www.sangkienkinhnghiem.com
Phần một: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, làm văn nghị luận luôn là phần
khó bởi đặc trưng là yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức tổng hợp để tạo văn bản
nghị luận. Đặc biệt là dạng bài: Nghị luận văn học. Hơn nữa đối tượng học sinh của
Trung tâm Giáo dục thường xuyên, chất lượng đầu vào thấp, kĩ năng tạo lập văn bản
hạn chế, thậm chí không có khả năng viết được một văn bản hoàn chỉnh, bố cục hợp
lí, cấu trúc rõ ràng. Tóm lại, phần đa học sinh không biết viết bài văn nghị luận nói
chung và bài văn nghị luận văn học nói riêng. Học sinh hiểu biết và cảm nhận tác
phẩm văn học đã là khó, nhưng để vận dụng kiến thức văn học vào viết một bài văn
nghị luận văn học lại càng khó hơn. Bởi kĩ năng cảm thụ và phân tích tác phẩm văn
học của các em rất hạn chế.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học ở học
sinh Trung tâm GDTX là việc làm thường xuyên, nếu giáo viên có ý thức rèn luyện
ở mỗi tiết dạy, bài dạy thì sẽ có tính hiệu quả nâng cao chất lượng giáo dục .
Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009, việc dạy học đối với trung học phổ thông,
trung tâm GDTX trên cả nước được thống nhất thực hiện theo chương trình chuẩn,
sách giáo khoa mới thì phần làm văn càng được quan tâm. Trong khung cấu trúc đề
thi môn Ngữ văn tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông và tuyển sinh vào Đại học,
Cao đẳng đều có câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức về văn bản văn học để viết bài
văn nghị luận văn học với mức 5/10 điểm. Vì vậy học sinh cần chuẩn bị cả về kiến
thức và kĩ năng để có thể làm tốt câu hỏi này trong hai kì thi quan trọng sắp tới.
Để giúp học sinh ở trung tâm GDTX làm tốt dạng bài nghị luận văn học
là một vấn đề đặt ra cho giáo viên dạy Ngữ văn nói chung và dạy Ngữ văn lớp
12 nói riêng. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn của Trung tâm ,tôi
luôn trăn trở : làm thế nào để giúp các em có thể chủ động tiếp cận, tổng hợp
kiến thức để làm tốt bài văn nghị luận về vấn đề văn học rồi tiến hành tìm tòi,
sáng tạo, kiên nhẫn thực nghiệm và có kết quả, tôi đã thực nghiệm đề tài: “Một
vài kinh nghiệm rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12
trung tâm giáo dục thường xuyên ”.
thế giới”. Văn bản đồng thời yêu cầu: “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
phải quán triệt về mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc
học, cấp học quy định trong giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế của chương
trình, sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học,
coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh.....”.
Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là đổi mới sách
giáo khoa phổ thông phù hợp với mục tiêu giáo dục quy định trong luật giáo
dục. Sách giáo khoa Ngữ văn 12 đã quan tâm đúng mức đến việc “dạy chữ” và
“dạy người”, dành thời lượng đáng kể cho làm văn Nghị luận văn học.
Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi
mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định
trong Nghị quyết trung ương 4 khóa VII (Tháng 01 năm 1993), Nghị quyết trung
ương 2 khóa VIII (Tháng 12 năm 1996) được thể chế hóa trong luật giáo dục
(2005) được cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là chỉ thị
số 14 (Tháng 4 năm 1999). Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
2
www.sangkienkinhnghiem.com
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Quán triệt thực hiện nghị quyết 37/2004/ QH11 ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Quốc hội về giáo dục “Tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng
gọn nhẹ, hiệu quả, thiết thực”. Ngành giáo dục và đào tạo chủ trương: Nâng cao
chất lượng thi cử, kiểm tra đánh giá để đảm bảo đây là khâu quan trọng tác
động tích cực mạnh mẽ trong quá trình dạy và học, phải đồng thời vừa đổi mới
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
(Tây Tiến - Quang Dũng)
Học sinh viết: "Đoàn quân Tây Tiến của Quang Dũng có hình dáng kì lạ,
bị sốt rét rụng hết tóc, da xanh như tàu lá chuối nhưng vẫn sáng ngời một vẻ
đẹp như dáng dữ dằn của những con hổ trong rừng sâu khiến kẻ thù phải khiếp
sợ. Mặc dù gian khổ nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời vẫn mơ màng gửi giấc mơ
về Hà Nội, mơ về những cô gái đẹp ở Hà Nội. Mặc dù cái chết luôn đe dọa,rình
rập, những nấm mồ vô danh nơi biên giới xa xôi cũng không làm những người
4
www.sangkienkinhnghiem.com
lính Tây Tiến chùn bước. Họ vẫn đi không tiếc tuổi xuân,vẫn coi cái chết nhẹ
như lông hồng......"
