Giải pháp tăng cường quản lý gian lận thương mại trên địa bàn thành phố thanh hóa - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------

TRẦN THẾ HÙNG

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ GIAN LẬN
THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------

TRẦN THẾ HÙNG

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ GIAN LẬN
THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã Số: 60620115


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả luôn nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp, quý cơ
quan và người thân. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô
giáo giảng dạy Trường Đại học lâm nghiệp; các thầy cô Khoa Kinh tế nông
nghiệp;Cục Quản lý thị trường; Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hoá; Đội
Quản lý thị trường số 1 và các Cơ quan, Ban ngành có, liên quan ban ngành
cấp tỉnh, cấp Thành phố đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
Ts. Phạm Xuân Phương người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo, bạn bè động
nghiệp, người thân, lãnh đạo Đội Quản lý thị trường số 1 - Chi cục Quản lý
thị trường Thanh Hoá nơi tôi công tác, đã giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày

tháng 3 năm 2014
Tác giả

Trần Thế Hùng


iii

MỤC LỤC

2.3. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài ............................................ 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................... 45
3.1. Thực trạng hoạt động gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai
đoạn năm 2010-2012 ....................................................................................................... 45
3.2. Thực trạng hoạt động gian lận thương mại trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
giai đoạn 2010-2012 ........................................................................................................ 47
3.2.1. Tình hình hoạt động gian lận thương mại ở thành phố Thanh Hóa giai đoạn
2010-2012 .......................................................................................................................... 47
3.1.2. Đánh giá tác hại của gian lận thương mại trên địa bàn thành phố Thanh
Hoá ...................................................................................................................................... 52
3.3. Thực trạng công tác quản lý gian lận thương mại trên địa bàn thành phố Thanh
Hóa của Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa giai đoạn 2010-2012 ..................... 53
3.3.1. Căn cứ pháp lý để đấu tranh chống gian lận thương mại trên địa bàn thành
phố Thanh Hóa ................................................................................................................. 53
3.4. Kết quả công tác đấu tranh chống gian lận thương mại của Chi cục Quản lý
thị trường Thanh Hóa trên địa bàn thành phố Thanh Hóa theo các đối tượng điều
tra......................................................................................................................................... 55
3.4.1. Kết quả đấu tranh chống gian lận thương mại tại Đội Quản lý thị trường số
1 phụ trách địa bàn thành phố Thanh Hóa................................................................... 55
3.4.2. Đánh giá của tổ chức và cá nhân được điều tra về công tác tổ chức thực
hiện chống gian lận thương mại trên địa bàn thành phố Thanh Hoá ..................... 61
3.4.3. Tổng hợp, đánh giá kết quả điều tra phỏng vấn ............................................. 67
3.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý gian lận thương mại trên địa
bàn thành phố Thanh Hóa............................................................................................... 71
3.5.1. Nhân tố kinh tế ...................................................................................................... 71
3.5.2. Những nhân tố văn hoá - xã hội ......................................................................... 72
3.5.3. Những nhân tố từ hệ thống hành pháp và lập pháp ........................................ 72


v


Thực trạng sử dụng quỹ đất thời kỳ 2009 – 2012
Tình hình phát triển kinh tế của thành phố Thanh Hóa Giai
đoạn 2010 – 2012
Cơ cấu giá trị sản xuất của Thành phố Thanh Hóa giai đoạn
2010-2012
Số lượng doanh nghiệp và vốn đầu tư kinh doanh
Số lượng doanh nghiệp vốn đầu tư theo ngành nghề kinh
doanh giai đoạn 2010-2012
Tình hình dân số và lao động của thành phố Thanh Hóa
Số vụ phát hiện xử lý sản xuất buôn bán hàng giả gian lận
thương mại một số năm trên địa bàn thành phố Thanh Hoá
Số vụ kiểm tra xử lý gian lận thương mại của các lực lượng
chức năng từ năm 2010-2012

