các bài hán văn trong chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN


CÁC BÀI HÁN VĂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

GVHD: TH.S HUỲNH VĂN MINH
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2016

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN


CÁC BÀI HÁN VĂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

GVHD: TH.S HUỲNH VĂN MINH
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4

TÁC PHẨM:
1. CHINH PHỤ NGÂM(LỚP 10)
2. KHUÊ OÁN (LỚP 10)
3. VỌNG NGUYỆT (LỚP 8)

hoặc nặng tày non cũng có khi nhẹ tựa lông hồng, mà đã là đấng nam nhi thì
thường giữ chí "tang bồng hồ thỉ". Lại dạy kẻ nữ nhi khi đã thành gia thất phải lo
nội trợ tề gia, khi chồng đi chinh chiến, ở nhà phải lo nuôi già dạy trẻ, hiếu nghĩa
trọn phần. Lời giáo huấn phận sự làm trai làm gái đều có ý nghĩa chính đáng, lời lẽ
ôn hòa.
4


Tác giả mượn người chinh phụ để viết bài Chinh Phụ Ngâm, trong đó có hai ý
tưởng: Một là cảm xúc nỗi chinh chiến và biệt ly đã diễn nên nhiều đau khổ và
mong được hòa bình. Hai là phấn chí anh hùng, giục lòng quyết thắng, giữ dạ trung
kiên, đem lòng hứa quốc.
2. BẢN CHỮ NÔM TRONG SGK
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương !
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Lòng này gửi gió đông có tiện,



晝晝晝晝晝晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝晝晝晝晝晝

晝晝晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝晝晝晝

晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝
晝晝晝晝晝

3.2. Lý giải văn bản chữ Hán

7


• Nhan đề : Chinh phụ ngâm

 

- 晝晝 (chinh phụ): người phụ nữ có chồng đi chinh chiến
- 晝 (ngâm): Ngâm. Ðọc thơ đọc phú kéo giọng dài ra gọi là ngâm, như ngâm nga
=> Dịch nghĩa nhan đề: Bài thơ ngâm về người chinh phụ
=> Phân tích nhan đề: Đây là một cụm danh từ, trong đó “ngâm” là thành tố
chính, “chinh phụ” là bổ ngữ cho “ngâm”


晝 (Trụy): rơi, rụng
=> Dịch là “uể oải”

=> Dịch nghĩa câu 1: (Trong) khung cảnh ban ngày âm u, (người chinh phụ)
đi lại uể oải trong căn phòng (lúc) ban trưa.
=> Phân tích câu 1:
Đây là câu khuyết chủ ngữ, nhưng người đọc có thể tự hiểu chủ ngữ ở đây là
người chinh phụ. Chữ “hành” là động từ chính trong câu.
“Trú trầm trầm” là một cụm chủ vị, trong đó “trú” là chủ ngữ và “trầm trầm”
là vị ngữ. Cụm chủ vị “trú trầm trầm” đảm nhiệm chức năng làm trạng ngữ trong
câu
Cụm “ngọ viện hành như trụy” là một kết cấu đảo bổ ngữ lên trước động từ,
cụ thể là “ngọ viện” là bổ ngữ chỉ nơi chốn của động từ “hành” được đảo lên trên.
Trong “ngọ viện” thì “ngọ” bổ nghĩa cho “viện”. Trong “hành như trụy” thì
“như” là quan hệ từ nên không phân tích, “trụy” là bổ ngữ của “hành”.

• Câu 2: Tịch âm âm, tương liêm quyển hựu thùy

9


晝 晝晝 晝 晝 晝 晝 晝

- 晝(Tịch) : buổi tối, đêm/ tiếp kiến ban đêm/ vẹo
- 晝(Âm): số âm / phần âm, trái với dương / dầm dìa / mặt núi quay về phía bắc gọi
là âm / chiều sông phía nam gọi là âm / bóng mặt trời / chỗ rợp / mặt trái, mặt sau /
ngầm / nơi u minh
=>晝晝 (Âm âm) : khung cảnh âm u
- 晝 (Tương): sông Tương