(Bài viết của học sinh Nguyễn Văn Tuấn- Năm học 2012 - 2013)
* Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: học sinh thường sa vào
kể lể tác phẩm.
Ví dụ: Bài viết số 5 - Nghị luận văn học
Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A
Phủ của Tô Hoài.
Học sinh viết: " Vợ chồng A Phủ kể về số phận bất hạnh của cô Mị. Mị là
một cô gái Hmông trẻ trung xinh đẹp, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà
thống lí Pá Tra.Ở nhà thống lí Pá Tra đêm nào Mị cũng khóc rồi Mị cầm nắm lá
ngón về khóc lóc với cha định chết. Cha Mị nói "Mày về chào tao mà đi chết à?.
Không được đâu. Mày chết rồi ai trả nợ cho tao...." Thế là Mị không dám chết
nữa, Mị lại quay trở về nhà Thống lí. Mấy năm sau bố Mị chết Mị cũng không
buồn chết nữa, sống lâu trong cái khổ Mị cũng quen rồi. Mị lùi lũi như con rùa
nuôi trong xó cửa, đêm tình mùa xuân Mị cũng uống rượu, định đi chơi, nhưng
- Kiểu bài nghị luận : Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi
+ ( Phân tích nhân vật)
6
www.sangkienkinhnghiem.com
- Xác định trọng tâm bài viết :
+ Hình tượng nhân vật Mị .
- Phạm vi dẫn chứng : Tác phẩm Vợ chồng A Phủ( phần 1 Mị và A Phủ khi ở
Hồng Ngài)
- Xác định các thao tác chính cho bài viết : Phân tích kết hợp lập luận, chứng
minh bình luận…
Bước 2: Rèn kĩ năng lập dàn ý
Lập dàn ý là một khâu quan trọng. Dàn ý giúp người viết không bỏ sót
những ý cơ bản, trọng tâm, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết. Lập
dàn ý tốt, có thể sẽ viết dễ dàng hơn, nhanh hơn và hay hơn.
Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý từng kiểu bài, tôi đưa ra mô hình
tổng quát của một bài văn nghị luận cho học sinh tham khảo:
Mô hình tổng quát một bài văn nghị luận:
Mở bài (còn gọi là đặt vấn đề):
Dẫn dắt từ vấn đề rộng hơn thu hẹp
dần đến việc giới thiệu luận đề.
Thân bài (còn gọi là giải quyết vấn đề):
Bao gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn
văn là một luận điểm. Các luận điểm
đều tập trung làm nổi bật luận đề ở
phần mở bài.
Kết bài (còn gọi là kết thúc vấn đề):
Tổng hợp lại từ các luận điểm đã
- Thể thơ
- Giọng điệu.
Luận điểm 2: Phân tích những nét chính về nội dung, nghệ thuật trong
đoạn thơ, bài thơ.
- Nghệ thuật chú trọng:
+ Thể thơ
+ Nhịp thơ, vần => Giọng điệu.
+ Các biện pháp tu từ - hiệu quả thẩm mĩ của các phép tu từ đó.
+ Hình ảnh thơ.
- Nội dung:
+ Triển khai các luận điểm theo yêu cầu của đề bài.
