i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là kết quả công trình nghiên cứu khoa học do tôi
thực hiện trong quá trình học tập và thời gian thực tập tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh
Thanh Hoá, dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS.TS Lê Trọng Hùng, số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực chưa từng được sử dụng ở luận
văn nào trong và ngoài nước.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày .....tháng .... năm 2014
TÁC GIẢ
Đỗ Viết Dực
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Trọng Hùng đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới thầy, cô giáo Trường Đại học lâm nghiệp Việt
Nam, Khoa đào tạo sau đại học, đặc biệt là các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy,
hướng dẫn tôi hoàn thành khoá học.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Văn phòng HĐND-UBND và các Phòng,
Ban chuyên môn huyện Tĩnh Gia, Chi cục Thống kê huyện Tĩnh Gia, UBND xã Tân
Trường, xã Nguyên Bình, xã Hải Bình và các hộ gia đình là những cơ quan, cá nhân
đã tạo điều kiện cung cấp những thông tin làm tư liệu, tài liệu tham khảo liên quan,
giúp tôi hoàn thành đề tài này.
1.1.6. Xu hướng và chính sách trong phát triển nông nghiệp bền vững .. 14
1.2. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững trên thế giới và ở việt
nam............................................................................................................... 15
1.2.1. Trên thế giới ................................................................................... 15
1.2.2. Ở Việt Nam .................................................................................... 19
1.3. Bài học kinh nghiệp cho phát triển nông nghiệp bền vững .................. 22
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 25
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện tĩnh gia ................................. 25
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên .......................................................................... 25
iv
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Tĩnh Gia .............................. 31
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 35
2.2.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu .................................................. 35
2.2.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát............................... 39
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu ............................................ 39
2.2.4. Phương pháp phân tích số liệu ....................................................... 40
2.2.5. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội sử dụng trong nghiên cứu của đề tài . 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 44
3.1. Đánh giá tình hình phát triển kinh tế, xã hội huyện tĩnh gia ................ 44
3.1.1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về KT-XH ...................................... 44
3.1.2. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ................................... 46
3.1.3. Vai trò của nông, lâm, thuỷ sản đối với kinh tế của huyện Tĩnh Gia
.................................................................................................................. 49
3.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện tĩnh gia ......................... 49
3.2.1. Đánh giá chung về tình hình phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản
.................................................................................................................. 49
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
PTNN
Phát triển nông nghiệp
KT
Kinh tế
KT-XH
Kinh tế xã hội
KTNN
Kinh tế nông nghiệp
PTNNBV
Phát triển nông nghiệp bền vững
UBND
HTX
Hợp tác xã
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DTTN
Diện tích tự nhiên
CN-XD
Công nghiệp – Xây dựng
TMDV
Thương mại dịch vụ
NLN
Nông lâm nghiêp
CCCT
NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
GPMB
Giải phóng mặt bằng
TĐC
Tái định cư
SXKD
Sản xuất kinh doanh
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
TT
Trang
3.6
Sự tăng/giảm thu nhập NN của các HGĐ trong giai đoạn 2010-2012
51
3.7
Cơ cấu đất đai các tiểu ngành NLN và Thủy sản giai đoạn 2010-2012
52
3.8
Cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông - lâm - thủy sản của
các HGĐ được phỏng vấn
54
3.9
Cơ cấu lao động huyện Tĩnh Gia giai đoạn 2010- 2012
55
3.10
Giá trị và cơ cấu phát triển tiểu ngành SXNN Tĩnh Gia 2010-2012
67
3.16
Kết quả trồng và khai thác rừng giai đoạn 2010-2012 huyện Tĩnh Gia
69
3.17
Cơ cấu GTSX ngành thủy sản huyện Tĩnh Gia
71
3.18
Diện tích, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản huyện Tĩnh Gia
71
3.19
Một số chỉ tiêu xã hội chủ yếu giai đoạn 2010-2012 của huyện Tĩnh Gia
75
3.20
Một số chỉ tiêu môi trường giai đoạn 2010-2012 của huyện Tĩnh Gia
34
3.1
Cơ cấu giá trị ngành nông, lâm, thủy sản 2010-2012
50
3.2
Cơ cấu đất đai các tiểu ngành NLN và thủy sản giai đoạn 2010-2012
53
3.3
Cơ cấu GTSX ngành lâm nghiệp huyện Tĩnh Gia
68
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành trực tiếp sản xuất ra lương thực thực phẩm phục vụ nhu
cầu thiết yếu cho con người, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành kinh tế
khác, góp phần rất quan trọng vào sự phát triển KT-XH, ổn định chính trị, an ninh
lương thực của các Quốc gia, đặcTbiệt là đối với các nước đang phát triển.