- 晝 (Đầu): đầu lâu/ ở vị trí cao nhất/ người đầu sỏ/ tiếng dùng để đếm các con vật
- 晝 (Vô): không
-晝 (Thước): con chim bồ các, chim khách
-

晝 (Báo): báo, trả/ đáp lại/ quả báo/ bảo cho rõ/ vội vã

=> Dịch nghĩa câu 3: Nhìn ra ngoài rèm (thấy) mặt trời đã lên (nhưng) trên
đầu cành chẳng có chim thước báo tin
=> Phân tích câu 3:
11


Đây là câu khuyết chủ ngữ mà người đọc cũng có thể tự hiểu chủ ngữ là
người chinh phụ. Động từ chính trong câu là “khuy”, và nó có hai bổ ngữ “liêm
ngoại” và “nhật xuất chi đầu vô thước báo”.
Cụm “Liêm ngoại” đóng vai trò làm bổ ngữ thứ nhất cho động từ “khuy”,
trong đó “ngoại” là chính, “liêm” bổ nghĩa cho “ngoại”.
Cụm “nhật xuất chi đầu vô thước báo” có kết cấu như một câu tồn tại. Trong
đó “nhật xuất” là trạng ngữ chỉ thời gian và “chi đầu” là trạng ngữ chỉ nơi chốn.
Trong “nhật xuất” thì “nhật” là chủ ngữ, “xuất” là vị ngữ. Trong “chi đầu” thì “chi”
bổ nghĩa cho “đầu”. Trong “vô thước báo” thì “vô” là động từ chính, “thước báo”
lại là một cụm chủ vị nhỏ.

• Câu 4: Liêm trung tọa dạ lai tâm sự chi đăng tri

晝晝晝晝晝晝晝晝晝晝

-晝 (Trung): trong/ ở giữa
- 晝 (Tọa): ngồi/ buộc tội/ nhân vì/ cố giữ/ được tự nhiên/ không nhọc nhằn gì mà

• Câu 5: Đăng tri nhược vô tri

晝晝晝晝晝

13


CN VN1

VN2

- 晝 (Nhược): thuận/ mày, ngươi/ như, tự nhiên, giống/ bằng/ kịp, hoặc/ thần
nhược, thần bể
=> Dịch nghĩa câu 5: Đèn có biết cũng như không biết
=> Phân tích câu 5:
Đây là câu có 2 vị ngữ là “tri” và “vô tri”, còn chủ ngữ là “đăng”.
Từ “tri” là vị ngữ thứ nhất cho “đăng”, sau đó “vô tri” (có “vô” là thành tố
chính, “tri” bổ nghĩa cho “vô”) làm vị ngữ thứ hai.

• Câu 6: Thiếp bi chỉ tự bi

晝晝晝晝晝

-晝 (Thiếp): nàng hầu/ vợ lẽ/ tiếng con gái tự xưng kiểu nhún mình
-晝 (Bi): đau, thương xót
-晝 (Tự): bởi/ chính mình/ tự nhiên
=>Dịch nghĩa câu 6: Thiếp đau xót chỉ mình thiếp mà thôi
=> Phân tích câu 6:
Đây cũng là câu có 2 vị ngữ như câu 5. Trong đó “thiếp” là chủ ngữ, “bi” là
vị ngữ thứ nhất, “chỉ tự bi” là vị ngữ thứ hai. Và câu này được đặt trong nghệ thuật

được nối với nhau bằng kết từ “hựu”. Từ “hề” là một trợ ngữ, thường được
dùng trong văn cổ nên nhóm không phân tích. Cụm từ “cánh vô ngôn” bổ
nghĩa cho “bi hựu bi”.