+ Có thể phân tích theo bố cục của văn bản (từng khổ thơ)
Luận điểm 3: Đánh giá chung về đoạn thơ. Về nội dung, nghệ thuật, so
sánh với các tác phẩm cùng đề tài, cùng tác giả.
Kết bài:
- Khái quát chung về bài thơ, đoạn thơ.
- Đóng góp của tác giả cho văn học dân tộc.
Ví dụ: Với đề bài:
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
(Trích Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
Mở bài :
độc đáo, mới mẻ dưới chiều sâu văn hóa và giàu giá trị nhân văn.
+ Ngôn ngữ bình dị, dân dã nhưng giàu sức gợi.
+ Giọng thơ tâm tình thiết tha, suy tư trầm lắng.
+ Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.
Kết luận :
- Sử dụng phong phú các chất liệu văn hóa dân gian.
=>Cái riêng biệt, độc đáo của đoạn thơ này là sự cảm nhận, phát hiện về Đất
nước trong một cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng nhân dân, sử
dụng phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo
b. Kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi.
Kiểu bài này có nhiều dạng khác nhau, chủ yếu là phân tích khía cạnh của
tác phẩm văn xuôi như: Phân tích nhân vật, phân tích giá trị nhân đạo, phân tích
tình huống,....
Tôi tập trung hướng dẫn và rèn kĩ năng cho học sinh cách làm các dạng
bài thường gặp đối với đối tượng học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên như
sau:
9
www.sangkienkinhnghiem.com
Dạng bài: Phân tích nhân vật trong tác phẩm văn học:
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu nhân vật cần nghị luận.
Thân bài:
Luận điểm 1: Lai lịch, ngoại hình của nhân vật:
- Lai lịch: Tên tuổi, quê quán, làm nghề gì?
- Ngoại hình: Được miêu tả như thế nào?
Luận điểm 2: Tính cách.
www.sangkienkinhnghiem.com
- Trong cuộc sống tù hãm, Mị vô cùng buồn tủi, uất ức. Cơ muốn sống cũng
chẳng được sống cho ra người, muốn chết cũng không xong, dường như Mị bắt
đầu chấp nhận thân phận khốn khổ, sống như cái bóng, như "con rùa nuôi trong
xó cửa".
Luận điểm2. Sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ:
a. Tâm trạng, hành động của Mị trong ngày hội xuân ở Hồng Ngài:
- Bên trong hình ảnh "con rùa nuôi trong xó cửa" vẫn đang còn một con
người khát khao tự do, khát khao hạnh phúc. Gió rét dữ dội cũng không ngăn
được sức xuân tươi trẻ trong thiên nhiên và con người, tất cả đánh thức tâm
hồn Mị. Mị uống rượu để quên hiện tại đau khổ. Mị nhớ về thời con gái, Mị
sống lại với niềm say mê yêu đời của tuổi trẻ. Trong khi đó tiếng sáo (biểu
tượng của tình yêu và khát vọng tự do) từ chỗ là hiện tượng ngoại cảnh đã đi
sâu vào tâm tư Mị.
- Mị thắp đèn như thắp lên ánh sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối. Mị chuẩn
bị đi chơi nhưng bị A Sử trói lại; tuy bị trói nhưng Mị vẫn tưởng tượng và
hành động như một người tự do, Mị vùng bước đi.
b. Tâm trạng, hành động của Mị trong đêm cuối cùng ở nhà Pá Tra:
- Mới đầu thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn thản nhiên. Nhưng đêm ấy, Mị thấy dòng
nước mắt trên má A Phủ. Nhớ lại cảnh ngộ của mình trong đêm mùa xuân
năm trước, Mị đồng cảm, thương xót cho A Phủ. - Phân tích nét tâm lý: Mị thấy cái chết sắp tới với A Phủ là oan ức, phi lý; Mị
không sợ hình phạt của Pá Tra; ý thức căm thù và lòng nhân ái giúp Mị thắng
nỗi sợ hãi, biến Mị thành con người dũng cảm trong hành động cắt dây trói
cứu A Phủ.
