1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Lê Hoàng Linh
2
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Mỏ Địa chất, Ban chủ nhiệm khoa Dầu khí, phòng nhân sự Viện NCKH&TK dầu khí
biển VIETSOVPETRO đã tạo điều kiện, hoàn thành thủ tục giấy tờ để tôi được đi
thực tập.
Để có thể hoàn thành đồ án này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy
giáo PGS.TS. Lê Hải An cùng tập thể các thầy cô giáo trong bộ môn Địa vật lý,
Trường Đại học Mỏ - Địa Chất những người tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo
điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình hoàn thành đồ án này.
Tôi xin đặc biệt chân thành cảm ơn Trưởng phòng NCTH&VLĐ TS.Trần
Đức Lân người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ dạy cho tôi trong suốt thời
gian thực tập tại Viện NCKH&TK dầu khí biển VIETSOVPETRO. Tôi cũng xin
gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các cán bộ, kỹ sư của phòng NCTH&VLĐ,
những người giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập tại đây.
Sinh viên thực hiện
Phạm Lê Hoàng Linh
4
Trầm tích Kainozoi..............................................................................................20
Oligoxen dưới, Điệp Trà Cú ( P31)..................................................................20
Oligoxen trên, Điệp Trà Tân (P32)..................................................................21
Mioxen dưới, Điệp Bạch Hổ ( N11)....................................................................23
Mioxen giữa, Điệp Côn Sơn ( N12).....................................................................24
Mioxen trên, Điệp Đồng Nai ( N13)....................................................................24
Plioxen + Đệ tứ, Điệp Biển Đông ( N2 + Q).......................................................24
1.2.2.2 Kiến tạo.......................................................................................................24
1.2.3 Lịch sử nghiên cứu địa chất - địa vật lý..........................................................27
CHƯƠNG 2.............................................................................................................28
CƠ SỞ LÝ THUYẾT..............................................................................................28
2.1 Sơ lược về độ rỗng (Φ, PHI)..............................................................................28
2.1.1 Định nghĩa......................................................................................................28
2.1.2. Phân loại........................................................................................................28
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ rỗng................................................................29
2.1.3.1.Kích thước hạt.............................................................................................29
2.1.3.2.Độ lựa chọn.................................................................................................30
2.1.3.3.Hình dạng hạt...............................................................................................30
2.1.3.4.Độ nén ép.....................................................................................................30
2.1.4. Các phương pháp truyền thống xác định độ rỗng..........................................30
2.1.4.1. Tính độ rỗng theo phương pháp mật độ......................................................30
2.1.4.2.Tính độ rỗng theo phương pháp Neutron.....................................................31
2.1.4.3.Tính độ rỗng theo phương pháp Neutron – Mật độ......................................31
2.2 Tổng quan về mạng nơ ron nhân tạo..................................................................32
2.2.1 Các khái niệm cơ bản về thành phần, cấu trúc và nguyên lý hoạt động của
mạng nơron nhân tạo...............................................................................................32
Nơron nhân tạo (cấu trúc, nguyên tắc hoạt động)................................................32
6
3.4 Xác định ANN tối ưu.........................................................................................54
3.5. Tính toán độ rỗng các trầm tích Oligoxen trên mỏ XY bằng ANN tối ưu.........56
3.6. Kết luận............................................................................................................60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................63
PHỤ LỤC................................................................................................................ 65
Mã lệnh ngôn ngữ Matlab của ANN........................................................................65
7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANN
Mạng nơ ron nhân tạo
DT
Đường cong thời khoảng
ĐVLGK
Địa vật lý giếng khoan
Epochs
Thế hệ luyện mạng
Xin
Giá trị đầu vào
Xmax
Giá trị đầu vào lớn nhất
Xmin
Giá trị đầu vào nhỏ nhất
Yd
Giá trị đầu ra mong muốn
Ymax
Giá trị đầu ra lớn nhất
Ymin
Giá trị đầu ra nhỏ nhất
Yout
Giá trị đầu ra
Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích chính của luận văn là khai thác các tính năng vượt trội trong việc
xây dựng mối quan hệ phi tuyến tính đa chiều và thống kê theo đa số mẫu của
ANN để xây dựng hệ phương pháp xác định độ rỗng tầng trầm tích Oligoxen trên
cấu tạo XY từ tài liệu ĐVL-GK sử dụng độ rỗng mẫu lõi làm tham số mong muốn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là độ rỗng tầng trầm tích Oligoxen trên
mỏ XY bằng phương pháp ANN. Việc xác định độ thấm được tiến hành dựa trên 2
loại số liệu: số liệu ĐVLGK và độ rỗng mẫu lõi.
