TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ NÂNG CAO VAI TRÒ của NGUỒN NHÂN lực TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế xã hội và hội NHẬP KINH tế QUỐC tế - Pdf 43

MỞ ĐẦU
Nhân tố con người có vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát
triển KTXH. Trong xu thế phát triển của khoa học và công nghệ, NNL ngày càng
có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KTXH, đặc biệt là NNL chất lượng cao.
Lợi thế về lao động giá rẻ cũng như sự phát triển của nền kinh tế theo chiều rộng
đã đến mức trần, đòi hỏi bức thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại
nền kinh tế, nhanh chóng chuyển đổi từ lợi thế so sánh dựa trên lao động giá rẻ, tài
nguyên và môi trường sang lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên việc phát huy NNL
chất lượng cao. Phải Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế từ chủ
yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu;
vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững;
từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng
lao động giá rẻ sang tăng trưởng chủ yếu do áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ,
nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậy NNL có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển KTXH của đất nước.
Nhận thức đúng vấn đề trên, Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định phát triển
GDĐT con người Việt Nam là một trong những nhiệm vụ quan trọng, là “quốc sách
hàng đầu” quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam. Con người, nhân tố
con người là một trong năm quan điểm phát triển; phát triển nhanh nguồn nhân
lực (NNL) nhất là NNL chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá chiến lược;
nâng cao chất lượng NNL, đổi mới toàn diện, phát triển nhanh giáo dục và đào
tạo là một trong mười hai định hướng lớn về phát triển KTXH của đất nước.


I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VAI
TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ

1. Nguồn lực con người, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
a.. Nguồn lực con người
Nghiên cứu về NNL, chúng ta cần nghiên cứu và bàn đến vấn đề nguồn lực

con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội.
Như vậy, NLCN là một trong những nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá
trình phát triển KTXH của đất nước. Các nguồn lực này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau nhưng mức độ và vai trò của nó đối với toàn bộ quá trình phát triển của
đất nước không giống nhau, trong đó NLCN giữ vai trò quyết định.
b. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để phát triển
KTXH, vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu NNL. Tuy mỗi
quốc gia có khái niệm khác nhau về NNL nhưng nhìn chung NNL được xem xét
dưới các góc độ như số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng của
NNL. Các chỉ tiêu về số lượng có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ
tăng dân số: quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và
tốc độ tăng NNL càng lớn và ngược lại. Chất lượng NNL là tình trạng sức khoẻ,
văn hoá, đạo đức tư tưởng, kỹ năng lao động của người có năng lực lao động. là một
bộ phận cấu thành quan trọng của tình hình quốc gia, đóng vai trò to lớn trong việc
tạo ra của cải vật chất, là điểm xuất phát và chỗ dựa của chiến lược phát triển KTXH
đất nước.
c. Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển NNL là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu
hợp lý của NNL biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến
thức, kỹ năng, năng lực, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu
hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội. Theo Đại từ điển kinh tế thị
trường. Để tận dụng đầy đủ sức lao động, phải thông qua giáo dục và bồi dưỡng, xúc


tiến việc làm, mở mang hoạt động và chính sách quản lý nhân sự, sử dụng sức lao
động . Phát triển NNL là hướng tới việc đào tạo và đào tạo lại NNL nhằm nâng cao
kiến thức và kỹ năng cho công việc đang làm hoặc công việc mới, làm cho con
người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất đáp ứng được yêu

với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, chú
ý đến việc khai thác một cách hợp lý các nguồn lực của đất nước để thúc đẩy sự
phát triển KTXH. Đồng thời, cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, đào
tạo và phát triển NNL tương xứng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về NNL của
đất nước, nhất là NNL chất lượng cao. Đại hội VI của Đảng, đất nước bước vào
một thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới để phát triển. Đại hội VII, Đảng ta đã nhận thức
ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về vai trò của NNL đối với sự phát triển kinh tế
xã hội. Từ đó đến nay, Đảng ta luôn coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực
của sự phát triển; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con
người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH,HĐH đất
nước.
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng trải qua
gần một trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, tiếp đó là hai cuộc kháng
chiến trường kỳ giải phóng đất nước và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc;
nguồn tài nguyên của đất nước vừa bị khai phá vừa bị chiến tranh tàn phá đã trở
lên nghèo nàn. Mặt khác, do chính sách khai thác các nguồn tài nguyên không lý,
còn gây nhiều lãng phí nên nguồn tài nguyên cũng dần cạn kiệt.
Đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tích luỹ từ
nội bộ nền kinh tế thấp trong khi đó, để phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi phải có một
nguồn lực tài chính không nhỏ. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước xác định chỉ
có thể dựa vào một nguồn lực duy nhất và quan trọng nhất là NLCN, đầu tư thích
đáng vào việc phát triển NNL. Đại hội XI của Đảng lựa chọn phát triển nhanh NNL,
nhất là NNL chất lượng cao là khâu đột phá của chiến lược phát triển KTXH giai
đoạn 2011-2020. Đây là giải pháp quan trọng giúp chúng ta có thể khai thác hiệu quả
các nguồn lực trong và ngoài nước. Chẳng hạn, riêng lĩnh vực chuyển giao công nghệ,


theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, cần chuyển giao công nghệ theo hướng đi thẳng vào
công nghệ hiện đại để có thể đi trước đón đầu, nhanh chóng bắt kịp các nước. Muốn

đặc biệt quan trọng, quyết định đến chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế
của đất nước. Những nghiên cứu, trắc nghiệm gần đây đã chỉ ra rằng những đầu tư
về nguồn vốn chỉ góp một phần nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế. Phần lớn trong giá
trị của sản phẩm thặng dư là do chất lượng của lực lượng lao động quyết định.
Thêm vào đó, trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ, thông tin và tri thức
trở thành yếu tố cốt lõi của cả hệ thống hiện đại. Các số liệu thống kê đã chỉ ra
rằng, phần đóng góp của thông tin, tri thức trong thu nhập quốc dân của Mỹ là
47%, Anh là 45,8%, Đức là 40%. Trong ngành vi điện tử, trong tổng giá trị của sản
phẩm, nguyên liệu chỉ chiếm 1-3%, lao động cơ bắp chiếm 12%, còn lại 85% là
giá trị của tri thức, bí quyết công nghệ và chế thử. Ở Việt Nam, tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, các trung tâm phần mềm và ở các thành phố lớn
đang thiếu trầm trọng NNL chất lượng cao. Xét ở một góc độ nào đó, thiếu NNL
chất lượng cao và không đáp ứng được nhu cầu NNL chất lượng cao cho nền kinh
tế thì sức cạnh trạnh của nền kinh tế giảm sút và chất lượng tăng trưởng của nền
kinh tế không cao. Chẳng hạn, ở nhà máy Xi măng Nghi Sơn (Thanh Hoá), tổng
quỹ lương của 20 người nước ngoài làm việc ở đây bằng tổng quỹ lương của gần
2000 công nhân Việt Nam trong nhà máy. Trong ngành ngân hàng, y tế có tới 40%
người có thu nhập từ 14.000 USD/năm trở lên thuộc về người nước ngoài. Mặt
khác, phát triển NNL với một cơ cấu hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy
phát triển nền kinh tế và khai thác có hiệu quả nhất mọi nguồn lực của đất nước.
b. Vai trò của nguồn nhân lực trong lĩnh vực chính trị
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, các cơ quan,
tổ chức, đoàn thể xã hội… tất yếu phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức của mình. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, ở đâu có được đội
ngũ cán bộ tốt có đủ đức và tài, ở đó chất lượng, hiệu quả công việc sẽ tốt. Vì vậy,
hơn bao giờ hết, phải đào tạo được đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên đáp ứng
được yêu cầu phát triển của đất nước qua các giai đoạn khác nhau.
c. Vai trò của nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hoá




