MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nào bao giờ cũng biểu hiện thông qua các đơn vị, các loại
hình tổ chức kinh tế nhất định, với nhiều loại hình đa dạng và phong phú.
Trong đó doanh nghiệp là hình thức phổ biến nhất, chung nhất, được ví như là
tế bào cơ bản cấu thành nền kinh tế quốc dân thống nhất. Đối với nền kinh tế
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt kể từ khi nước ta thực hiện
công cuộc đổi mới thì vấn đề doanh nghiệp trở thành trung tâm cần giải quyết
trong quá trình quản lý, duy trì, tổ chức hoạt động của nền kinh tế. Trong thực
tế doanh nghiệp ngày càng trở thành lực lượng vật chất quan trọng cấu thành
và quết định đến hiểu quả, chất lượng hoạt động của nền kinh tế nước nhà. Để
doanh nghiệp hoạt động có hiểu quả, phục vụ đắc lực cho mục tiểu phát triển
kinh tế, cần phải có những cơ chế, chính sách, qui định…về cách thức thành
lập, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, phá sản…Tổng hợp các qui định,
các chính sách, cơ chế đó được biểu hiện tập trung nhất qua các văn băn pháp
luật về doanh nghiệp, mà cụ thể, trực tiếp nhất là pháp luật về doanh nghiệp.
Việc nắm được quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về doanh
nghiệp của nước ta, đặc biệt là trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa rất quan trong trong nhận thức các
hiện tượng, các quá trình kinh tế xã hội đang diễn ra. Đồng thời nhận thức
được các vấn đề liên quan đến quá trình phát triển của doanh nghiệp trong quá
trình xây dựng đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất phát từ ý nghĩa đó,
tác giả chọn vấn đề “Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về doanh
ở Việt Nam ” làm chủ đề tiểu luận của mình sau khi được nghiên cứu học tập
môn “Luật kinh tế”. Trong phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu và yêu cầu học tập,
tác giả trình bày chủ đề tiểu luận thông qua các nội dung cụ thể sau:
1. Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp.
2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam.
3. Những điểm mới và bất cập của luật doanh nghiệp 2005 được rút ra
thông qua thực tiễn thi hành.
2
3
nhau. Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý và kịp thời có những cơ chế
chính sách cho phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp cụ thể thì chúng
ta phải tiến hành phân loại doanh nghiệp. Về lý thuyết cũng như thực tiễn có
thể phân loại doanh nghiệp theo những dấu hiệu khác nhau.
Nếu xét từ dấu hiệu sở hữu (tính chất sở hữu của những vốn và tài sản
được sử dụng để thành lập doanh nghiệp - sở hữu vốn). Doanh nghiepj ở nước
ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại doanh nghiệp sau: Doanh nghiệp
nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp tập thể, Doanh nghiệp của
các tổ chức chính trị - xã hội, Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành
viên trở lên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty cổ phần,
Công ty hợp danh
Nếu xem xét theo dấu hiệu về phương thức đầu tư vốn, có thể chia
doanh nghiệp thành: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài).
Theo luật doanh nghiệp năm 2005 quy định bốn loại hình doanh
nghiệp cơ bản hoạt động tại Việt Nam. Đó là: công ty TNHH, công ty cổ
phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Doanh nghiệp tư nhân.
Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân là
doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Từ quy định trên chúng ta
thấy doanh nghiệp tư nhân gồm những đặc điểm cơ bản sau:
Một là: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư
vốn thành lập và làm chủ. Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá
nhân. Bởi vậy mà chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định những
vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành ( trong
chuyển đổi doanh nghiệp. Công ty không được phát hành cổ phần. Công ty có
5
tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết
quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có
thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối
đa.Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động
vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Công ty cổ phần có tư cách
pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn có
thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên
môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty ( Trách nhiệm vô hạn ). Thành viên góp vốn
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp
vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân. Công ty hợp danh không
được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Như vậy, công ty họp danh có hai
loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh và
công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.
2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về doanh nghiệp
ở Việt Nam.
