Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong nâng cao đời sống tinh thần cho người khuyết tật tại phường nghĩa đô, quận cầu giấy, thành phố hà nội - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

------

TRẦN HOÀNG HÀ

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG NÂNG CAO ĐỜI SỐNG TINH THẦN CHO NGƢỜI
KHUYẾT TẬT TẠI PHƢỜNG NGHĨA ĐÔ,
QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

------

TRẦN HOÀNG HÀ

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG NÂNG CAO ĐỜI SỐNG TINH THẦN CHO NGƢỜI
KHUYẾT TẬT TẠI PHƢỜNG NGHĨA ĐÔ,
QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01

5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu ............................................. 13
6. Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu ................................................................ 14
7. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 14
NỘI DUNG CHÍNH ...................................................................................... 18
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ........... 18
1.1. Khái niệm công cụ ........................................................................... 18
1.1.1. Người khuyết tật .......................................................................... 18
1.1.2. Nhu cầu ........................................................................................ 20
1.1.3. Công tác xã hội ............................................................................ 22
1.1.4. Đời sống tinh thần của người khuyết tật ..................................... 24
1.1.5. Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong nâng cao đời
sống tinh thần cho người khuyết tật ...................................................... 25
1.2. Một số lý thuyết áp dụng ............................................................... 27
1.2.1 Thuyết nhu cầu ............................................................................. 27
1.2.2. Lý thuyết hệ thống ....................................................................... 30
1.3. Khái quát về một số vấn đề của ngƣời khuyết tật hiện nay ........ 31
1.3.1. Chăm sóc đời sống người khuyết tật ........................................... 32
1.3.2. Chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng ................. 33
1.3.3. Học văn hoá đối với người khuyết tật ......................................... 33
1.3.4. Học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật .......................... 34
1.3.5. Tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng ................... 36
1.4. Khái quát về địa bàn nghiên cứu ................................................... 37
1


TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ............................................................................... 37
CHƢƠNG 2. NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG VÀ NGHE NHÌN
TẠI PHƢỜNG NGHĨA ĐÔ: ĐẶC ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG ĐỜI
SỐNG TINH THẦN. ..................................................................................... 40
2.1. Sơ lƣợc về tình hình ngƣời khuyết tật tại phƣờng Nghĩa Đô ...... 40

TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ............................................................................... 93
KẾT LUẬN .................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Chữ viết tắt

Ý nghĩa

1

NVCTXH

2

CTXH

Công tác xã hội

3

NKT


9

BTXH

Bảo trợ xã hội

10

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

11

PHCN

Phục hồi chức năng

12

PHCNDVCĐ

13

CLB

Nhân viên công tác xã hội

Lao động Thương binh và xã hội


theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, ước tính có khoảng 10-15% dân số thế giới
(tức là khoảng 700 triệu cho đến một tỷ người) là NKT và 80% trong số họ
đang sống ở các nước đang phát triển. NKT chiếm 20% trong số người nghèo
nhất trên thế giới và rất khó khăn trong tiếp cận giáo dục, việc làm, chăm sóc
sức khỏe và dịch vụ trợ giúp xã hội khác [1,tr.2]. Tại Việt Nam, ước tính của
tổ chức Y tế thế giới (WHO) NKT Việt Nam chiếm khoảng 10% dân số,
tương đương 8,6 triệu người, trong đó khoảng 2 triệu là trẻ em [5, tr.3]. Tỉ lệ
khuyết tật trên dân số dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng lên do những nguyên nhân
xuất phát từ ảnh hưởng hệ quả của quá trình phát triển xã hội, tai nạn, ô nhiễm
môi trường, do bom mìn còn sót lại sau chiến tranh hoặc do thất lạc vũ khí,....
NKT phải đối mặt với những khó khăn đáng kể khi hòa nhập đời sống xã
hội bởi sự kỳ thị và phân biệt; thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK)phục hồi chức năng (PHCN); không tiếp cận được với các phương tiện giao
thông, các công trình công cộng, cũng như công nghệ thông tin(CNTT),
truyền thông. Kết quả, NKT có sức khỏe kém hơn, kết quả học tập thấp hơn,
có ít cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế, tỷ lệ đói nghèo cao hơn và các
quyền cơ bản chưa được đảm bảo đầy đủ, bình đẳng so với các nhóm cộng
đồng dân cư khác trong xã hội .
NKT bình đẳng và hòa nhập xã hội thể hiện ở chỗ NKT có quyền tham
gia mọi hoạt động của đời sống xã hội. NKT cần được khuyến khích tham gia
mọi hoạt động trong gia đình, trong cộng đồng giống như mọi thành viên
khác. Chẳng hạn, một thanh niên khuyết tật ngoài chăm sóc bản thân, chung
sức với các thành viên khác trong gia đình họ còn có thể làm nội trợ, chăn
nuôi gia súc, hoặc các hoạt động có thu nhập khác…cũng cần có các hoạt