của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò
của NNL đối với công cuộc xây dựng đất nước. Nhận thức của các cấp, các ngành,
các cơ quan, tổ chức đoàn thể và chính quyền địa phương có lúc chưa thật sự quan
tâm đầy đủ đến lĩnh vực GDĐT; đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả NLCN
trong thực hiện các nhiệm vụ KTXH; còn tình trạng lãng phí chất xám, chảy máu
chất xám và mai một trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước.
Các cấp, các ngành và chính quyền ở một sô địa phương chưa quyết liệt vào
cuộc; tinh thần trách nhiệm thái độ không cao, không biến đường lối, chủ chương
của Đảng, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống. Nên không thể nâng cao chất
lượng NNL và phát huy có hiệu quả vai trò của nó đối với sự phát triển KTXH. Sự
tham gia, quan tâm đến GDĐT của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, thiếu sự hợp
tác cùng với nhà trường, xã hội để nâng cao chất lượng đào tạo, sử dụng và phát huy
NNL.
b. Cơ chế, chính sách nâng cao chất lượng NNL cũng như việc sử dụng nguồn
lực này cho các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH của đất nước
Từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước và các cơ quan
chức năng luôn quan tâm đến những vấn đề về cơ chế, chính sách và biện pháp để
không ngừng nâng cao số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý trong phát triển NNL
cũng như việc sử dụng nguồn lực này phục vụ có hiệu quả cao góp phần quan trọng
trong việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
Tuy nhiên, trước sự biến đổi nhanh chóng của đời sống KTXH, hệ thống cơ chế
của chúng ta đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, chưa thực sự đồng bộ, chưa phát huy vai
trò của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong đào tạo, phát triển và sử dụng NNL
phục vụ CNH,HĐH; chưa liên kết được các khâu, các cấp của quá trình đào tạo nhằm
đảm bảo chất lượng NNL được đào tạo; cơ chế phát triển và sử dụng NNL còn nhiều
bất cập hạn chế, gây lãng phí lớn cho cả nhà nước và cá nhân.
c. Cơ cấu, số lượng và chất lượng NNL - những nhân tố quan trọng, quyết định
đến chất lượng và hiệu quả các hoạt động KTXH của đất nước




động trong độ tuổi đang làm việc; lao động khu vực nông thôn 31,9 triệu người,
chiếm 73%. Tại thời điểm điều tra, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi
thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp là 2,9% (cao hơn mức 2,38% của năm 2008), trong
đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,64%, xấp xỉ năm 2008; khu vực nông
thôn là 2,25%, cao hơn mức 1,53% của năm 2008. Trong thời gian tới, trước sự
phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, tình
trạng lao động nông nhàn ở khu vực nông thôn tăng cùng với quá trình đào tạo
không theo kịp sự phát triển kinh tế của đất nước làm cho tình trạng thất nghiệp ở
khu vực nông thôn gia tăng, nên sự mất cân đối tiếp tục diễn ra.
Về cơ cấu trình độ, tỷ lệ biết chữ chung cả nước: 94% - 95%; đã đạt chuẩn
quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, đang phổ cập trung học cơ sở. Công tác
xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở triển khai mạnh mẽ tại nhiều địa phương, tính đến hết tháng 8 năm 2009, số
trường mầm non và phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia của cả nước
đạt 8672 trường, bao gồm 1644 trường mầm non; 5254 trường tiểu học; 1573
trường trung học cơ sở và 201 trường trung học phổ thông. Tính đến tháng 12
năm 2009, cả nước đã có 48/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi và 56/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
“Đến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung
học cơ sở” [5, tr.153]. Thực tế, chất lượng nền giáo dục còn ở mức thấp. Theo kết
quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ lao động có trình độ học vấn
trung học cơ sở trở lên là 56,7% so với tổng số lao động trong độ tuổi, trong đó tỷ lệ
lao động có trình độ trung học phổ thông trở lên là 27,8%. Lực lượng lao động trong
độ tuổi có trình độ đại học trở lên chiếm 5,3% tổng lực lượng lao động trong độ tuổi,
trong đó thành thị 14,4%; nông thôn 1,8%; nam 5,6%; nữ 5%. Số người từ 15 tuổi
trở lên chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật của cả nước còn chiếm tỷ lệ cao
(86,7%), trong đó cao nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long (93,4%). Cơ cấu
giữa lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trung học, công nhân kỹ thuật mất

việc làm. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với quy mô dân số đông, lực lượng lao


động dồi dào là điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ phát triển. Nhưng với một
nước chậm phát triển cùng với những hạn chế về nguồn vốn, trang thiết bị, nguyên,
nhiên vật liệu, cơ sở hạ tầng… và nguồn lao động dư thừa lại tăng với tốc độ lớn sẽ
gây sức ép về việc làm. Tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm, thừa lao động phổ
thông lại thiếu lao động qua đào tạo, nhất là trong các ngành kinh tế mũi nhọn
đang là vấn đề phải tiếp tục giải quyết trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất
nước.
Chất lượng của NNL được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển
thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong lao động, ý thức tổ chức kỷ luật.
Trong NNL, chất lượng đóng vai trò quyết định. Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ
người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao so với các nước
trong khu vực, trình độ giáo dục phổ cập và số lượng học sinh, lực lượng lao
động có đào tạo, số người tốt nghiệp các bậc học tăng nhanh so với nhiều nước.
Hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật đã tăng từ 7,6% năm 1986 lên gần 30% năm 2007 và 40% vào năm
2010, với chất lượng NNL cao hơn trước, thể hiện rõ nét nhất ở năng suất lao
động của toàn xã hội đã thay đổi hẳn cục diện phát triển kinh tế đất nước kể từ
khi tiến hành đổi mới, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian
dài.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tế đất nước trong
bối cảnh hội nhập, cạnh tranh quốc tế ngày càng sâu rộng nhưng chất lượng NNL
hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập về
năng lực chuyên môn, ngoại ngữ. Chất lượng lực lượng lao động còn nhiều hạn chế,
số lượng chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn và ngay số đã được đào tạo thì kỹ
năng, tay nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế chất lượng cao.
Những năm qua nền kinh tế nước ta tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, kết quả
do số lượng vốn tạo nên 57,5%; do số lượng lao động tạo nên 20%; do hiệu quả