- Ngay sau đó, Mị đứng lặng trong bóng tối với bao giằng xé trong lòng.
Nhưng rồi khát vọng sống trỗi dậy thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ,
đến với tự do.
Luận điểm 3:
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật: cách giới thiệu, khắc hoạ tính cách,
xây dưng nhân vật.
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn văn cho học sinh lớp 12.
3 Thái độ:
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, tình yêu đối với tác phẩm văn học Việt .
B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
- SGK, SGV, thiết kế bài dạy. Máy chiếu, một số đoạn văn mẫu.
C. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:
- Phương pháp tích hợp, từ ôn tập lí thuyết vân dụng làm bài tập thực hành
D- TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
1. Ổn định
2. Kiểm tra: Việc chuẩn bị bài của học sinh.
3. Bài mới:
Hoạt động của
HĐ của
Nội dung cần đạt
thầy
trò
* Hoạt động 1:
Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích nhân
- GV chép đề lên
Chép đề
vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
bảng
vào vở
của Nguyễn Trung Thành.
12
Mở bài:
- Giới thiệu về nhà văn Nguyễn Trung
- Suy nghĩ Thành và tác phẩm Rừng xà nu
Thảo luận - Vai trò, vị trí và ý nghĩa của nhân vật Tnú
nhóm
trong tác phẩm.
-Trả lời
*Thân bài: có 3 luận điểm
- Luận điểm1. Tnú – Người chiến sĩ
- Suy nghĩ
kiên cường
- Trả lời
a, Khi còn nhỏ :
- Mặc cho giặc khủng bố ác liệt( anh
-Suy nghĩ
Xút,bà Nhan bị giặc giết) Tnú vẫn hăng hái
vào rừng nuôi cán bộ.
-Trả lời
- Tnú có một niềm tin tuyệt đối vào cách
mạng .Anh luôn tâm niệm câu nói của cụ
Mết « Đảng còn ,núi nước này còn »
- Khi làm liên lạc, vì sự an toàn của cán
bộ, Tnú bèn chọn phương án khó khăn,
gian khổ nhất( không đi theo đường
mòn...)
-Khi bị bắt, T nú kiên quyết không khai, bị
giặc tra khảo, cậu bình tĩnh lấy tay chỉ vào
bụng mình « Cộng sản ở đây »
b.Khi trưởng thành :
- Bị trói chờ hành hình, giữa thời khắc
a.Yêu bản làng, yêu quê hương đất
nước :
- Ngày về phép, nghe tiếng chày giã gạo
, lòng anh xao xuyến, bồi hồi « Cố giữ
bình tĩnh nhưng ngực anh vẫn đập liên
hồi... »
- Dù đã tắm ở suối rồi, nhưng khi cụ
Mết dẫn ra máng nước đầu làng, T nú vẫn
xúc động để cho vòi nước của làng dội lên
khắp người như ngày trước. Cử chỉ ấy là
sự gắn bó thắm thiết ,gần gủi.
b. Yêu thương vợ con :
- Khi thấy vợ con bị tra tấn, T nú không
kìm được căm giận, Hai con mắt là hai cục
lửa lớn, một tiếng thét dữ dội, anh đã nhảy
bổ vào bọn lính.
C.Tính kỷ luật cao :
- Mặc dù rất nhớ quê hương nhưng phải
được cấp trên cho phép về anh mới về và
chỉ về đúng một đêm như quy định trong
giấy phép.
Luận điểm 3 : Nghệ thuật xây dựng
nhân vật.
14
www.sangkienkinhnghiem.com
Hỏi: Trình bày nội
dung của phần kết
nói ,hành động...) Nguyễn Trung Thành đã
khắc họa thành công nhân vật Tnú.
-Đó cũng chính là tài năng với sự say
mê,cảm hứng về Tây Nguyên của tác giả.
*Kết luận:
- T nú là hiện thân của thế hệ trẻ Tây Nguyên
trong cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước : Bất
khuất kiên cường.