6


động vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao. Gia đình, bạn bè, cộng đồng, xã hội
cần tạo mọi điều kiện để NKT có thể tiếp cận và tham gia các hoạt động này.
Hiện nay, các hoạt động hỗ trợ NKT ở Việt Nam chủ yếu trên 9 nhóm


(2000), do Bùi Lưu Phi Khanh dịch. Tác giả đã phân tích về sự biến đổi văn
hóa nói chung, sự biến đổi đời sống tinh thần nói riêng của con người dưới sự
tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. [27]
2.2 Các nghiên cứu trong nƣớc
Trong những năm gần đây, có rất nhiều tác giả, các bộ, ngành nghiên
cứu về lĩnh vực NKT. Báo cáo của liên hợp quốc về người khuyết tật (2002)
chỉ ra rằng người khuyết tật chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của họ
đa phần gặp khó khăn cả về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Ngày 15 tháng 7 năm 2009, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã
đưa ra báo cáo số 62/BC-LĐTBXH tổng kết 10 năm thực hiện pháp lệnh về
người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan [3].
Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toàn đã có đề tài nghiên cứu về “Chính sách
trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam” [15]. Tác giả đã có viết
một phần về NKT; chỉ ra số lượng NKT (2008) trên cả nước và phạm vi phân
bổ NKT, dạng khuyết tật và nhu cầu của NKT. Kết quả nghiên cứu phát hiện
nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp xã
hội. Các nhu cầu trợ giúp (đời sống, sức khỏe, giáo dục) là khác nhau, tùy
thuộc vào nhóm đối tượng cụ thể.
Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu đã có ý nghiên cứu về thực trạng trợ giúp
xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị đến năm
2015 [16]. Tác giả đã đến cập đến các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có
người khuyết tật và các trợ giúp xã hội mà người khuyết tật được hướng đến.
Đưa ra các kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện các chính sách trợ giúp xã
hội khám chữa bệnh, giáo dục, tiếp cận các công trình giao thông công cộng
cho các đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng.
Năm 2012, tác giả Nguyễn Hải Hữu đã chủ biên sách “Giáo trình nhập
môn an sinh và xã hội” [17]. Đồng thời nghiên cứu đề tài về “Thực trạng trợ
giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị tới


Cuốn sách “Phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kì công nghiệp

10


hóa, hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm, Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, năm 2003, phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển con người, về mối quan hệ giữa
văn hóa và phát triển trong thời kỳ mới, về phát triển toàn diện con người và
xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị mới; đồng thời các tác giả cũng đã
đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp cho các vấn đề nêu trên [21].
Đề tài “Nhân tố văn hóa tinh thần trong nền kinh tế thị trường Việt
Nam” của Vũ Đức Khiển, Luận án tiến sĩ triết học, Viện Khoa học xã hội
vùng Đông Nam bộ, năm 2005. Tác giả đã phân tích làm rõ những điều kiện
hình thành giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Việt Nam, hệ thống hóa các
giá trị văn hóa tinh thần truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam, ảnh
hưởng và vai trò của văn hóa tinh thần đối với nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đề xuất một số giải pháp góp phần giữ gìn và phát
huy giá trị văn hóa tinh thần trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay [40].
Cuốn sách “Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập
quốc tế” của Hoàng Chí Bảo, Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 2010, đã phân
tích khá sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của sự nghiệp xây dựng văn hóa
đối với sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam cũng như đối với sự
phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập
quốc tế [8].
Công trình “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong
tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Dương Phú Hiệp làm chủ nhiệm,
chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX.03/06-10, năm
2010, đã đánh giá thực trạng xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt

thần của NKT nói chung và NKT ở phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành
phố Hà Nội nói riêng, có cái nhìn tổng quan hơn vềnhững trợ giúp dành cho
NKT , bên cạnh đó cũng thấy được những hạn chế trong việc ban hành, thực
hiện các hỗ trợ dành cho NKT và khuyến nghị xây dựng mô hình chăm sóc
đời sống tinh thần cho NKT