Nội dung, phương pháp nghiên cứu
-
Thu thập tài liệu ĐVLGK và tài liệu mẫu lõi của mỏ nghiên cứu
-
Xác định độ rỗng thành hệ bằng phương pháp truyền thống
-
Xây dựng ANN bằng ngôn ngữ Matlab
-
Xây dựng tập huấn luyện và tập kiểm tra cho ANN
-
Xác định độ rỗng thành hệ bằng ANN đã xây dựng
CHƯƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Bồn trũng Cửu Long
1.1.1 Đặc điểm kiến tạo và hình thành
Bể Cửu Long (một số tài liệu còn gọi là bể Mekong) là bể tách giãn Đệ Tam
sớm nằm chủ yếu trên phần thềm lục địa ngoài khơi Đông Nam Việt Nam và một
phần trên đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long. Nó mở rộng xấp xỉ 340 km
đến Đông Bắc từ tam giác châu Mekong và nó trải dài khoảng 80 km theo hướng
Tây Nam đến 40 km theo hướng Đông Bắc.
Bể trầm tích Cửu Long là bể rift nội lục điển hình, bể được hình thành và
phát triển trên mặt đá kết tinh trước Kainozoi (thường được gọi là mặt móng).
Hình 1. 1Bản đồ cấu trúc mặt móng bể Cửu Long
Thời kì trước tạo rift:
Trước Đệ Tam, đặc biệt từ Jura muộn đến Paleocen là thời gian thành tạo và
nâng cao đá móng magma xâm nhập (các thành tạo nằm dưới các trầm tích
13
Kainozoi ở bể Cửu Long). Các đá này gặp rất phổ biến ở hầu khắp lục địa Nam Việt
Nam.
Do ảnh hưởng của quá trình va mảng Ấn Độ vào mảng Âu-Á đã hình thành
nên đới hút chìm dọc cung Sunda (50 - 43.5 triệu năm). Các thành tạo đá xâm nhập,
phun trào Mesozoi muộn-Kainozoi sớm và trầm tích cổ trước đó đã trải qua thời kì
dài bóc mòn, giập vỡ khối tảng, căng giãn khu vực hướng TB-ĐN. Sự phát triển các
đai mạch lớn, kéo dài có hướng đông bắc-tây nam thuộc phức hệ Cù Mông và Phan
Rang tuổi tuyệt đối 60-30 triệu năm đã minh chứng cho điều đó. Đây là giai đoạn
san bằng địa hình trước khi hình thành bể trầm tích Cửu Long. Địa hình bề mặt bóc
mòn của móng kết tinh trong phạm vi khu vực bể lúc này không hoàn toàn bằng
phẳng, có sự đan xen giữa các thung lung và đồi, núi tấp. Chính hình thái địa hình
14
2. Phủ chờm của trầm tích Oligocen lên trên các khối móng cao. Đây là đặc
điểm phổ biến nhất ở bể Cửu Long, các cấu tạo Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử
Đen, Sư Tử Trắng… đều thuộc kiểu này.
3. Các cấu tạo hình hoa được thành tạo vào Oligocen muộn và chỉ được phát
hiện ở trong các địa hào chính (cấu tạo Gió Đông, Sông Ba…)
4. Các nếp lồi, bán lồi gắn với nghịch đảo trầm tích được thành tạo vào cuối
Oligocen, được phát hiện ở phía bắc trũng Trung tâm.
Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và không chỉnh hợp góc rộng
lớn ở nóc trầm tích Oligocen đã đánh dấu sự kết thúc thời kỳ đồng tạo rift.
Thời kì sau tạo rift:
Vào Miocen sớm, quá trình giãn đáy Biển Đông theo phương TB-ĐN đã yếu
đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Miocen sớm (17 triệu năm), tiếp theo là quá
trình nguội lạnh vỏ. Trong thời kì đầu Miocen sớm các hoạt động đứt gãy vẫn còn
xảy ra và chỉ chấm dứt hoàn toàn từ Miocen giữ-hiện tại. Các trầm tích của thời kì
sau rift có đặc điểm chung là: phân bố rộng, không bị biến vị, uốn nếp và gần như
nằm ngang.
Tuy nhiên, ở bể Cửu Long các quá trình này vẫn gây ra các hoạt động tái
căng giãn yếu, lún chìm từ trong Miocen sớm và hoạt động núi lửa ở một số nơi,
đặc biệt ở phần Đông Bắc bể. Vào cuối Miocen sớm trên phần lớn diện tích bể, nóc
trầm tích Miocen dưới-hệ tầng Bạch Hổ được đánh dấu bằng biến cố chìm sâu bể
với sự thành tạo tầng “sét Rotalid” biển nông rộng khắp và tạo nên tầng đánh dấu
địa tầng và tầng chắn khu vực khá tốt cho toàn bể. Cuối Miocen sớm toàn bể trải
qua quá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu, bằng chứng là tầng sét Rotalid chỉ bị
bào mòn từng phần và vẫn duy trì tính phân bố khu vực của nó.
Vào Miocen giữa, lún chìm nhiệt tiếp tục gia tăng và biển đã có ảnh hưởng
rộng lớn đến hầu hết các vùng quanh Biển Đông. Cuối thời kì này có một pha nâng
lên, dẫn đến sự tái thiết lập điều kiện môi trường song ở phần Tây Nam bể còn ở
phần Đông, Đông Bắc bể điều kiện ven bờ vẫn tiếp tục được duy trì.
Miocen muộn được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở Biển Đông và phần
Hình 1. 3 Sơ đồ đẳng dày tầng sinh dầu trong trầm tích Oligocen Eocen-Bể Cửu
Long
Độ phong phú vật chất hữu cơ
Nhìn chung tiềm năng của vật chất hữu cơ trong trầm tích Oligocen là rất lớn
còn vật chất hữu cơ trong trầm tích Miocen dưới thuộc loại trung bình và nghèo.
Các chỉ số sinh học của kerogen các tầng đá mẹ được thể hiện: õ = 0, 25 – 15, 8, M4
= 33 – 98, S8 = 41 – 376, đôi khi đạt tới hàng nghìn đơn vị. Trong đó, các giá trị
thấp thường gặp trong kerogen của trầm tích Miocen dưới, còn các giá trị cao
thường gặp trong kerogen của trầm tích Oligocen. Điều đó phản ánh có hoạt động
của vi khuẩn và tảo nước ngọt cũng như tảo vùng nước lợ và cỏ biển. Tuy nhiên, chỉ
tiêu HI5 = Oleanane/C30hopane có giá trị thấp (2, 5-37, phổ biến 8-15) chứng tỏ có
tồn tại thực vật bậc cao.
Quy mô phân đới sinh dầu của các tầng đá mẹ
Đới sinh dầu mạnh của tầng Oligocen trên bao gồm chủ yếu phần trung tâm
có diện tích khoảng 193 km2. Diện tích đới sinh condensat chỉ tập trung ở phần lõm
sâu nhất là 24, 5 km2.
17
Đới sinh dầu mạnh và giải phóng dầu của tầng Oligocen dưới-Eocen mở
rộng ra ven rìa so với tầng Oligocen trên và đạt diện tích lớn hơn. Đới sinh dầu
chiếm diện tích khoảng 576-580 km2. Còn diện tích vùng sinh condensate đạt 146
km2.