Trang
27
30

32
35
37
39
57

59

3.3

Tổng hợp điều tra đối với người tiêu dùng


70


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT

Tên hình

Trang

2.1

Cơ cấu giá trị sản xuất của thành phố Thanh Hóa 2010 – 2012

33

2.2

Doanh nghiệp năm 2012 theo loại hình doanh nghiệp

36

2.3

Cơ cấu doanh nghiệp năm 2012 theo ngành nghề kinh doanh


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến gian lận thương mại, trong dân gian từ lâu đã xuất hiện thành
ngữ “buôn gian, bán lận” để chỉ các hành vi lừa dối, mánh khóe trong lĩnh
vực thương mại. Thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua, bán,
xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ, hành vi gian dối, lừa lọc hướng đến mục
đích thu lợi bất chính. Đây là hiện tượng có tính lịch sử, xuất hiện từ lâu và
trong một thị trường cạnh tranh thì gian lận thương mại, theo quy luật của nó,
phát triển đến các mức độ tinh vi hơn là điều không thể tránh khỏi.
Quản lý gian lận thương mại luôn là mối quan tâm của nhiều quốc gia
trên thế giới. Vấn nạn gian lận thương mại ở nước ta trong những năm gần
đây có nhiều diễn biến phức tạp và đang là một trong những trở ngại lớn cho
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước
ta hết sức coi trọng lĩnh vực đấu tranh phòng, chống gian lận thương mại và
đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để ngăn chặn, phòng ngừa tệ nạn này.
Đất nước ta, trong điều kiện hiện nay đang ra sức tập trung thực hiện
thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước từng bước đưa đất nước vào thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì nhiệm vụ quản lý gian lận thương
mại rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực.
Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của
tỉnh Thanh Hóa và là một đô thị phát triển của khu vực Bắc Trung Bộ đồng
thời có sức lan tỏa tới khu vực Nam Bắc Bộ. Diện tích tự nhiên 146,77 km²
với 14 phường và 23 xã, dân số 393.294 người và thành phố đã trở thành một
trong những đô thị lớn nhất của khu vực phía bắc về dân số. Trong những
năm gần đây tình hình buôn lậu và gian lân thương mại trên địa bàn thành phố
phát triển hết sức nhanh chóng.
Vấn đề đặt ra là đánh giá về tình hình gian lận thương mại ở thành phố
diễn ra ở mức độ nào, tác hại đến đâu? Việc tổ chức quản lý gian lận thương
mại ra sao? Giải pháp nào nhằm tăng cường chống gian lận thương mại có




3

+ Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu gian lận thương mại và quản lý gian lận thương mại
trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
+ Phạm vi về thời gian
Đề tài thu thập số liệu được công bố trên các tài liệu, báo cáo,... trong
các năm từ (2010- 2012). Số liệu khảo sát được điều tra, phỏng vấn từ tháng 9
đến tháng 12 năm 2013.
4. Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những vấn đề chính sau đây:
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về gian lận thương mại và quản lý gian lận
thương mại
Đề tài hệ thống hóa một số khái niệm gian lận thương mại. Các hình
thức gian lận thương mại và tác động của gian lận thương mại. Những nội
dung trong quản lý gian lận thương và những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý
gian lận thương mại.
4.2. Thư ̣c tra ̣ng tình hình gian lận thương mại và quản lý gian lận thương
mại trên địa bàn nghiên cứu
Khái quát chung về tình hình hoạt động gian lận thương mại ở thành
phố Thanh Hóa giai đoạn 2010- 2012; Tác hại của gian lận thương mại trên
địa bàn thành phố Thanh Hóa. Công tác quản lý gian lận thương mại tại thành
phố Thanh Hóa
4.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý gian lận thương mại trên địa bàn
nghiên cứu
Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý gian lận thương mại
trong các đối tượng điều tra. Nêu lên tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong
quản lý quản lý gian lận thương mại trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

toàn cầu.
GLTM ở Việt Nam ta không phải là vấn đề mới, từ xa xưa ông cha đã
đúc kết hành vi GLTM thành câu “Buôn gian bán lận” để chỉ những mặt trái
của việc buôn bán, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khoé, lừa dối