Tĩnh gia là huyện lâu đời, cũng là huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa, huyện có
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu quá trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của
huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung:
+ Các hoạt động trong PTNN bền vững của huyện.
+ Tính bền vững trong lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp được xem xét
trên 3 khía cạnh: Phát triển ổn định về mặt kinh tế, về mặt xã hội và bền vững về
môi trường sinh thái.
- Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa;
- Phạm vi về thời gian:
Nghiên cứu các vấn đề về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
bền vững trong giai đoạn 2010 – 2012.
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về PTNN, PTNN bền vững.
- Nghiên cứu thực trạng PTNN bền vững của huyện Tĩnh Gia trong giai đoạn
2010 - 2012.
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy PTNN theo hướng bền vững tại huyện Tĩnh
Gia, giai đoạn 2013 – 2015 và định hướng đến năm 2020.
3
Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.1. Khái niệm về nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm
triển nông nghiệp đáp ứng cho nhu cầu đời nay mà không ảnh hưởng đến khả năng
đáp ứng nhu cầu của đời sau. Thực hiện xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội.
Đó là một nền sinh thái hội đủ các yếu tố đa dạng sinh học. Phát triển
nhưng bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên.
Đó là nền nông nghiệp sản xuất có hiệu quả nhất, bền vững nhất về kinh
tế, nền nông nghiệp khai thác hài hoà tự nhiên trong mối quan hệ bền vững với con
người cho hiện tại và nhu cầu của tương lai.
Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống nông nghiệp bền
vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu
cầu ngày càng tăng của con người mà không làm suy thoái đất đai, không làm ô
nhiễm môi trường trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên.
Để đạt được mục đích của mình, nông nghiệp bền vững chủ trương kết hợp
giữa: (1) khảo sát, học hỏi từ các hệ sinh thái tự nhiên để vận dụng vào các hệ sinh
thái nông nghiệp, với (2) kho tàng kiến thức cổ truyền, kiến thức bản địa phong phú
trong quản lý và sử dụng tài nguyên, và (3) kiến thức khoa học và công nghệ hiện
đại. Và như vậy, nông nghiệp bền vững sẽ tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp có
khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm cho con người và thức ăn cho chăn nuôi
cao hơn các hệ sinh thái tự nhiên trên cơ sở sử dụng nguồn năng lượng không độc
hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng. Không những chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã
có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã suy thoái.
Sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp với sự trợ giúp của các thành tựu
khoa học kỹ thuật trong vài thập kỷ gần đây đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của trái đất
và làm thay đổi sâu sắc cuộc sống của con người. Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối
đa trước mắt nên cũng đã gây ra không ít những hậu quả tiêu cực, đe doạ tương lai
5
và sự phồn vinh của nhân loại, trước hết là nạn ô nhiễm môi trường, mất rừng và
suy thoái đất, làm xói mòn tính đa dạng sinh học, thay đổi thành phần khí quyển
Yếu tố đó có lợi cho yếu tố khác như thế nào và không phù hợp với
những yếu tố khác ở những mặt nào?
Phải sắp đặt các yếu tố sao cho hệ thống vận hành có hiệu quả nhất và tốt nhất.
Mỗi yếu tố phải đảm bảo nhiều chức năng: Mỗi yếu tố trong hệ thống phải
được chọn lọc và đặt vào vị trí có thể đảm bảo được nhiều chức năng nhất: hồ ao có
thể dùng nuôi cá, nuôi vịt, trữ nược tưới, nước cứu hoả....Bờ mương trồng cây chắn
gió, trồng cây ăn quả, là đường đi và là nơi chăn thả gia súc...
Tìm giải pháp chứ không phải nêu vấn đề.