Do điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm lịch sử của đất nước có nhiều
7
Ngày 25/02/1949, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 09/SL bổ sung Sắc
lệnh số 104/SL về việc thành lập xí nghiệp quốc doanh. Để triển khai hai sắc
lệnh đó, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về xí nghiệp quốc
gia theo Nghị định số 214/TTg ngày 31/10/1952. Điều lệ này đã xác định vai
trò chủ đạo của xí nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế nước ta, xác định xí
nghiệp quốc doanh là pháp nhân và có trách nhiệm trước bộ chủ quản về thực
hiện kế hoạch và quản lý tài sản nhà nước.
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta bắt đầu chính
thức triển khai thực hiện những nguyên tắc và phương pháp quản lý kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Vì vậy, ngày 04/4/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 130/TTg về việc thi hành từng bước chế độ hạch toán kinh tế để
tăng cường việc quản lý kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh nhằm từng
bước thi hành chế độ hạch toán kinh tế để sản xuất.
Trong những năm 60, trong hoàn cảnh chiến tranh, Đảng và Nhà nước
ta không có điều kịên để thực hiện những quy định có tính nguyên tắc trên.
Mãi tới những năm 70, chúng ta mới có dịp quan tâm cải tiến công tác quản lý
kinh tế ở xí nghiệp quốc doanh. Ngày 09/01/1971, Thủ tướng Chính phủ ra
Chỉ thị số 11/TTg về ổn định sản xuất và cải tiến quản lý xí nghiệp quốc
doanh. Tuy nhiên năm 1976 những quy định này mới được áp dụng thống
nhất ở tất cả các xí nghiệp quốc doanh.
Như vậy, để quản lý doanh nghiệp thời kỳ này, Nhà nước ta đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước nhưng những văn bản đó còn rất sơ sài, thiếu đồng bộ và một số văn bản
chỉ có giá trị tạm thời. Thời kỳ này, Đảng và Nhà nước còn ban hành nhiều
chủ trương và quy định về quản lý xí nghiệp quốc doanh như Điều lệ xí
nghiệp công nghiệp quốc doanh kèm theo Nghị định số 93/CP và Điều lệ liên
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế.
Đây là giai đoạn pháp luật về doanh nghiệp có bước phát triển vượt
bậc cả về số lượng và chất lượng. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng và nhất là sau Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 3
9
(khoá VI), quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về
doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi quan trọng. Trong khoảng thời gian 20 năm
đổi mới, nước ta đã ban hành các đạo luật về doanh nghiệp như: Luật doanh
nghiệp tư nhân năm 1990, Luật công ty năm 1990, Luật phá sản năm 1994, Luật
sửa đổi một số điều của Luật công ty số 35 - L/CTN của Quốc Hội. Luật thương
mại năm 1997… Ngày 12/6/1999 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá X đã thông qua
Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Luật
doanh nghiệp năm 1999 ra đời đã đánh dấu một mốc son trên con đường hoàn
thiện khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở nước ta. Gần đây nhất,
ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh
nghiệp nhà nước năm 2003 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996
(sửa đổi, bổ sung năm 2000). Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời thể hiện sự
thống nhất trong việc điều chỉnh địa vị pháp lý của các doanh nghiệp ở Việt Nam
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Luật công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990.
Để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, lao động và tài nguyên
của đất nước, tạo thêm việc làm; bảo hộ lợi ích hợp pháp của người góp vốn
đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế; khuyến khích việc đầu tư kinh
doanh, bảo hộ lợi ích hợp pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân; tăng cường
hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh. Tại kỳ họp lần
và hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo ra bước phát triển tương đối bền vững của
nền kinh tế. Nhưng trước yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng sản
xuất kinh doanh và phát triển bền vững trong quá trình nền kinh tế đất nước
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thì Luật doanh nghiệp 1999 trở
nên lạc hậu và không có khả năng giải quyết các vấn đề của hoạt động kinh tế
doanh nghiệp, đặc biệt là tranh chấp, phá sản, hợp đồng quốc tế... Trước yêu
cầu đó, Quốc hội Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật doanh
nghiệp 2005 vào ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1
tháng 7 năm 2006.
Luật doanh nghiệp 2005.