1.1.2.2 Đá chứa
Đá chứa dầu khí trong bể Cửu Long bao gồm:đá granitoid nứt nẻ, hang hốc
của móng kết tinh, phun trào dạng vỉa hoặc đai mạch và cát kết có cấu trúc lỗ rỗng
giữa hạt, đôi khi có nứt nẻ, có nguồn gốc và tuổi khác nhau.
Đá chứa granitoid nứt nẻ-hang hốc của móng kết tinh rất đặc trưng cho bể
Cửu Long. Hình ảnh đá bị giập vỡ và biến đổi có thể quan sát rõ tại các điểm lộ, với
xu hướng giập vỡ và biến đổi mạnh(phong hóa) ở phần trên của mặt cắt.
Tầng chắn khu vực-tầng sét thuộc nóc hệ tầng Bạch Hổ hay còn gọi là tập sét
Rotalid. Đây là tầng sét khá sạch, phát triển rộng khắp bể Cửu Long, chiều dày khá
ổn định, khoảng 180-200 m. Đá có cấu tạo khối, hàm lượng sét cao (90-95%), kiến
trúc thuộc loại phân tán, mịn. Khoáng vật chính của sét là montmorilonit, thứ yếu là
hydromica, kaolinit, và ít clorit. Hệ số phân lớp nhỏ hơn 0,1. Trong đá hiếm gặp vật
liệu hữu cơ, đây là tầng chắn tốt cho cả dầu lẫn khí.
Tầng chắn địa phương I-tầng sét nóc tập CL4-2, nằm dưới tầng phản xạ địa
chấn CL41. Đây là tập sét tạp, biển nông, nằm phủ trực tiếp trên các vỉa sản phẩm
23, 24 (mỏ Rạng Đông và Bạch Hổ)… Chiều dày tầng chắn dao động từ 60-150m.
Hệ số phân lớp 0,1- 0,47. Hàm lượng sét trung bình là 51%. Sét phân lớp dày, đây
là tầng chắn thuộc loại tốt, phát triển rộng khắp trong phần trũng sâu của bể.
Tầng chắn địa phương II - tầng sét thuộc hệ tầng Trà Tân giữa và trên, phát
triển chủ yếu trong phần trũng sâu của bể. Chiều dày tầng sét này dao động mạnh từ
không cho đến vài trăm mét, có nơi đạt trên nghìn mét. Đây là tầng chắn quan trọng
của bể Cửu Long, nó quyết định sự tồn tại các bẫy chứa là móng nứt nẻ trước
Kainozoi. Kết quả khoan tìm kiếm thăm dò cho thấy các thân dầu đã phát hiện trong
tầng móng nứt nẻ như các mỏ: Đông Nam Rạng Đông, Bạch Hổ, Rạng Đông, Hồng
Ngọc, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng…đều có sự hiện diện của tầng chắn này, phủ kín
toàn bộ diện tích và đặc biệt là phần đỉnh móng với chiều dày đạt tới một vài trăm
mét.
Tầng chắn địa phương III-tầng sét thuộc hệ tầng Trà Cú. Đây là tầng chắn
mang tính cục bộ, có diện tích phân bố hẹp. Chúng thường phát triển bao quanh các
19
khối nhô móng cổ, rất hiếm khi phủ kín cả phần đỉnh của khối nâng móng. Sét chủ
yếu là đầm hồ, phân lớp dày, có khả năng chắn khá tốt, đặc biệt các thân cát long
sông nằm dưới hoặc trong chúng. Những phát hiện dầu (Bạch Hổ, Rạng Đông) và
khí condensate (Sư Tử Trắng) là bằng chứng về khả năng chắn của tầng này.
1.2 Cấu tạo XY
lát cắt địa chất có thể chia ra các phân vị địa tầng sau:
Đá móng trước Kainozoi
Đá móng là các đá macma-biến chất, nứt nẻ phong hóa và được mở ra tại
các giếng khoan SOI-1X, SOI-2X, XY-2X, chủ yếu là đá biến chất gneis biotit. Tại
giếng SOI-1X, SOI-2X, XY-2X, móng được mở ra lần lượt tại các chiều sâu tuyệt
đối -3160.4m(3192 mMD), -2246.6 m(2278.2mMD), -3387.0 m (3475.0 mMD).