Hợp tác chứ không cạnh tranh.
Làm cho mọi thứ đều sinh lợi (chất thải thành phân bón, dùng nuôi cá...).
Chỉ làm những việc đó khi chắc chắn đem lại hiệu quả.
Tận dụng mọi thứ đến khả năng cao nhất của chúng (bố trí hệ thống cây
trồng hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng này có
thể dùng để sưởi ấm, nấu ăn, quạt mát, bơm nước...).
Đưa việc sản xuất thực phẩm vào các khu đô thị (tận dụng khả năng để sản
xuất rau quả, nuôi gia cầm... ngay tại các đô thị).
Giúp cho mọi người tự tin ở mình, mọi người ai cũng có khả năng tự tìm ra
các giải pháp thích hợp để cải thiện chất lượng cuộc sống.
Chi phí hay đầu tư thấp để đạt được năng suất cao nhất (chọn chỗ đắp đập ít
tốn công nhất nhưng lại giữ được nhiều nước nhất…)
Đặc trưng của hệ thống nông nghiệp bền vững.
Bền vững theo không gian:
Khi xác định tính bền vững của hệ thống nông nghiệp, chúng ta phải cân nhắc
giới hạn tính bền vững trong phạm vi không gian: cánh đồng, nông trại, vùng hay ở
các mức hệ thống lớn hơn. Điều đó có nghĩa là ở mức phạm vi không gian này, hệ
thống nông nghiệp được coi là bền vững, nhưng ở mức phạm vi không gian lớn hơn
của hệ thống thì chưa chắc nó đã bền vững.
Bền vững theo thời gian:
Nội dung phát triển bền vững về mặt kinh tế:
+ Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông nghiệp.
8
+ Kết quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng cao.
+ Sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Để phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế cần phải đáp ứng các tiêu chí
cụ thể sau:
+ Gia tăng phần hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước,
+ Gia tăng lợi nhuận,
+ Gia tăng sản lượng, gia tăng giá trị sản lượng,
+ Gia tăng sản phẩm hàng hoá, gia tăng giá trị sản phẩm hàng hoá,
+ Tăng năng suất lao động, năng suất cây, con.
Như vậy, phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế là sử dụng hiệu quả các
nguồn lực để tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng để đáp ứng nhu cầu
xã hội về sản phẩm nông nghiệp.
Phát triển nông nghiệp bền vững về xã hội
Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội đó chính là sự đóng góp cụ thể của
nông nghiệp cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển. Phát triển
bền vững nông nghiệp về xã hội phải đảm bảo để cuộc sống của người nông dân đạt
kết quả ngày càng cao, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống gia đình, cải thiện
chất lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo
giữa các tầng lớp và nhóm xã hội. Giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ văn
minh về đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân.
Nội dung phát triển bền vững về mặt xã hội:
+ Nâng cao thu nhập của người nông dân và giảm khoảng cách giàu nghèo ở
các nhóm dân cư.
+ Tăng cường khả năng tạo việc làm và khả năng giải quyết việc làm.
hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo duy trì độ
màu mỡ của đất, giảm thiểu sự ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Như vậy, phát triển bền vững là trung tâm, là sự hài hòa của các giá trị kinh tế
- xã hội – môi trường… trong quá trình phát triển. Tính bền vững của hệ thống sản
xuất nông nghiệp là kết quả của sự kết hợp ba nội dung nói trên. Nếu một yếu tố
nào đó gây tác động tiêu cực hoặc giữa chúng phát sinh những tác động ngược
chiều nhau thì toàn bộ hệ thống bị ảnh hưởng. Nỗ lực phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững phải được đặt ra và giải quyết trong mối quan hệ tổng thể này.
1.1.3. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế trong nông nghiệp
Quan điểm phổ biến hiện nay đánh giá PTNN là xác định rõ cả về vấn đề định
tính và định lượng của hoạt động phát triển kinh tế NN trong một thời kỳ nhất định.
10
- Về định lượng bao gồm: Giá trị SXNN; Mức và tốc độ tăng giá trị SXNN;
Năng suất nông nghiệp; Việc làm và thu nhập lao động.