Để góp phần phát huy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước; đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế; bảo đảm quyền
tự do, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư;
tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh; góp
phần nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc
tế... Quốc hội Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật doanh nghiệp
15
2005. Luật này gồm 10 chương và 172 điều, quy định về việc thành lập, tổ
chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp gồm công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Luật doanh nghiệp 2005 còn quy định về nhóm công ty và thay thế Luật
doanh nghiệp năm 1999; Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 166 của Luật này; các quy định về tổ chức
quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam năm 2000.
Như vậy, sau 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng , toàn dân,
như sau:
Một là, Luật Doanh nghiệp với tư cách là luật chung cho các loại
hình doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay thế cho Luật Doanh
nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, các quy định về tổ
chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 2000. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo lập
môi trường pháp lý chung cho hoạt động của các doanh nghiệp trên lãnh thổ
Việt Nam.
Hai là, các quy định về đăng ký kinh doanh. Thay cho việc có Đơn
đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp
năm 2005 đã quy định về Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, Luật năm 2005
cũng có những quy định cụ thể về hồ sơ đăng ký kinh doanh của từng loại
hình doanh nghiệp bao gồm hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp
tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đã quy định cụ thể về tên của doanh
nghiệp, trong đó có cách đặt tên cho doanh nghiệp, những trường hợp cấm về
cách đặt tên doanh nghiệp, đặt tên doanh nghiệp trong trường hợp tên doanh
nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt của doanh nghiệp và những
trường hợp tên trùng và tên gây nhầm lẫn. Một điểm mới khác của luật Doanh
nghiệp năm 2005 theo hướng là luật chung cho các loại hình doanh nghiệp, là
17
gắn thủ tục đăng ký kinh doanh với thủ tục đăng ký đầu tư. Điều này xuất phát
từ quan điểm đổi mới, đơn giản hoá tối đa các thủ tục hành chính, tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp gia nhập thị trường và thực hiện các hoạt
động đầu tư. Rút ngắn hơn thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Theo khoản 2 Điều 15 Luật Doanh nghiệp 2005, “”Cơ quan đăng ký kinh
doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận
nhiệm của Ban kiểm soát. - Tăng cường thêm các quy định về quản lý vốn,
hạn chế nguy cơ lạm dụng trách nhiệm hữu hạn.
Năm là, các quy định về nhóm công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2005
bổ sung quy định về nhóm công ty .Thực chất, quy định về nhóm công ty
nhằm mục đích tăng cường sự công khai, minh bạch trong hoạt động kinh
doanh cũng như hạn chế chế độ trách nhiệm hữu hạn và bảo vệ lợi ích của cổ
đông thiểu số. Đó là các quy định trách nhiệm đền bù của công ty mẹ đối với
công ty con, hay nghĩa vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất của nhóm công ty
.Đây là một bước phát triểm mới của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong
việc tạo ra cơ sở pháp lý để hình thành các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Sáu là, các quy định về công ty hợp danh.Thừa nhận tư cách pháp
nhân của công ty hợp danh.
Bảy là, các quy định Công ty TNHH một thành viên. Điểm mới nổi bật
của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên là Luật cho phép một cá nhân có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên (Điều 63 Luật doanh nghiệp) và đã đưa ra quy định về cơ
cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân.
Đạo luật cũng đã đưa ra những quy định cụ thể về người đại diện theo pháp
luật của công ty. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều
lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt
Nam, trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải uỷ quyền bằng
19
văn bản cho người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty theo
nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty.
Tám là, các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Theo Luật mới, quyết định của Đai hội
đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ một trong các điều kiện:
(1)được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ
đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy đinh; (2) Đối với
quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào
bán, sửa đổi, bổ sung theo Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty, đầu tư
hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi
trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy
định khác thì phải được ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả số cổ
động dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định; (3) Việc biểu
quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo
phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết
tương ưúng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Hội
đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu
của mình cho một hoặc một số ứng cử viên; (4) Các quyết định được thông qua
tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông với số cổ đông trực tiếp và uỷ quyền tham dự
đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực
ngay cả khi trình tự và thủ tục triệu tập, nội dung chương trình họp và thể thức
tiến hành họp không được thực hiện đúng quy đinh; (5)Trường hợp thông qua
quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội
đồng cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ
thể do Điều lệ công ty quy định.