5

khách hàng của các gian thương. Ngày nay thực hiện công cuộc đổi mới của
Đảng và Nhà nước, trong điều kiện thực tế của nước ta, Đảng ta đã khẳng
định phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chấp nhận cơ chế thị trường, tất
yếu phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những người
sản xuất và trao đổi hàng hoá nhằm giành cho mình điều kiện sản xuất và điều
kiện tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất. Nguyên nhân và động cơ của cạnh tranh là
lợi nhuận. Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện những hình thức và thủ
đoạn cạnh tranh tiêu cực, phi kinh tế. Đó là hành vi lẩn tránh sự kiểm soát của
Nhà nước như đầu cơ, GLTM, trốn thuế, buôn lậu, lừa đảo, lấy cắp bí mật sản
xuất, làm giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh...
Nói như vậy để thấy rằng chấp nhận cơ chế thị trường ngoài những mặt
tích cực, năng động thu được, chúng ta phải chấp nhận những mặt trái của nó,
trong đó có vấn đề GLTM và hậu quả của GLTM để tìm giải pháp quản lý,
ngăn chặn thích hợp, hiệu quả.
Một thuật ngữ nữa luôn gắn liền với buôn lậu "gian lận thương mại".
Gian lận thương mại theo Từ điển Việt là "dối trá, lừa lọc" trong hoạt động
thương mại. Người có hành vi gian lận thương mại gọi là "gian thương" tức là
"người có nhiều mưu mô lừa lọc"; "kẻ buôn bán gian lận và trái phép".
Hành vi gian lận thương mại trước hết phải là hành vi gian lận nói
chung, nhưng hành vi gian lận này phải được thể hiện trong lĩnh vực thương
mại thông qua đối tượng thể hiện hàng hoá, dịch vụ. Chủ thể của hành vi gian

+ Hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu có điều
kiện mà không có giấy phép nhập khẩu hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp theo quy định kèm theo hàng hóa khi lưu thông trên thị
trường;
+ Hàng hóa nhập khẩu không đi qua cửa khẩu quy định, không làm thủ
tục hải quan theo quy định của pháp luật hoặc gian lận số lượng, chủng loại
hàng hóa khi làm thủ tục hải quan;


7

+ Hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường không có hóa đơn,
chứng từ kèm theo theo quy định của pháp luật hoặc có hóa đơn, chứng từ
nhưng hóa đơn, chứng từ là không hợp pháp theo quy định của pháp luật về
quản lý hóa đơn;
+ Hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật phải dán tem nhập
khẩu nhưng không có tem dán vào hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc
có tem dán nhưng là tem giả, tem đã qua sử dụng.
- Sản xuất, buôn bán hàng giả;
Sản xuất buôn bán hàng giả là hành vi gian lận thương mại mà hàng
hóa vi phạm bao gồm
+ Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng,
công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng
hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng
đã công bố hoặc đăng ký;
+ Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính hoặc tổng các chất
dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống
so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp
dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
+ Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược

bì hàng hóa.
- Hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ:
Hành vi xâm phạm về sở hữu trí tuệ gồm: xâm phạm kiểu dáng công
nghiệp; xâm phạm sáng chế, giải pháp hữu ích; xâm phạm bí mật kinh doanh,
xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
- Hàng hóa không đảm bảo an toàn thực phẩm:
Hàng hóa là thực phẩm được sản xuất, kinh doanh vi phạm các quy
định về an toàn thực phẩm có khả năng gây hại đến sức khỏe, tính mạng con
người bao gồm các hành vi:
+ Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế
biến thực phẩm.