12


4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm xác định, làm sáng tỏ các nhu cầu đối với
hoạt động CTXH trong nâng cao đời sống tinh thần cho NKT tại phường
Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả đặc điểm NKT trên địa bàn phường Nghĩa Đô;
- Xác định, đánh giá thực trạng đời sống tinh thần của NKT;
- Tìm hiểu hoạt động CTXH trợ giúp NKT tại phường Nghĩa Đô;
- Phân tích các nhu cầu của NKT về các hoạt động CTXH hỗ trợ nâng
cao đời sống tinh thần.
- Sử dụng phương pháp CTXH nhóm để hỗ trợ NKT phường Nghĩa Đô
nâng cao đời sống tinh thần.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu đối với hoạt động CTXH trong
nâng cao đời sống tinh thần cho NKT.
5.2. Khách thể nghiên cứu: NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy,
thành phố Hà Nội; cán bộ Lao động- Thương binh và Xã hội phường Nghĩa
Đô; tổ trưởng tổ dân phố, công tác viên dân số của tổ, hội phụ nữ... tổ dân phố
có NKT sinh sống.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:

người không khuyết tật khác để làm cơ sở hỗ trợ họ vươn lên trong cuộc
sống.
 Sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng các hoạt
động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần
cho NKT tại phường Nghĩa Đô.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là phương pháp chính sử dụng trong quá trình nghiên cứu của tác
giả. Phân tích các tài liệu liên quan tới mô hình chăm sóc đời sống tinh thần

14


dành cho NKT nhằm mục đích làm rõ vị trí vai trò của mô hình trợ giúp đối
với NKT trong hệ thống trợ giúp xã hội hiện này của Việt Nam. Đặc biệt phân
tích nguồn số liệu từ báo cáo tổng hợp số liệu NKT phường Nghĩa Đô, quận
Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
7.2. Phương pháp trưng cầu ý kiến
Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích tổng quan được tình
hình NKT trên địa bàn phường Nghĩa Đô về đặc điểm nhân khẩu học, về tình
trạng tật, về việc làm, về thực trạng cũng như nhu cầu của NKT về vấn đề
chăm sóc đời sống tinh thần. Từ đó có cơ sở xây dựng mô hình trợ giúp về
vấn đề chăm sóc đời sống tinh thần cho NKT
Số lượng phiếu phát ra: 120 phiếu
Số lượng phiếu thu về: `120 phiếu
Bảng 1.1. Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu (n= 120)
Đặc điểm về nhân khẩu

Tỷ lệ (%)
Số lƣợng


Có vợ/chồng

29

24,2

Góa

25

20,8

Ly hôn

27

22,5

Dạng tật

120

100

Vận động

48

40


16


7.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác như
quan sát, phân tích tài liệu… để có được những thông tin chiều sâu, đặc biệt là
trong việc khai thác thông tin liên quan đến nhu cầu, mong muốn của đối tượng,
hay những khó khăn của họ gặp phải trong cuộc sống… Phương pháp này còn
được sử dụng để thu thập thông tin về tiểu sử của NKT. Đồng thời, quá trình
phỏng vấn sâu còn giúp tác giả hiểu được bản chất của vấn đề, từ đó có định
hướng cho việc đưa ra các giải pháp, mô hình hỗ trợ phù hợp với điều kiện và
nguyện vọng của đối tượng, của địa bàn nghiên cứu.
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 09 người, trong đó có 6 NKT và 3 người hỗ
trợ NKT. Những buổi phỏng vấn này được sắp xếp và hẹn trước. Địa điểm
phỏng vấn tại nhà và tại hội trường nhà văn hóa nơi sinh hoạt nhóm.
7.5. Phương pháp CTXH nhóm
- Tác giả đã sử dụng phương pháp CTXH nhóm trong hỗ trợ nâng cao
đời sống tinh thần cho NKT tại phường Nghĩa Đô.
- Thành viên nhóm gồm 9 thành viên đến từ các 4 tổ trên địa phường
Nghĩa Đô, tác giả lựa chọn thành viên có độ tuổi từ 40-60, có dạng tật khác
nhau.
- Tác giả tiến hành làm việc trong 8 buổi, trong đó: 02 buổi làm việc với
lãnh đạo UBND phường , hội trưởng hội NKT phường và các tổ trưởng tổ
dân phố tại tổ có NKT cư trú được chọn là thành viên của nhóm thân chủ; 06
buổi làm việc trực tiếp với nhóm thân chủ.
- Khó khăn: NVCTXH chưa độc lập tổ chức được các buổi làm việc với
thân chủ, hầu hết các buổi làm việc đều là kết hợp với các hoạt động khác của
phường hoặc hoạt động liên tổ khác.