Về vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị: Khoản 1 Điều 111 quy định:
Điều lệ công ty quy định Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu
Chủ tịch HĐQT. Trường hợp HĐQT bầu Chủ tịch HĐQT thì Chủ tịch được
bầu trong số thành viên của HĐQT. Chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc
hoặc Tổng Giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.
Như vậy, trong cơ cấu này Chủ tịch HĐQT là cơ quan thường trực của HĐQT,
21
22
Như vậy, lộ trình chuyển đổi DNNN đã được luật hoá, theo đó các
quy định hiện hành về DNNN sẽ chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian 4
năm, kể từ ngày Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực. Sau thời gian này, các
doanh nghiệp không kể thành phần kinh tế đều hoạt động trong một hành lang
pháp lý chung về doanh nghiệp và đầu tư.
Mười một là, tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp được tăng cường và cụ thể hơn. Điều
này được thể hiện bằng các quy định về cung cấp thông tin giữa các cơ quan
nhà nước, quy định rõ và cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước, cấp
chính quyền trong quản lý doanh nghiệp, quy định cụ thể điều kiện giải thể
doanh nghiệp, quy định cụ thể các hành vi bị cấm, bổ sung thêm trường hợp
thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. - Đổi mới cơ bản cơ chế thực
hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp, trong đó, tách chức
năng thực hiện quyền chủ sở hữu ra khỏi chức năng quản lý hành chính nhà
nước, thực hiện tập trung và thống nhất các quyền chủ sở hữu, đồng thời tôn
trọng quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp.
Những bất cập của Luật doanh nghiệp 2005.
Luật Doanh nghiệp được thông qua vào tháng 11-2005 và sẽ có hiệu
lực từ tháng 7-2006 là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật để Việt Nam gia nhập cộng đồng thương mại thế giới. Tuy nhiên,
làm luật mà vội vàng thì không tránh khỏi những bất cập. Qua nghiên cứu các
ý kiến trên xoay quanh vấn đề Luật doanh nghiệp 2000, tác giả tổng hợp, nêu
lên một số ý kiến có tính cách tham khảo liên quan đến những nhầm lẫn hay
bất cập trong Luật Doanh nghiệp 2005 như sau:
Một là, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều 60, khoản 2 quy
định: “trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc tiếp nhận thêm thành viên phải
được sự nhất trí của các thành viên”. Ở đây có sự nhầm lẫn bởi vì việc tăng
nhân danh công ty... thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài
chính có thể xảy ra đối với công ty”. Quy định này vô nghĩa bởi vì khó có thể
24
hình dung làm thế nào một cổ đông phổ thông lại có thể nhân danh công ty
thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn của công ty nếu họ không phải là
người có thẩm quyền trong cơ cấu quản lý công ty.
Điều 84, khoản 5 quy định: “trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng
chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là
cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông”.
Quy định này không rõ ràng, có thể dẫn đến các giải thích sai lệch. Sự
thật quy định này chỉ liên quan đến số cổ phần phổ thông tối thiểu (20% tổng
số cổ phần được quyền chào bán) mà các cổ đông sáng lập phải cùng nhau
đăng ký mua khi đăng ký kinh doanh; số cổ phần này không được tự do
chuyển nhượng trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ngoài số cổ phần tối thiểu này, cổ phần phổ
thông khác của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng như đối với các
cổ đông khác.
Điều 86, khoản 4 quy định: “cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần
trở lên phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong
thời hạn bảy ngày kể từ ngày được tỷ lệ sở hữu đó”.
Vấn đề đặt ra là: mục đích của việc đăng ký này là gì? Phải chăng để
Nhà nước kiểm soát công ty? Nhưng như thế là vi phạm quyền tự chủ của
doanh nghiệp được xác nhận tại điều 8. Hoặc Nhà nước muốn kiểm soát việc
đầu tư của tư bản tư nhân? Nhưng điều này đã lỗi thời trong thời đại mới. Dầu
sao thì thủ tục này cũng có thể khiến các nhà đầu tư e ngại.
Điều 89 quy định: “cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần... phải
bảo đảm cho người thuê sử dụng ổn định cơ sở kinh doanh. Nghĩa vụ này bao
gồm: bảo đảm cho người thuê không bị quấy nhiễu trong thời gian thuê, bảo
đảm các hư hỏng của cơ sở kinh doanh.
26