xử một cách có học trong cuộc
sống hàng ngày.
4.3.Sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo học tập
4.3.1. Các kĩ năng, kĩ xảo học tập:
- Kĩ năng : Là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết nhiệm vụ mới.
- Kĩ năng học tập: Là khả năng vận dụng có kết quả những kiến thức về phương thức thực hiện các
hành động học tập đã được học sinh lĩnh hội để giải quyết nhiệm vụ mới.
- Kĩ xảo: Trong chuỗi hành động học của học sinh, có những khâu, những phần không có hoặc ít có
sự tham gia của ý thức, đó chính là kĩ xảo. Kĩ xảo là hành động đã được củng cố và tự động hóa.
4.3.2.Hình thành kĩ năng, kĩ xảo trong dạy học
- Hình thành kĩ năng cho học sinh thực chất là làm cho các em nắm vững hệ thống các thao tác học
tập cụ thể, tương ứng với nội dung họ tập xác định. Để hình thành kĩ năng cho học sinh, trước hết,
giáo viên dạy cho các em có kiến thức, sau đó tổ chức cho các em luyện tập.
- Để hình thành kĩ xảo cho học sinh thì giáo viên phải hướng dẫn, yêu cầu các em luyện tập nhiều,
đến độ nào đó thì kĩ năng sẽ chuyển thành kĩ xảo.
4.4.Dạy học và phát triển trí tuệ