Theo kết qủa phân chia địa tầng giếng khoan thăm dò XY-2X, đá móng trước
kainozoi được mở ra trong khoảng độ sâu tuyệt đối 3387-3886 m(3475-3990 mMD)
với tổng chiều sâu khoan vào đá móng là 515 m. Đá móng trong khoảng chiều sâu
này chủ yếu là đá biến chất gneis biotit, từng phần chứa granat, màu xám, xám tối
với kiến trúc hạt vảy biến tinh, cấu tạo phân dải phát hiệnng dạng gneis do sự định
hướng gần song song của các tầm biotit. Đá chặt xít, cứng với các bao thể pyrite.
Thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, plagiocla, biotit và hạn hữu là octocla.
Ngoài ra có một số khoáng vật phụ là sfen, zircon và hạn hữu là epidot. Đá bị biến
đổi mạnh bởi biến đổi thứ sinh như zeolit hóa biotit và felspat, sự thay thế biotit
bằng magmetit, serixit hóa plagiocla. Đá bị nứt nẻ yếu, các khe nứt phần lớn có
dạng trong hạt, ngắn và bị lấp đầy bởi zeolit.
Trầm tích Kainozoi
Bao gồm các tập trâm tích thuộc thống Paleogen, Neogen, Đệ Tứ và được
chia làm 6 điệp. Trong Oligoxen bao gồm: điệp Trà Cú (Oligoxen dưới), điệp Trà
Tân (Oligoxen trên), trong Mioxen gồm: điệp Bạch Hổ (Mioxen dưới), Côn Sơn
(Mioxen giữa) và Đồng Nai (Mioxen trên). Trầm tích Plioxen và Đệ Tứ được gộp
lại trong hệ tầng Biển Đông.
Oligoxen dưới, Điệp Trà Cú ( P31)
Được xác định trên mặt cắt địa chấn giữa hai tầng phản xạ SH-11 và SH-B,
được mở ra trong khoảng độ sâu 3357.0-3470.0 mMD (CSTĐ 3267.0-3387 m) tại
giếng khoan XY-2X, với chiều dày khoảng 120 m. Chiều dày điệp trầm tích
Oligoxen dưới thay đổi từ 100 đến 150m (giếng khoan SOI-1X là 118m ). Theo kết
qủa khoan ở khu vực cấu tạo XY, Sói, trầm tích Oligoxen dưới có thành phần thạch
mỏng đá phiến sét màu nâu đen. Trên mặt cắt địa chấn, ranh giới trên của điệp này
là bề mặt bất chỉnh hợp tương ứng với nóc tầng phản xạ địa chấn SH-8 (nóc tập D).
Theo kết quả phân chia địa tầng các giếng khoan thăm dò SOI-1X, SOI-2X, XY2X, XY-3X, chiều dày trầm tích của điệp này thay đổi từ 100 -900 m từ ranh giới
tập đến chiều sâu kết thúc của các giếng khoan khu vực cấu tạo Sói và Cá Tầm.
Trong khoảng địa tầng này, tại khu vực Cá Tầm các giếng khoan XY-2X, XY-3X và
XY-4X có biểu hiện dầu khí trong quá trình khoan và kết quả thử vỉa trong Intra
Oligoxen trên (SH-8b) đã cho dòng dầu khí với lưu lượng lớn. Theo kết quả phân
tích cổ sinh địa tầng các giếng khoan XY-2X và XY-3X, các tập trầm tích trong
Intra Oligoxen trên(SH-8b) chủ yếu là các tập cát kết ackoz có độ chọn lọc trung
bình được thành tạo trong môi trường ven hồ với thành phần chủ yếu là thạch anh,
k-feldspar, plagiocla, mica và cùng với một ít mảnh granit.