đào tạo khác nhau. Căn cứ tình hình thực tế của các đơn vị, tổ chức đó để xác


định nhu cầu đào tạo về đối tượng, ngành nghề, số lượng, trình độ… phù hợp với
nhu cầu thực tế cũng như công tác dự báo về NNL trong tương lai.
Thứ ba, Cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân và mở rộng mạng lưới cơ
sở giáo dục; nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
giáo dục và đổi mới công tác tuyển chọn, đào tạo nguồn nhân lực
Cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá,
bảo đảm tính phân luồng rõ rệt và liên thông sau trung học cơ sở, tạo cơ hội được
học tập suốt đời cho người học. Khắc phục hiện tượng trường nghề bị cô lập với
trường phổ thông dẫn đến tình trạng không phân luồng, không liên kết được ở các
bậc học tiếp theo. Tình trạng học chay, nên tâm lý muốn học văn hoá chứ không
muốn học nghề đang trở thành phổ biến. Hướng tới, phải thay đổi tâm lý này,
phải coi trường nghề là trường văn hoá có dạy nghề, người học nghề cũng tốt
nghiệp 12, sau đó có thể học tiếp lên cao đẳng, đại học nếu như có khả năng. Giải
pháp này sẽ bảo đảm được tính phân luồng và hiệu quả của nó.
Quy hoạch lại mạng lưới các trường cao đẳng, đại học trên phạm vi toàn
quốc và từng vùng kinh tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu. Phát triển các trường cao đẳng cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân
lực cho các địa phương. Đồng thời, mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục thường xuyên, phấn đấu đến năm 2020, có thể tiếp nhận 30% số
học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và 30% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ
thông vào học một ngành nghề và có thể tiếp tục học lên trình độ cao hơn khi có
thể; bảo đảm 100% quận, huyện có trung tâm giáo dục thường xuyên, 95% xã,
phường có trung tâm học tập cộng đồng.
Thứ tư, Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, liên kết chặt chẽ giữa
đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực
Để nâng cao vai trò và hiệu quả sử dụng NNL, thời gian tới Nhà nước cần
nghiên cứu và đánh giá đầy đủ, chính xác về thực trạng NNL ở từng giai đoạn,



KẾT LUẬN
Nguồn nhân lực và phát triển NNL là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng
đối với mọi quốc gia. Ở nước ta, phát triển NNL là quan điểm, chính sách nhất
quán của Đảng và Nhà nước, vì NNL là nguồn lực nội tại, cơ bản, có khả năng tái
sinh và đổi mới phát triển nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác một cách hợp lý.
Nguồn nhân lực còn là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài
nguyên; vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa là động lực vừa là mục tiêu giữ vị trí
trung tâm trong các nguồn lực, giữ vai trò quyết định đến sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.Thực trạng NNL và phát triển NNL ở nước ta còn nhiều
hạn chế, chất lượng NNL thấp, số lượng và cơ cấu NNL bất cập đã và đang đặt ra
yêu cầu bức thiết về đào tạo và phát triển NNL cho sự phát triển kinh tế của đất
nước, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH hội nhập kinh tế quốc tế. Chưa
phát huy được vai trò của NNL đối với sự phát triển KTXH của đất nước cũng


như quá trình khai thác, sử dụng và phát huy nguồn lực này, Vì vậy, thời gian tới
cần nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện về cơ chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng,
sử dụng NNL hợp lý cũng như việc tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả
những cơ chế, chính sách đó nhằm phát huy vai trò của NNL đối với sự phát triển
KTXH của đất nước.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status