15


Trong “cánh vô ngôn” thì “cánh” là chính, “vô” bổ nghĩa cho “ngôn”, ý chỉ
đau xót đến mức độ chẳng ngôn từ nào có thể diễn tả.
• Câu 8: Đăng hoa nhân ảnh tổng kham lân

晝晝晝晝晝晝晝

- 晝 (Ảnh): bóng/ tấm ảnh
- 晝 (Tổng): góp, họp, tóm/ tết tóc/ đứng đầu, cầm đầu/ họp mấy làng lại làm một
tổng/ bó dạ/ hết đều/ cái trang sức xe, ngựa
-晝(Kham): chịu được
-晝 (Lân): thương
=> Dịch nghĩa câu 8: Hoa đèn và bóng người hết thảy đều đáng thương
=> Phân tích câu 8:
Đây là một câu đơn bình thường, trong đó có 2 chủ ngữ đẳng lập là “đăng
hoa” và “nhân ảnh”, vị ngữ là “tổng kham lân”. Trong chủ ngữ, “đăng” bổ nghĩa
cho “hoa”, “nhân” bổ nghĩa cho “ảnh”. Trong vị ngữ, “tổng” là phó từ chỉ tổng thể,
bổ nghĩa cho “kham lân”. Động từ chính của c6au là “kham”, “lân” làm bổ ngữ
cho “kham”.

• Câu 9: Y ác kê thanh thông ngũ dạ

晝晝 晝 晝 晝 晝 晝
16

ngấm ngần/ nơi u ám, đen tối
-晝
+ (Độ): đồ đo/ chia góc đồ tròn/ phép đã chế ra (chế độ)/ độ lượng/ dáng
dấp, thái độ/ qua/ sang tới
+ (Đạc): mưu toan, bàn tính/ đo lường
-晝 (Chuyên): gạch đã nung chín vật có hình thể như viên gạch
=> Dịch nghĩa câu 10: Bóng cây hòe phất phơ đã quá ô gạch thứ tám
=> Phân tích câu 10:
Đây là một câu đơn bình thường, “phi phất hòe âm” là chủ ngữ, “độ bát
chuyên” là vị ngữ. Trong chủ ngữ, “phi phất” là tính từ, bổ nghĩa cho “hòe âm”, và
“hòe” lại là bổ ngữ của “âm”. Trong vị ngữ, động từ chính là “độ”, “bát” bổ nghĩa
cho “chuyên” và “bát chuyên” làm bổ ngữ của “độ”.
Hình ảnh bóng cây hòe đã rũ quá ô gạch thứ tám trong câu này có mượn
điển tích, ý chỉ là thời gian đã rất muộn.

• Câu 11: Sầu tự hải, khắc như niên

晝晝晝晝晝晝
- 晝 (Sầu) : Sầu, lo, buồn thảm / Kêu thương, thảm đạm
- 晝 (Tự): giống như / con cháu/ Hầu hạ / Tựa như (lời nói chưa quyết hẳn)

18


- 晝 (Hải): bể rộng, biển
- 晝 (Khắc): khắc, lấy dạo chạm trổ vào cái gì gọi là khắc / Thời khắc / ngay tức
thì / Bóc lột /Sâu sắc
- 晝 (Như): Bằng, như, cùng. Dùng để so sánh / Dùng để hình dung / Lời nói ví
thử / Nài, sao
- 晝 (Niên): Năm/ Tuổi/ Được mùa

(Há): xuống/ cuốn
=> Dịch nghĩa câu 12: Gượng đốt hương, hồn hoa như cũng muốn tiêu tan
dưới ngọn lửa của lò hương.
=> Phân tích câu 12:
Đây là câu ghép đẳng lập. Câu này có 2 vế là “cưỡng nhiên hương” và “hoa
hồn dục tiêu đàn chú hạ”.
Trong vế đầu thì khuyết chủ ngữ, nhưng người đọc có thể tự hiểu chủ ngữ là
người chinh phụ. “Cưỡng nhiên hương” là một cụm động từ, trong đó
“cưỡng” là thành tố chính, “hương” bổ nghĩa cho “nhiên” và “nhiên hương”
bổ nghĩa cho “cưỡng”.
Cụm “hoa hồn dục tiêu đàn chú hạ” là cụm chủ vị, trong đó “hoa hồn” là chủ
ngữ (“hoa” bổ nghĩa cho “hồn”), “dục tiêu đàn chú hạ” là vị ngữ. Từ “dục”
là động từ chính, bổ ngữ của nó là động từ “tiêu”. Trong cụm “đàn chú hạ”
thì “hạ” là thành tố chính, “đàn chú” bổ nghĩa cho “hạ”, và “đàn chú hạ” làm
trạng ngữ cho “hoa hồn dục tiêu”.
• Câu 13: Cưỡng lâm kính ngọc cân không trụy lăng hoa tiền