- Về định tính gồm: Thay đổi đóng góp của các ngành, tiểu ngành trong nội bộ
nông nghiệp; Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong SXNN.
1.1.4. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
1.1.4.1. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật
Nếu đối tượng sản xuất của công nghiệp phần lớn là các vật vô tri, vô giác thì
nông nghiệp có đối tượng sản xuất là sinh vật, mà sinh vật lại là những cơ thể sống.
Sinh vật sinh trưởng và phát triển theo các qui luật riêng có của chúng và đồng
thời lại chịu tác động từ điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, môi trường. Các
qui luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh này tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan
của con người.
Do đối tượng của sản xuất là sinh vật nên quá trình sản xuất nông nghiệp cần
lưu ý những vấn đề cơ bản sau:
- Trong nông nghiệp, quá trình tái sản xuất kinh tế liên hệ mật thiết với quá
vừa giữ gìn và bảo vệ đất đai. Quĩ đất phải được bảo tồn cả cho lợi ích trước mắt
cũng như mục tiêu lâu dài.
1.1.4.3. Nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn
Ở đâu có đất đai và lao động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp của nước ta phân bố trên khắp các vùng trên cả nước.
- Do tư liệu lao động của nông nghiệp là đất đai.
- Mỗi vùng đất lại có điều kiện đất đai và điều kiện thời tiết – khí hậu khác
nhau nên mỗi vùng thường có lợi thế so sánh riêng của mình.
Vì vậy, việc bố trí cây giống, con giống phù hợp với mỗi vùng, mỗi địa phương,
nhằm tạo điều kiện cho cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, đem lại hiệu quả cao.
1.1.4.4. Sản phẩm nông nghiệp vừa được tiêu dùng tại chỗ lại vừa trao đổi trên thị
trường
Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra được người sản xuất giữ lại một phần để
tiêu dùng, một phần bán ra thị trường.
Sản phẩm tiêu dùng nội bộ gồm các sản phẩm được giữ lại nhằm đáp ứng nhu
cầu lương thực, thực phẩm của gia đình, làm giống cho các vụ sản xuất tiếp.
12
Phần còn lại được đem bán ra thị trường (cho người tiêu dùng trực tiếp, cho
các doanh nghiệp thu mua….).
Vì thế nông sản có thể tham gia vào rất nhiều kênh thị trường. Tỷ trọng sản
phẩm bán ra phụ thuộc vào mục tiêu của người sản xuất, trình độ phát triển của cả
hệ thống thị trường và thông tin mà người sản xuất có được.
1.1.4.5. Cung về nông sản hàng hoá và cầu về đầu vào cho nông nghiệp mang tính
thời vụ
Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật mà thời gian sản xuất và
thời gian lao động không trùng khít với thời gian lao động và sinh ra tính thời vụ.
Đặc điểm này dẫn đến sự biến động lớn về giá cả nông sản cũng như vật tư, nguyên
- Sự phát triển của công nghiệp làm cho các khí thải, rác thải độc hại của các
nhà máy được đưa ra môi trường….. Điều này đã làm môi trường bị giảm cấp, suy
giảm cả về số và chất lượng.
1.1.5.3. Áp lực về dân số
Sự bùng nổ về dân số là nguyên nhân quan trọng làm cho nông nghiệp chậm
phát triển và không bền vững. Mật độ dân số ngày càng cao làm cho sức ép sử dụng
tài nguyên thiên nhiên càng lớn và nó cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản
làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
1.1.5.4. Tài nguyên suy giảm
Tài nguyên thiên nhiên, đất, nước, rừng… bị suy giảm nghiêm trọng cả về số
và chất lượng, giảm khả năng đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm trong
tương lai.
1.1.5.5. Sử dụng quá mức đầu vào các chất hoá học
Các đầu vào có nguồn gốc hoá học như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đã
được dùng ở mức cao. Sự lạm dụng quá đáng các loại đầu vào này đã làm giảm khả
năng vốn có của hệ sinh thái nông nghiệp, diệt trừ các sinh vật có lợi và làm tăng
nguy cơ phá hoại của sâu bệnh, ô nhiễm các nguồn nước, không khí, tạo nên hàm
lượng cao về các sản phẩm hoá học tồn đọng ở sản phẩm không có lợi cho con
người. Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò và cách sử dụng các đầu vào có nguồn
gốc hoá học khi xây dựng chiến lược cho phát triển nông nghiệp bền vững.