9

+ Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ
nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực
phẩm.
+ Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá
thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục
được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất
không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh thực phẩm.
+ Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên
nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
+ Sản xuất, kinh doanh thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ
thuật tương ứng; thực phẩm bị biến chất; thực phẩm có chứa chất độc hại
hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép; thực
phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến
dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm; thịt hoặc sản phẩm

bán, chất lượng hàng hóa, dịch vụ tại thời điểm giao hàng, cung ứng dịch vụ;
+ Lợi dụng khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh và điều kiện bất thường khác; lợi dụng chính sách của Nhà nước để định
giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý;
+ Các hành vi chuyển giá, thông đồng về giá dưới mọi hình thức để trục lợi.
- Hành vi đầu cơ, găm hàng
Đầu cơ, găm hàng là hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hàng hóa để
mua vét, mua gom hàng hóa hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hóa giả tạo trên
thị trường.
b. Tác động của gian lận thương mại
- Tác động tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân
+ Ảnh hưởng của buôn lậu và kinh doanh hàng hóa nhập lậu: gây giảm
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, các nhà nhập khẩu, kinh doanh hàng nhập
khẩu hợp pháp.


11

+ Ảnh hưởng của các hành vi gian lận thương mại khác: sản xuất buôn
bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm,
hàng vi phạm sở hữu trí tuệ… trước hết gây thiệt hại cho người tiêu dùng, họ
tiêu tốn tài chính nhưng không nhận lại được giá trị sử dụng tương ứng; gây
thiệt hại cho nhà sản xuất, kinh doanh chân chính, thương hiệu của họ bị mất
lòng tin, doanh số bán hàng bị sụt giảm có thể dẫn tới phá sản.
Các hành vi gian lận thương mại nói chung gây suy yếu nền kinh tế
quốc dân, làm giảm lòng tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh.
- Tác động tới trật tự an toàn xã hội
GLTM với các hình thức khác nhau xuất hiện ở khắp mọi nơi trong cả
nước, sự xuất hiện và hoạt động của chúng đã gây rối loạn và xáo trộn về trật tự
an ninh, an toàn xã hội. Chúng tổ chức buôn lậu thành đường dây từ khâu mua,

- Tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng
Trong điều kiện đất nước còn nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, sản xuất
trong nước còn gặp nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp, chất lượng sản
phẩm chưa cao, giá thành và chi phí sản xuất cao, các sản phẩm trong nước
khó hoặc không thể cạnh tranh được với hàng lậu, gian lận cùng loại, nhiều
doang nghiệp sản xuất phải đứng trước nguy cơ đóng cửa do không tiêu thụ
được sản phẩm. Một số hàng có được do buôn lậu và gian lận thuế được bán
với giá thấp (nhưng chất lượng cao hơn do được sản xuất với công nghệ hiện
đại, chi phí cho sản xuất thấp,...) đã chiếm lĩnh thị trường nội địa làm cho
doanh nghiệp phải điêu đứng và không bảo vệ được kế hoạch sản xuất kinh
doanh của mình. Một số mặt hàng buôn lậu và gian lận có chất lượng kém
nhưng mẫu mã đẹp giá thấp hơn nhiều so với giá của sản phẩm trong nước,
làm cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gặp nhiều khó khăn trở ngại
trong cạnh tranh, tiêu thụ và cải tiến chất lượng sản xuất, hạ giá thành, giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động.


13

GLTM không chỉ tác động đến sản xuất trong nước mà còn tác động rất
lớn đến người tiêu dùng trong nước. Một số khách hàng thích và ưu tiên dùng
hàng ngoại, hàng rẻ, dễ bị lừa gạt vì trong số đó có những mặt hàng như dược
phẩm thuốc bảo vệ thực vật,... không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn gây
thiệt hại cả về sức khoẻ, tính mạng cho cả người và động vật, thực vật, thiệt
hại cả về ngắn hạn lẫn lâu dài do hàng hoá kém, quá hạn sử dụng, hàng giả,...
không đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Một số mặt hàng như ma tuý,
chất kích thích,... không chỉ tác động đến sức khoẻ mà còn tác động đến đạo
đức, lối sống của người tiêu dùng, làm suy đồi tư tưởng đạo đức và gây ra các
tệ nạn khác như: trộm cắp, cướp giật, giết người,... Các mặt hàng như thuốc
nổ, thuốc súng tác động đến tính mạng, an ninh chính trị quốc gia, gây rối