III. Luyện viết đoạn văn ngắn (10 phút)
Nhóm 1: Hãy viết đoạn văn mở bài.
Nhóm 2:Hãy chọn một ý trong luận điểm1.
Nhóm3: Hãy chọn một ý trong luận điểm2
Nhóm4:Viết đoạn văn phần kết luận.
IV. Đọc bài văn tham khảo (5 p)
V. Luyện nói (7 phút)
4. Hướng dẫn học bài:(3 phút)
- Nắm vững cách làm bài Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi.
- Dựa vào dàn ý đã lập, viết bài văn hoàn chỉnh.
15
www.sangkienkinhnghiem.com
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM:
Qua việc áp dụng một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho
học sinh. Tôi nhận thấy, học sinh đã có tiến bộ, biết cách làm bài văn nghị luận văn học.
kết quả các bài văn viết tự luận có chất lượng cao hơn.
Sau đây là bảng thống kê điểm nghị luận văn học trong bài viết 90 phút,
12A2
41
6=14,63%
12A4
51
2,0-2,5
3,0-3,5
4,0-4,5
5,0
26=50,98%
19=37,2%
6=11,76%
0
2=3,92%
22=43,14%
số
Điểm
0 - 0,5
1,0- 1,5
2,0-2,5
3,0-3,5
4,0-4,5
5,0
12A1
51
0
0
19=37,2%
26=50,98%
6=11,76%
0
0
12A4
51
8= 15,7%
11=21,6%
20=39,2%
7=13,7%
5=9,8%
0
3,0-3,5
4,0-4,5
5,0
3. Bài kiểm tra học kì II- nghị luận văn học.
Lớp
Tổng
số
22=43,14%
18=35,3% 13=25,5%
0
12A2
41
1=2,4%
10=19,6%
18=43,9%
5=12,2%
7=17,1%
0
12A4
51
2= 3,9%
11=21,6%
kiến thức, học cách tạo lập văn bản.
Phần ba: KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh là rèn khả năng tư duy logic,
tư duy khoa học, khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học, sự nhạy cảm trước
những vấn đề của đời sống xã hội. Công việc đó không chỉ làm trong ngày một,
ngày hai mà phải là một quá trình lâu dài đòi hỏi sự kiên trì và rất nhiều tâm
huyết của giáo viên.Trên đây chỉ là “Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng làm văn
nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trung tâm GDTX”, để qua đó giúp các
em có thêm kiến thức, niềm tin để đối mặt với hai kì thi quan trọng. Tuy nhiên cũng
phải thấy rằng để khơi gợi hứng thú đối với phần làm văn nghị luận văn học, ngoài
lí thuyết gọn nhẹ, dễ hiểu, các kỹ năng được chia nhỏ để học sinh rèn luyện từng
phần một cách thuần thục thì một việc không kém phần quan trọng là giáo viên cần
tìm những đề bài hay đảm bảo tính vừa sức, nhưng vẫn kích thích sự sáng tạo, tạo
cơ hội cho học sinh được phát biểu những suy nghĩ riêng, được nói bằng tiếng nói
của riêng mình. Có thế thì việc học văn, làm văn nghị luận văn học trong các trung
tâm giáo dục thường xuyên mới có kết quả.
Tôi tin tưởng rằng với nhiệt tình, tâm huyết của giáo viên và sự cố gắng,
khả năng sáng tạo của học sinh thì chất lượng môn Ngữ văn sẽ ngày càng nâng
lên. Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy.
Tôi hy vọng sẽ giúp học sinh say mê và hứng thú học văn hơn.
Kính mong sự góp ý chân thành của các đồng chí, đồng nghiệp.
17
www.sangkienkinhnghiem.com
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Thanh Hoá,ngày 25 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
2
Phần 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2
I. Cơ sở lí luận của đề tài
2
II. Thực trạng của vấn đề
3
1. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của TTGDTX
3
2. Xuất phát từ thực trạng làm văn nghị luận văn học của
HS lớp 12 TTGDTX
3
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện
5
1. Giải pháp
5