晝 晝 晝 晝 晝  晝 晝晝 晝

20


-



(Lâm): ở trên soi xuống / tới / kịp
(Lấm) : mọi người cùng khóc

-

21


• Câu 14: Cưỡng viên cầm chỉ hạ kinh đình loan phượng trụ

晝 晝 晝 晝 晝 晝 晝 晝晝 晝

-晝

(viên): vin/ kéo, dắt
(viện): cứu giúp (viện trợ)

- 晝 (cầm): cái đàn cầm
- 晝 (Chỉ): ngón tay/ trỏ bảo/ yến chỉ/ chỉ trích/ tính số người bao nhiêu
- 晝(Kinh): ngựa sợ hãi/ sợ/ chứng sài, sợ hãi quá độ (động kinh)
-

晝(Đình): dừng, ngừng

-

晝晝 (Loan phượng): chim loan, chim phượng

- 晝 + (Trụ): cái cột, người mà nhà nước trông cậy nhiều/ giữ gìn chống chỏi với
cuộc nguy biến gọi là trung lưu chỉ trụ/ phím đàn
+ (Trú): chóng chỏi
=> Dịch nghĩa câu 14: Gượng đánh đàn (nhưng) ngón tay hạ xuống sợ làm
phím loan phụng (đứt dây mà) ngưng tiếng
=> Phân tích câu 14:
Câu 14 cũng là câu ghép chính phụ, có hai vế, vế thứ nhất là “cưỡng viên

+ (Trúng): tin / bị phải / hợpcách
+ (Trọng): giữa
- 晝 (Át): ngăn cấm
- 晝晝 (Uyên ương): một giống chim ở nước hình như con vịt mà bé (con
le), con đực là uyên, con cái là ương
- 晝 (Huyền): dây đàn/ xe tơ sống xát keo vào để làm dây đàn gọi là huyền/
vợ chết là đoạn huyền, lấy vợ nữa là tục huyền
23


=> Dịch nghĩa câu 15: Gượng đánh đàn, trong khúc nhạc (cảm thấy) đau
buồn (vì) dây uyên ương bị chia cắt
=> Phân tích câu 15:
Câu 15 là câu đơn nhưng cũng có 2 vế, vế thứ nhất là “cưỡng điều sắt”, vế
thứ hai là “khúc trung bi át uyên ương huyền”. Trong đó vế sau mới là chính.
Và đây là câu khuyết chủ ngữ nhưng người đọc có thể hiểu chủ ngữ là người
chinh phụ.
Trong “cưỡng điều sắt” thì “cưỡng” là động từ chính, “sắt” là bổ nghĩa cho
“điều” và “điều sắt” bổ nghĩa cho “cưỡng”.
Trong vế thứ hai, “khúc trung” là trạng ngữ (“trung” là thành tố chính), “bi”
là động từ chính, “át uyên ương huyền” là bổ ngữ của “bi”, chỉ nguyên nhân
vì sao. Trong “át uyên ương huyền” thì “át” là động từ chính, “uyên ương”
bổ nghĩa cho “huyền” và “uyên ương huyền” là bổ ngữ của “át”.

• Câu 16: Thử ý xuân phong nhược khẳng truyền

晝晝晝晝晝晝 晝

- 晝 (Thử): ấy / thế ( lời nói chỉ định hẳn hoi) / ấy ( bèn)
- 晝 (Ý): ý kiến, suy nghĩ


- 晝 (Thiên): nghìn/ rất mực
- 晝 (Kim): loài kim / vàng / tiền / tiếng kim / đồ binh / sắc vàng / bền / các bặc
tôn quý
=> 晝



chỉ hết thảy tình cảm

-晝 (Tá) : mượn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status