+ Căn cứ vào trị giá thực tế của hàng hoá
+ Không được dựa vào trị giá hàng hoá của nước xuất xứ hoặc trị giá
áp đặt tuỳ tiện vô căn cứ.
+ Phải là mức giá mà ở mức giá đó, hàng hoá tương tự có thể bán trong
chu kỳ kinh doanh bình thường với điều kiện cạnh tranh lành mạnh, không có
sự thông đồng giữa người bán với người mua để lập chứng từ giả làm sai lệch
trị giá thực của hàng hoá xuất nhập khẩu.
Đến năm 1994, hiệp định này được sửa đổi thành Hiệp định thực hiện 7
GATT -1994 gồm 4 phần 24 điều.
- Qui định trong công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà hoá toàn
bộ thủ tục Hải quan (Công ước KYOTO).
Công ước này được làm tại KYOTO - Nhật Bản ngày 18/5/1973 và đã
được chấp nhận tại kỳ họp 41/42 của Hội đồng Hợp tác Hải quan thế giới (
nay là Tổ chức Hải quan thế giới WCO).
Mục đích của Công ước là đơn giản hoá và hài hoá hoá thủ tục Hải
quan giữa các nước, đưa ra các chuẩn mực về thủ tục Hải quan cho từng loại
hình xuất nhập khẩu nhằm vừa tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại


15

quốc tế và các giao lưu quốc tế khác, vừa chống Buôn lậu và gian lận thương
mại có hiệu quả, thúc đẩy các giao lưu quốc tế vì lợi ích chung của mọi quốc
gia thành viên.
Điểm quan trọng nhất khi áp dụng Công ước KYOTO là phải đạt được
mục tiêu đơn giản hoá, hài hoà hoá thủ tục Hải quan đạt đến tính trong sáng,
dễ hiểu trong thủ tục, tránh được sự mập mờ để cho gian lận thương mại có
cơ hội lợi dụng. Khi tham gia ký kết Công ước KYOTO và các phụ lục của
Công ước phải tính đến hiệu quả của công tác đấu tranh chống buôn lậu và
gian lận thương mại để hoàn chỉnh các luật pháp quốc gia, loại bỏ môi trường

liên quan để từng bước thống nhất hoá thủ tục Hải quan, cải thiện môi trường
kinh doanh theo thông lệ quốc tế phục vụ cho thương mại quốc tế hoạt động
hiệu quả.
Năm 1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với 137 nước thành
viên đã quy định một hệ thống các quy tắc ứng xử đối với thương mại quốc tế
trong đó có cả các quy tắc về sở hữu trí tuệ. Việc đưa ra nội dung sở hữu trí
tuệ vào Hiệp định chung về thuế quan (GATT) đã chứng minh mối quan hệ
ngày càng tăng giữa sở hữu trí tuệ và thương mại. Đó cũng là lý do Hiệp định
về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
(Agreement on Trade-Related Aspects of Interllectual Property Rights, gọi tắt
là TRIPS) được ký kết vào ngày 15/4/1994 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày
1/1/1995. Theo Hiệp định TRIPS, bảo hộ sở hữu trí tuệ là một bộ phận của hệ
thống đa quốc gia thuộc WTO.
Hiệp định trên đây đã lấy lại hầu hết các điều khoản quy định của các
công ước quốc tế cơ bản điều chỉnh lĩnh vực này, đó là:
- Công ước BERNE về quyền sở hữu văn học và nghệ thuật, có nghĩa
là quyền tác giả và những quyền đi kèm.
- Công ước PARIS về quyền sở hữu công nghiệp, có nghĩa là quyền
sở hữu về nhãn hiệu, về xuất xứ địa lý, về mẫu mã công nghiệp và bằng
sáng chế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status