22
Hình 1. 6 Cột địa tầng tổng hợp lô 09-3/12, cấu tạo XY
Phụ điệp Trà Tân trên (Tập SH-7): gồm chủ yếu là sét kết màu xám, xám
tối, xám nâu, mềm đến cứng, bán khối, mức độ gắn kết trung bình xen kẹp với các
lớp cát kết màu trắng nhờ, trong suốt đến trong mờ, hạt mịn đến trung, độ chọn lọc
tốt, đối khi gặp các lớp đá phiến sét màu nâu đen. Trên mặt cắt địa chấn, ranh giới
trên của điệp này là bề mặt bất chỉnh hợp tương ứng với tầng phản xạ địa chấn SH-7
(nóc tập C). Theo kết quả phân chia địa tầng các giếng khoan thăm dò SOI-1X,
SOI-2X và XY-2X, XY-3X, XY-4X chiều dày trầm tích của điệp này thay đổi 0 -
23
250 m. Khi khoan qua khoảng địa tầng này, đã có biểu hiện dầu khí và đã lấy được
một mẫu dầu tại độ sâu 2372 mMD từ kết quả khảo sát MDT giếng XY-2X.
Theo kết quả phân tích cổ sinh địa tầng các giếng khoan trong khu vực
nghiên cứu, tuổi Oligoxen muộn được xác định trên cơ sở các bằng chứng sự có mặt
XY-4X khẳng định trữ lượng dầu khí các tầng sản phẩm ( 23, 24, 25, 27) lô 09-3/12
với độ rỗng lớn và bão hòa dầu cao. Trầm tích của phần này chứa phức hệ bào tử
phấn nghèo nàn, tìm thấy một số hóa đá Botryococcus spp., Bosedinia
infragranulata,
Crassoretitriletes
nanhaiensis,
Stenochlaena
palustris,
Polypodiisporites perverrucatus và ít bào tử phấn thuộc nội lục, và palynomaceral
loại 1 và 4 cho thấy môi trường trầm tích là đồng bằng bồ tích sông đến ven hồ.
24
Mioxen giữa, Điệp Côn Sơn ( N12)
Được xác định giữa tầng phản xạ SH-3 và SH-2, hệ tầng này có chiều dày
dao động trong khoảng 190-650m, trầm tích được đặc trưng bởi cát kết, cát bở rời
và xen kẽ không đồng đều với sét kết, bột kết, đôi khi xen kẹp với các lớp than và
glauconit mỏng.
Mioxen trên, Điệp Đồng Nai ( N13)
Được xác định giữa tầng địa chấn SH-2 và SH-1, điệp này có chiều dày dao
động trong khoảng 650-700m, trầm tích chủ yếu là cát xen lẫn với sét, bột, đôi chỗ
có các lớp than lẫn trong sét, bột kết. Trầm tích của điệp này được hình thành chủ
yếu trong môi trường biển nông ven bờ.
Plioxen + Đệ tứ, Điệp Biển Đông ( N2 + Q)
Được xác định từ đáy biển đến tầng phản xạ SH-1, điệp này có chiều dày dao
động trong khoảng 650-700m, thành phần chủ yếu bao gồm cát hạt thô (chủ yếu là
thạch anh), xen kẹp với các lớp sét, bột giàu hóa thạch. Trầm tích của điệp này hình
thành chủ yếu trong môi trường biển nông.
1.2.2.2 Kiến tạo
Đặc điểm cấu - kiến tạo của khu vực lô 09-3/12 và lân cận chịu ảnh hưởng
đoạn Oligoxen. Ảnh hưởng về mặt hình thái của bề mặt móng đối với hình thái của
các trầm tích Oligocen giảm dần từ dưới lên trên dọc theo mặt cắt.
Tầng cấu trúc Mioxen-Pleistoxen được đặc trưng bởi địa hình tương đối
phẳng và sự giảm đột ngột số lượng của các đứt gãy.
Hệ thống đứt gãy trong lô 09-3/12 có thể phân chia thành 2 nhóm chính dựa
trên cơ sở lịch sử hình thành và phân bố: hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc-Tây