1.1.5.6. Sự mất cân bằng sinh thái, mất đa đạng sinh học
14
Hậu quả của việc sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên, tạo ra một thách
thức mới cho nền nông nghiệp, đó là sự mất tính đa dạng sinh học, nhiều loài thực
vật biến mất…, làm cho quỹ gen ngày càng nghèo đi, do đó làm giảm khả năng phát
triển bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp.
1.1.6. Xu hướng và chính sách trong phát triển nông nghiệp bền vững
1.2.1.1. Thái Lan
Thái Lan là một nước có nền nông nghiệp gần tương đồng với Việt Nam, với
số lượng dân sống bằng nghề nông chiếm tỷ trọng lớn. Sản lượng nông nghiệp của
Thái Lan đạt 16% giá trị sản phẩm quốc dân (GDP) và chiếm 48% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã
áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ
của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn
trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho
nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết
lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân. Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà
nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm
hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị… Bên cạnh đó Thái Lan còn tính
toán phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó
góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi
những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; Giải quyết tốt những mâu thuẫn về tư
tưởng trong nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản,
đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác.
Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Thái Lan đã có chiến lược trong xây dựng và
phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy
lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao
năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình
điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển
khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã tập
trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp
nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền
16
17
hiếm hoi, diện tích đất canh tác 910.000ha, đất đồng cỏ 1.020.000ha, bình quân diện
tích đất canh tác khoảng 0,058 ha/người, là mức thấp nhất của thế giới.
Lao động nông nghiệp chiếm 3,6% số lao động xã hội, tỷ trọng nông nghiệp
chiếm 3% GDP, có nghĩa là GDP tạo ra từ 1 lao động nông nghiệp có thấp hơn 1
chút so với GDP được tạo ra từ một lao động nói chung của toàn nền kinh tế, nghĩa
là thu nhập giữa thành thị và nông thôn, thị dân và nông dân tuy có chênh lệch,
nhưng rất nhỏ. Ở Hà Lan, nông nghiệp không còn là một ngành ở “thế yếu”. Vì
thiếu đất canh tác, Hà Lan thực thi chiến lược “đầu tư cao-sản xuất nhiều”, là một
đặc trưng nổi bật của nền nông nghiệp Hà Lan. Hệ thống thuỷ lợi và phòng chống lũ
có tiêu chuẩn an toàn cao. Diện tích nhà kính của Hà Lan lớn nhất thế giới (gần
11.000ha), chiếm 25% tổng diện tích nhà kính thế giới. Người Hà Lan luôn tự tìm
tòi khám phá lợi thế so sánh của một nước nhỏ, nghèo tài nguyên thiên nhiên, biết
tranh thủ nguồn lực từ tài nguyên quốc tế và thị trường thế giới để không ngừng đổi
mới cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu hoá, tạo ra những thành công về nông nghiệp.
Ngành chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng nhất của nền nông nghiệp Hà
Lan. Tuy quỹ đất ít, nhưng diện tích đồng cỏ lại lớn hơn diện tích đất canh tác nên
Hà Lan đã phát triển chăn nuôi bò sữa. Chăn nuôi lợn phát triển, quy mô trang trại
ngày càng lớn, những trang trại nuôi trên 1.000 đầu lợn tăng 22%. Sữa bò phát triển
không những tăng thu nhập cho người dân, nâng cao thể chất của người Châu Âu
mà còn được coi là một ngành sản xuất thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội tại Hà
Lan và cả Châu Âu. Ngành sản xuất này tạo tiền đề cho sự phát triển của hợp tác xã
và ngành chế biến cũng là ngành thúc đẩy sự truyền bá công nghệ mới, là nguồn tạo
tích luỹ vốn, cũng là ngành giúp nông dân dễ tiếp cận phương thức sống của đô thị.
Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm sữa bò chiếm tới 15% tổng mức xuất khẩu
nông sản toàn thế giới.
Ngành thuỷ sản và lâm nghiệp: Hà Lan có 12 cảng cá, là một trong tám nước