về thể chất và cần được chữa trị. Điều này đẩy những NKT vào thế bị động

18


của người bệnh. Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế là làm cho NKT cảm thấy
trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình chung lại kiến cho họ cảm thấy
họ không bình thường. Theo đó vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng
cá nhân. Khi bị khuyết tật những người này cần phải thay đổi chứ không phải
xã hội hay môi trường xung quanh thay đổi” [35, tr.10-11].
Ngược lại, mô hình xã hội đề xuất rằng các rào cản và định kiến cũng
như sự loại trừ của xã hội (cố ý hoặc vô ý) là những yếu tố cuối cùng xác định
NKT hay không khuyết tật. Mô hình này thừa nhận rằng một số người có sự
khác biệt về thể chất, trí tuệ, hay tâm lý (mà đôi khi có thể suy yếu) so với các
tiêu chuẩn, những người này có thể dẫn đến tàn tật nếu xã hội không chấp
nhận họ như một phần của xã hội. Nói cách khác, mô hình xã hội khuyết tật
coi xã hội là vấn đề, giải pháp là phải thay đổi xã hội. Chính xã hội và chính
sách cần phải cải tổ chứ không phải là NKT. Mô hình xã hội giúp NKT hiểu
điều gì cần thực hiện để tiếp cận với quyền công dân và quyền con người.
Điều này có ý nghĩa chính là NKT cũng phải nhận thức được đầy đủ các
nghĩa vụ của mình với tư các là công dân trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh
tế, chính trị, xã hội mà mình tham gia.
Như vậy, mỗi quan niệm nói trên có những điểm mạnh và những hạn chế
nhất định: Quan điểm khuyết tật cá nhân hoặc y tế có tác dụng tốt trong một
số lĩnh vực cụ thể như y tế phục hồi chức năng và bảo đảm xã hội. "Quan
điểm khuyết tật theo mô hình xã hội là công cụ quan trọng để giải quyết các
nguyên nhân gốc rễ của NKT bị tách biệt khỏi xã hội, những vấn đề bất lợi và
vấn đề phân biệt đối xử. Mô hình xã hội ghi nhận rằng câu trả lời cho câu hỏi
liệu ai đó có bị xếp vào danh sách NKT hay không có liên quan chặt chẽ tới
các yếu tố như văn hóa, thời gian và môi trường" [35, tr.14-15].

Nhu cầu là khái niệm được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng
dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. Có nhiều công trình nghiên
cứu về nhu cầu và đi đến nhận định: “Nhu cầu là một trong những nguồn gốc
nội tại sinh ra tính tích cực của con người. Nhu cầu là một trạng thái tâm lý
xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định để đảm

20


bảo sự tồn tại và phát triển của mình. Trạng thái tâm lý đó kích thích con
người hoạt động nhằm đạt được những điều mình mong muốn”(Trung tâm
nghiên cứu Phụ nữ/ Đại học quốc gia Hà Nội) [6, tr 34].
Theo nghĩa hẹp, nhu cầu được hiểu là yêu cầu cần thiết của con người để
sống và tồn tại. Theo nghĩa rộng thì nhu cầu là tất cả những yêu cầu của con
người để tồn tại để hạnh phúc và để giảm đau khổ.
Nhà kinh tế học Philip Kotler cho rằng:“nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà
con người cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”
Các nhà tâm lý học Liên xô khi nghiên cứu về nhu cầu khẳng định: “nhu
cầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con
người. Đó chính là điểm khác hẳn với con vật. Mọi nhu cầu của con người (kể
cả những nhu cầu sơ đẳng) đều có bản chất xã hội” [12,tr149].
A.Maslow cho rằng, ở con người ngay từ khi mới ra đời đã có các lớp
nhu cầu phân loại một cách nhất quán, tính logic nhất quán chứng tỏ một trật
tự xuất hiện các nhu cầu trong quá trình phát triển cơ thể. Tuy nhiên, hệ thống
nhu cầu có tính chất thứ bậc này lại hết sức linh hoạt và biến động. Căn cứ
vào các đặc trưng cơ bản của Maslow phân chia nhu cầu từ thấp đến cao theo một
hệ thống 5 bậc và sắp xếp nó theo thứ tự hình tháp được gọi là tháp nhu cầu:
Các nhu cầu về sinh lý: ăn, ngủ...
Các nhu cầu về an toàn an sinh.
Nhu cầu về xã hội văn hoá.

khái niệm được coi là phổ biến và được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực
Công tác xã hội.
Theo khái niệm của Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội –
NASW (Hoa Kì): Công tác xã hội là hoạt động mang tính chất chuyên
môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường
hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo điều
kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy [26,tr2].
Theo từ điển bách khoa ngành Công tác xã hội: “Công tác xã hội là
một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status